Chương 1: Phần một
Râu Xoăn, gã lang thang, lách người lần tới bên quầy đồ ăn miễn phí. Gã bắt gặp một cái liếc thoáng qua của người pha rượu, liền đứng im, cố ra vẻ một doanh nhân vừa dùng bữa tối ở khách sạn Men-gơ và đang đợi một người bạn đã hứa sẽ lái xe hơi tới đón. Tài diễn xuất của Râu Xoăn thừa sức đóng vai ấy, nhưng phần hoá trang thì thiếu.
Người pha rượu thong thả đi vòng ra khỏi quầy, mắt nhìn lên trần như đang suy nghĩ một bài toán phức tạp nào đó về việc quét vôi, rồi bất ngờ lao vào Râu Xoăn nhanh tới mức gã lang thang chẳng kịp chuẩn bị lời bào chữa nào. Không gì cưỡng lại được, nhưng điềm tĩnh tới mức gần như là lơ đãng, kẻ phân phát rượu đẩy Râu Xoăn tới cánh cửa lò xo và đá gã ra ngoài, với một vẻ thờ ơ gần như buồn bã. Miền Tây Nam là thế.
Râu Xoăn thong thả đứng dậy khỏi rãnh nước. Gã không giận, cũng không oán người đã tống mình ra. Mười lăm năm làm kẻ lang thang trong hai mươi hai năm đời gã đã làm chai cứng những thớ sợi tâm hồn. Những mũi tên hòn đá của số phận phũ phàng rơi xuống cùn cả, vì gặp tấm khiên lòng tự trọng bọc giáp của gã. Gã đặc biệt nhẫn nhục chịu đựng sự khinh miệt và đòn đau từ tay những người pha rượu. Lẽ tự nhiên họ là kẻ thù của gã, và trái lẽ tự nhiên, họ lại thường là bạn gã. Gã đành phải trông vào vận may với họ. Nhưng gã chưa học được cách đánh giá những hiệp sĩ cầm vồ mở thùng rượu ở miền Tây Nam này, điềm tĩnh, uể oải, có phong thái của một ông bá tước, và khi không ưa sự có mặt của bạn, họ dời bạn đi lặng lẽ và gọn gàng như một cỗ máy đánh cờ đẩy một quân tốt.
Râu Xoăn đứng mấy phút trên con phố hẹp lát gỗ cây gai. San An-tô-ni-ô làm gã bối rối, bất an. Ba ngày nay gã là vị khách không trả tiền của thành phố, gã nhảy xuống đây từ một toa chở hàng, vì thằng Giôn-ni đã bảo gã ở Đơ Moan rằng thành phố này có bánh từ trời rơi xuống, được nhặt, nấu và dọn ra không mất tiền, kèm cả kem và đường. Râu Xoăn thấy lời mách nước ấy đúng một phần. Lòng hiếu khách thì dồi dào, theo kiểu xuề xoà, rộng rãi, thất thường. Nhưng sau những gì từng trải ở các thành phố hối hả, chuyên nghiệp, ngăn nắp của miền Bắc và miền Đông, chính thành phố này đè nặng lên tinh thần gã. Ở đây người ta hay ném cho gã một đồng đô-la, nhưng cũng hay kèm theo một cú đá thân thiện. Có lần một toán cao bồi vui tính đã quăng thòng lọng bắt gã ở quảng trường Quân Đội, rồi kéo lê gã qua mặt đất đen cho tới khi chẳng cái túi giẻ rách đàng hoàng nào chịu nhận bộ quần áo của gã. Những con phố quanh co, vòng vèo, chẳng dẫn tới đâu, làm gã hoa mắt. Lại còn một con sông nhỏ, ngoằn ngoèo như cái móc treo nồi, bò qua giữa thành phố, với hàng trăm cây cầu nhỏ giống nhau tới mức làm Râu Xoăn phát cáu. Còn gã pha rượu vừa rồi thì đi giày cỡ bốn mươi lăm.
Quán rượu đứng ở góc phố. Lúc ấy là tám giờ tối. Người về nhà và người đi chơi xô đẩy Râu Xoăn trên vỉa hè đá hẹp. Giữa những toà nhà bên tay trái, gã nhìn xuống một khe hở tự xưng là một con đường khác. Con hẻm tối om, chỉ có một vệt sáng. Chỗ nào có ánh sáng thì chắc chắn có người. Chỗ nào có người sau khi trời tối ở San An-tô-ni-ô thì có thể có đồ ăn, và chắc chắn có rượu. Thế là Râu Xoăn đi về phía ánh sáng.
Ánh sáng toả ra từ quán của Xuê-gơn. Trên vỉa hè trước quán, Râu Xoăn nhặt được một cái phong bì cũ. Có thể trong đó từng có tấm séc một triệu. Nó trống không, nhưng gã lang thang đọc được địa chỉ, "Ông Ốt-tô Xuê-gơn", cùng tên thành phố và tên bang. Dấu bưu điện là Đi-troi.
Râu Xoăn bước vào quán. Lúc này, dưới ánh đèn, người ta thấy gã mang dấu ấn của bao năm lang bạt. Gã chẳng có chút gọn gàng nào của tay lang thang nhà nghề, khôn ngoan, biết tính toán. Tủ quần áo của gã là những mẫu đồ thải loại của nửa tá thời trang và thời đại. Hai nhà máy đã chung sức sản xuất giày cho đôi chân gã. Nhìn gã, trong đầu bạn thoáng qua những ấn tượng mơ hồ về xác ướp, tượng sáp, người bị lưu đày, những kẻ lạc trên đảo hoang. Mặt gã phủ kín gần tới tận mắt một bộ râu nâu xoăn mà gã tỉa ngắn bằng con dao nhíp, và chính bộ râu ấy đã cho gã cái tên giang hồ. Đôi mắt xanh nhạt, đầy hờn dỗi, sợ hãi, xảo quyệt, trơ tráo và khúm núm, là bằng chứng về những áp lực đã đè lên tâm hồn gã.
Quán nhỏ, trong bầu không khí ấy mùi thịt và mùi rượu tranh nhau thống trị. Mùi thịt lợn với bắp cải vật lộn với hơi nước. Sau quầy, Xuê-gơn đang làm việc cùng một người phụ việc mồ hôi nhễ nhại. Xúc xích nóng và dưa cải bắp được dọn cho những người mua bia. Râu Xoăn lê tới cuối quầy, ho khan một tiếng trống rỗng, rồi bảo Xuê-gơn rằng mình là thợ đóng tủ ở Đi-troi đang thất nghiệp.
Thế là, như ngày tiếp nối đêm, gã được một vại bia lớn và bữa ăn.
"Anh có quen Hai-rích Xtrao-xơ ở Đi-troi không?" Xuê-gơn hỏi.
"Tôi có quen Hai-rích Xtrao-xơ không à?" Râu Xoăn nhắc lại, trìu mến. "Trời đất, ông bạn ơi, ước gì tôi có một đô-la cho mỗi ván bài tôi với thằng Hai chơi những chiều chủ nhật."
Thêm bia và một đĩa đồ ăn thứ hai bốc khói được đặt trước mặt nhà ngoại giao. Rồi Râu Xoăn, vốn biết chính xác tới từng giọt một mánh lừa đi được bao xa, lê bước ra con phố chẳng hứa hẹn gì.
Giờ gã bắt đầu nhận ra những bất tiện của cái thành phố miền Nam xây bằng đá này. Chẳng có chút vui nhộn, rực rỡ, âm nhạc ngoài trời nào giúp ngay cả người nghèo nhất ở các thành phố miền Bắc giải khuây. Ở đây, dù mới sớm thế này, những ngôi nhà tường đá u ám đã đóng chặt, cài then chống lại hơi ẩm mù mịt của đêm. Phố xá chỉ là những khe nứt cho những dải sương sông xám chảy qua. Vừa đi, gã vừa nghe sau những ô cửa sổ tối om tiếng cười, tiếng tiền và phỉnh cờ bạc lách cách, và tiếng nhạc lọt ra từ mọi kẽ gỗ kẽ đá. Nhưng những thú vui ấy là của riêng. Thời của những trò giải trí đại chúng vẫn chưa tới San An-tô-ni-ô.
Nhưng rồi, lang thang mãi, Râu Xoăn rẽ qua góc nhọn của một con phố lạc lõng khác, và gặp một toán chủ trại chăn nuôi ở các vùng xa đang ăn mừng ngoài trời trước một khách sạn gỗ cổ kính. Một gã ăn chơi to lớn từ vùng nuôi cừu, vừa khởi xướng một cuộc kéo nhau vào quầy rượu, đã lùa luôn Râu Xoăn vào như một con dê lạc cùng với cả đàn. Các ông hoàng bò và len hoan hô gã như một phát hiện mới của động vật học, và ầm ĩ cố ngâm gã, như người ta ngâm mẫu vật trong cồn, bằng thứ rượu pha loãng của những lời khen tặng và quan tâm.
Một giờ sau, Râu Xoăn loạng choạng rời quầy rượu khách sạn, bị những người bạn hay thay đổi đuổi đi, vì mối quan tâm của họ tới gã tắt nhanh như khi nó bùng lên. No nê, nạp đầy nhiên liệu rượu và chất đầy đồ ăn, câu hỏi duy nhất còn làm gã băn khoăn là chỗ trú và giường ngủ.
Một cơn mưa Tếch-dát lạnh lẽo, lất phất bắt đầu rơi, một thứ mưa dai dẳng, uể oải, không ngớt, làm tinh thần con người chùng xuống và làm bốc lên một làn hơi miễn cưỡng từ những phiến đá còn ấm của phố xá, nhà cửa. Cơn gió bấc đến như thế đấy, dội ướt mùa xuân hiền hoà và mùa thu dễ chịu bằng những lời chào tới và chào đi lạnh buốt của mùa đông sắp tới và sắp đi.
Râu Xoăn theo mũi mình đi xuôi con phố ngoằn ngoèo đầu tiên mà đôi chân vô trách nhiệm đưa gã tới. Ở cuối phố, bên bờ con sông uốn khúc, gã thấy một cánh cổng mở trên bức tường đá trát vữa. Bên trong gã thấy những đống lửa trại và một dãy lán gỗ thấp dựng tựa vào ba phía tường bao. Gã bước vào. Dưới những mái lán, nhiều con ngựa đang nhai yến mạch và ngô. Nhiều xe ngựa, xe tải nhẹ đậu rải rác, bộ yên cương quăng bừa lên càng xe và đòn ngang. Râu Xoăn nhận ra đây là một bãi đậu xe, loại mà các nhà buôn dành cho bạn bè và khách hàng ở xa tới. Chẳng thấy ai. Hẳn những người đánh xe đang tản mát khắp thành phố "xem voi, nghe cú", tức là đi chơi bời. Trong lúc vội vàng tới làm khách của những chốn vui chơi và ăn uống trong thành phố, mấy người đi sau cùng hẳn đã để cánh cổng gỗ lớn mở toang.
Râu Xoăn đã thoả mãn cơn đói của một con trăn và cơn khát của một con lạc đà, nên gã chẳng có tâm trạng hay tình trạng của một nhà thám hiểm. Gã đi chữ chi tới chiếc xe đầu tiên mắt gã phân biệt được trong bóng tối lờ mờ dưới mái lán. Đó là một chiếc xe hai ngựa, mui bằng vải bạt trắng. Xe chất lưng chừng những đống bao đựng len để rời, hai ba bọc chăn xám to tướng, cùng nhiều kiện, gói và thùng. Một con mắt biết suy luận sẽ ước đoán ngay đó là hàng tiếp tế cho trang trại, sáng mai sẽ chở về một điền trang nào đó ở xa. Nhưng với trí óc ngái ngủ của Râu Xoăn, chúng chỉ là sự ấm áp, êm ái và che chở khỏi cái ẩm lạnh của đêm. Sau mấy lần thử không may, rốt cuộc gã cũng thắng được trọng lực tới mức leo qua bánh xe được, rồi ngã chúi xuống chiếc giường êm nhất, ấm nhất mà gã từng ngã xuống trong bao ngày qua. Rồi theo bản năng, gã thành một con vật đào hang, đào đường như con chó đồng cỏ xuống giữa đám bao len và chăn, náu mình khỏi khí lạnh, ấm áp và an toàn như con gấu trong hang. Suốt ba đêm, giấc ngủ chỉ tới thăm Râu Xoăn từng liều vụn vặt, run rẩy. Vì thế lúc này, khi thần Ngủ hạ cố ghé thăm, Râu Xoăn ghì chặt ông lão thần thoại ấy tới mức thật lạ là còn ai khác trên thế gian chợp mắt được đêm ấy.
Sáu chàng cao bồi của trại Xi-bô-lô đang chờ quanh cửa cửa hàng của trại. Ngựa của họ gặm cỏ gần đó, buộc theo kiểu Tếch-dát, tức là chẳng buộc gì cả. Dây cương của chúng được thả xuống đất, và đó là cách giữ ngựa hiệu quả hơn, sức mạnh của thói quen và tưởng tượng là thế, so với bất cứ cách nào bạn có thể nghĩ ra với một sợi thừng to bằng ngón tay và một gốc sồi.
Những người canh giữ đàn bò ấy đứng ngồi uể oải, mỗi người cầm một tờ giấy cuốn thuốc màu nâu, nhẹ nhàng mà không ngớt chửi rủa Xam Rê-ven, người trông cửa hàng. Xam đứng ở cửa, bật tanh tách những sợi dây chun đỏ trên tay áo sơ-mi vải hồng, và nhìn xuống đầy âu yếm đôi giày màu nâu vàng duy nhất trong vòng bán kính bốn mươi dặm. Tội của anh ta khá nặng, và anh ta đang giằng co giữa việc khiêm nhường xin lỗi và việc ngưỡng mộ vẻ đẹp của bộ cánh mình. Anh ta đã để kho thuốc lá hút của trại cạn sạch.
"Tôi cứ đinh ninh dưới quầy còn một thùng nữa, các anh ạ," anh ta giải thích. "Nhưng hoá ra lại là thùng đạn."
"Mày đúng là mắc bệnh 'hoá ra' rồi," Rô-giơ Lề Mề, người tuần rào của bãi chăn Lác-gô Véc-đê, nói. "Phải có ai đó hoá ra lấy cán roi gõ cho mày một cái vào đầu. Tao cưỡi ngựa chín dặm tới đây mua thuốc lá, và tao thấy để mày sống tiếp thì chẳng tự nhiên, chẳng hợp lẽ chút nào."
"Lúc tôi đi, anh em đang hút thuốc lá thái trộn lá cây gai phơi khô," Tay-lơ Ngựa Hoang, người coi ngựa của trại Ba Cây Du, thở dài. "Họ trông tôi về lúc chín giờ. Họ sẽ ngồi chờ, giấy cuốn sẵn trong tay, để hút một hơi thuốc thật trước khi đi ngủ. Thế mà tôi phải bảo họ rằng cái thằng mắt hồng, đầu cừu, chân lưu huỳnh, mặc áo sơ-mi đàn bà, con của một con ngựa khoang vải hoa, Xam Rê-ven ấy, chẳng có tí thuốc lá nào."
Grê-gô-ri-ô Phan-côn, người chăn bò gốc Mê-hi-cô và tay quăng thòng lọng giỏi nhất trại Xi-bô-lô, đẩy chiếc mũ rơm vành rộng nặng trịch thêu chỉ bạc ra sau mớ tóc xoăn đen nhánh rậm như bụi cây, và vét đáy túi tìm vài vụn thứ lá quý giá.
"À, ông Xam," anh ta nói, đầy trách móc mà vẫn giữ chút lễ độ kiểu Tây Ban Nha, "xin lỗi ông. Người ta bảo con thỏ rừng với con cừu có ít... ông gọi là gì nhỉ... ít óc nhất. Tôi không tin thế đâu, ông Xam, xin lỗi ông. Tôi nghĩ những người không giữ thuốc lá hút ấy, họ... nhưng ông sẽ tha lỗi cho tôi, ông Xam."
"Thôi, cằn nhằn mãi làm gì, các anh," Xam nói, chẳng chút bận tâm, cúi xuống lấy chiếc khăn tay đỏ vàng lau mũi giày. "Hôm thứ ba cậu Ran-xơ đã mang đơn đặt thêm thuốc lá đi San An-tôn rồi. Hôm qua Pan-chô cưỡi ngựa của cậu Ran-xơ về, còn cậu ấy sẽ tự đánh xe về. Hàng chẳng có bao nhiêu, chỉ ít bao len, chăn, đinh, đào hộp và mấy thứ ta hết. Tôi chắc chắn hôm nay cậu Ran-xơ sẽ về. Cậu ấy đi sớm, đánh xe nhanh như ma đuổi, chắc khoảng gần lúc mặt trời lặn là tới."
"Cậu ấy đánh cặp ngựa nào?" Tay-lơ Ngựa Hoang hỏi, giọng thoáng hy vọng.
"Cặp ngựa xám kéo xe nhẹ," Xam nói.
"Thế thì tao chờ một lát," người coi ngựa nói. "Cặp ngựa ấy ngốn đường như con chim cu chạy nuốt con rắn roi. Mày mở cho tao một hộp mận xanh đi Xam, trong lúc tao chờ thứ gì đó ngon hơn."
"Mở cho tao một hộp đào vàng," Rô-giơ Lề Mề ra lệnh. "Tao cũng chờ."
Những chàng cao bồi không có thuốc lá ngồi thoải mái trên bậc thềm cửa hàng. Bên trong, Xam lấy rìu bổ nắp những hộp hoa quả.
Cửa hàng, một toà nhà gỗ lớn sơn trắng như cái chuồng gia súc, đứng cách nhà chính năm chục thước. Phía sau là những bãi quây ngựa, xa hơn nữa là những lán len và chuồng xén lông lợp cành cây, vì trại Xi-bô-lô nuôi cả bò lẫn cừu. Phía sau cửa hàng, cách một quãng, là những túp lều lợp cỏ của những người làm Mê-hi-cô trung thành với trại Xi-bô-lô.
Nhà chính gồm bốn gian lớn, tường gạch sống trát vữa, và một chái gỗ hai gian. Một hàng hiên rộng sáu thước chạy quanh nhà. Nó nằm giữa một khóm sồi xanh và cây du nước khổng lồ, gần một cái hồ dài, không rộng lắm mà sâu thăm thẳm, nơi mỗi khi chiều xuống, những con cá nhái lớn nhảy vọt lên mặt nước rồi lao xuống ầm ầm như hà mã đùa nghịch khi tắm. Trên cây rủ xuống những vòng hoa và những tua dày của thứ rêu xám u sầu miền Nam. Thật vậy, ngôi nhà trại Xi-bô-lô có vẻ miền Nam hơn là miền Tây. Trông nó như thể ông già Tru-xđen "Ki-ô-oa" đã mang nó theo từ vùng đồng bằng Mít-xi-xi-pi khi ông tới Tếch-dát năm năm mươi lăm, khẩu súng trường kẹp trong khuỷu tay.
Nhưng dù không mang theo ngôi nhà của dòng họ, Tru-xđen lại mang theo một thứ di sản gia đình còn bền hơn gạch đá. Ông mang theo một đầu của mối thù truyền kiếp giữa nhà Tru-xđen và nhà Cớt-tít. Và khi một người nhà Cớt-tít mua trại Ôn-mốt, cách Xi-bô-lô mười sáu dặm, thì trên những bãi xương rồng và trong những bụi cây gai miền Tây Nam đã có những thời sôi động. Hồi ấy Tru-xđen đã dọn sạch khỏi bụi rậm bao nhiêu chó sói, mèo rừng và báo sư tử, và một hai người nhà Cớt-tít đã trở thành người thừa kế những vết khắc trên báng súng của ông. Ông cũng đã chôn một người anh em mang trong mình viên đạn nhà Cớt-tít bên bờ hồ ở Xi-bô-lô. Rồi người da đỏ Ki-ô-oa mở cuộc tấn công cuối cùng vào các trang trại giữa sông Phri-ô và sông Ri-ô Gran-đê, và Tru-xđen dẫn đầu đội kỵ binh biên phòng của mình đánh đuổi họ, từ đó mà có biệt danh. Rồi phồn vinh tới, dưới dạng những đàn bò ngày một đông và những cánh đồng ngày một rộng. Rồi tới tuổi già và cay đắng, khi ông ngồi trên hàng hiên rợp bóng ở Xi-bô-lô, với bờm tóc trắng như hoa giáo Tây Ban Nha và đôi mắt xanh nhạt dữ dội, gầm gừ như những con báo sư tử ông từng giết. Ông búng tay khinh thường tuổi già, vị đắng của cuộc đời không đến từ đó. Cái chén đắng khiến ông nghẹn nơi môi là việc đứa con trai duy nhất của ông, Ran-xơm, muốn cưới một người nhà Cớt-tít, người trẻ tuổi cuối cùng còn sống sót của đầu bên kia mối thù.
Một lúc, những âm thanh duy nhất nghe được ở cửa hàng là tiếng thìa sắt tây lách cách, tiếng các chàng cao bồi húp xì xụp những miếng hoa quả mọng nước, tiếng vó những con ngựa đang gặm cỏ, và tiếng Xam hát một bài ai oán trong khi mãn nguyện chải mái tóc hung cứng đơ lần thứ hai mươi trong ngày trước một tấm gương gợn sóng.
Từ cửa cửa hàng có thể thấy dải thảo nguyên dốc thoai thoải, gồ ghề về phía nam, với những bãi cây gai xanh nhạt gợn sóng ở chỗ trũng, và những gò cao đội những khối cây bụi thấp đen sẫm. Con đường của trại uốn khúc qua bãi cây gai, năm dặm phía xa thì hoà vào con đường cái quan cũ đi San An-tô-ni-ô. Mặt trời đã xuống thấp tới mức gò đất thấp nhất cũng đổ bóng xám dài hàng dặm vào biển nắng xanh vàng.
Chiều hôm ấy tai nhanh hơn mắt.
Người chăn bò Mê-hi-cô giơ một ngón tay màu nâu vàng lên ra hiệu ngưng tiếng sắt tây cạo vào nhau.
"Một chiếc xe," anh ta nói, "đang qua khe Hôn-đô. Tôi nghe tiếng bánh xe. Khe Hôn-đô nhiều đá lắm."
"Tai anh thính thật, Grê-gô-ri-ô," Tay-lơ Ngựa Hoang nói. "Tôi chẳng nghe gì ngoài tiếng chim hót trong bụi với tiếng gió hiu hiu thổi qua thung lũng thanh bình."
Mười phút sau Tay-lơ nhận xét: "Tôi thấy bụi một chiếc xe đang bốc lên ngay trên đầu xa của bãi cây gai."
"Mắt ông tốt lắm, thưa ông," Grê-gô-ri-ô mỉm cười nói.
Cách hai dặm, họ thấy một đám mây mờ nhạt làm mờ những gợn sóng xanh của bãi cây gai. Hai mươi phút sau họ nghe tiếng vó ngựa lộp cộp. Năm phút nữa, cặp ngựa xám phóng ra khỏi bụi rậm, hí lên đòi yến mạch, kéo chiếc xe nhẹ theo sau như món đồ chơi.
Từ những túp lều vang lên tiếng reo: "Cậu chủ! Cậu chủ!" Bốn cậu thanh niên chạy đua ra tháo yên cương cho cặp ngựa xám. Các chàng cao bồi hò reo chào đón, mừng rỡ.
Ran-xơ Tru-xđen, tức Ran-xơm, cậu con trai ông chủ trại, người đánh xe, ném dây cương xuống đất và bật cười.
"Ở dưới tấm bạt ấy, anh em," cậu nói. "Tôi biết các anh đang chờ cái gì. Nếu Xam lại để hết lần nữa thì ta lấy đôi giày vàng của cậu ta làm bia tập bắn. Có hai thùng đấy. Lôi ra mà hút đi. Tôi biết ai cũng đang thèm."
Khi tới vùng khô ráo, Ran-xơ đã tháo tấm bạt khỏi khung mui và trùm nó lên hàng hoá trên xe. Sáu đôi tay vội vã kéo tấm bạt ra, lục lọi dưới những bao len và chăn tìm hai thùng thuốc lá.
Côn-lin Dài, người được trại Xan Ga-bri-en cử đi lấy thuốc lá, người cưỡi ngựa với bàn đạp dài nhất phía tây sông Mít-xi-xi-pi, thọc vào một cánh tay dài như càng xe. Anh ta chạm vào một vật cứng hơn tấm chăn và lôi ra một thứ khủng khiếp, một búi da bùn đất, chẳng ra hình thù gì, buộc túm bằng dây kẽm và dây gai. Từ cái đầu rách tả tơi của nó, như đầu và vuốt của một con rùa bị quấy rầy, thò ra những ngón chân người.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn