Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Nơi lưu đày

của Anton Chekhov

⏱ 21 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 18.776 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ông già Xê-miôn, biệt danh là Thạo Đời, và…
  2. 2:00Rồi mày sẽ quen! Bây giờ mày còn trẻ,…
  3. 11:00Tốt cái gì?
  4. 13:03Chà, chuyện đời, chuyện đời! Rượu hết sạch rồi,…
  5. 15:29Sang đi-i! Thuyền đò ơ-ơi!
  6. 17:52Người ta kéo cỗ xe ngựa lên xà lan…
  7. 19:54Mọi người cười ồ. Anh chàng Tác-ta nhăn mặt…
  8. 20:41Cái gì thế? Ai ngoài ấy thế?

Ông già Xê-miôn, biệt danh là Thạo Đời, và một anh chàng người Tác-ta trẻ tuổi mà chẳng ai biết tên, ngồi bên đống lửa trên bờ sông. Ba người lái đò còn lại thì ở trong lều. Xê-miôn, một ông già chừng sáu mươi, gầy gò, rụng hết răng, nhưng vai rộng và trông vẫn còn khoẻ, đang say. Lẽ ra lão đã đi ngủ từ lâu, nhưng trong túi lão còn một chai rượu, và lão sợ bọn thanh niên trong lều xin rượu của mình. Anh chàng Tác-ta thì ốm, mệt lả, quấn chặt mớ giẻ rách vào người, kể rằng ở tỉnh Xim-biếc-xcơ quê anh đẹp biết bao, và người vợ anh để lại ở nhà xinh đẹp, thông minh biết bao. Anh chừng hai mươi lăm tuổi, không hơn, và giờ đây, dưới ánh lửa, với nước da tái nhợt và gương mặt buồn bã, ốm yếu, anh trông như một cậu bé.

Thạo Đời nói:

— Dĩ nhiên, ở đây chẳng phải thiên đường. Chính mày thấy đấy: nước, bờ trơ trụi, xung quanh toàn đất sét, ngoài ra chẳng có gì… Lễ Phục sinh qua lâu rồi, thế mà trên sông băng vẫn trôi, sáng nay tuyết còn rơi.

Anh chàng Tác-ta nói, hoảng hốt nhìn quanh:

— Xấu! Xấu lắm!

Cách đó chừng mười bước, dòng sông tối đen, lạnh lẽo đang chảy. Nó càu nhàu, vỗ ì oạp vào bờ đất sét lở lói, và lao nhanh về một vùng biển xa xôi nào đó. Sát bờ là bóng đen của một chiếc xà lan lớn, mà dân lái đò gọi là "thuyền đò". Xa xa bên bờ bên kia, những đốm lửa bò ngoằn ngoèo như những con rắn nhỏ, lúc tắt lúc loé: người ta đang đốt cỏ khô năm ngoái. Còn sau những con rắn lửa ấy lại là bóng tối. Nghe tiếng những tảng băng nhỏ va lộc cộc vào xà lan. Ẩm ướt, lạnh lẽo…

Anh chàng Tác-ta nhìn lên trời. Sao cũng nhiều như ở quê anh, xung quanh cũng tối đen như thế, nhưng thiếu một cái gì đó. Ở quê nhà, ở tỉnh Xim-biếc-xcơ, sao trời và bầu trời khác hẳn.

Anh nhắc lại:

— Xấu! Xấu lắm!

Thạo Đời bật cười:

— Rồi mày sẽ quen! Bây giờ mày còn trẻ, còn dại, miệng còn hơi sữa, và vì dại nên mày tưởng chẳng ai bất hạnh hơn mày. Nhưng rồi sẽ đến lúc chính mày phải nói: cầu Chúa cho ai cũng được sống như thế này. Mày nhìn tao đây. Một tuần nữa nước rút, người ta sẽ đặt phà ở đây, chúng mày sẽ đi dạo khắp xứ Xi-bia, còn tao ở lại, và bắt đầu đi qua đi lại từ bờ này sang bờ kia. Hai mươi hai năm nay tao đã đi như thế rồi. Ngày cũng như đêm. Cá chó với cá hồi trắng ở dưới nước, còn tao ở trên mặt nước. Tạ ơn Chúa. Tao chẳng cần gì cả. Cầu Chúa cho ai cũng được sống như thế này.

Anh chàng Tác-ta bỏ thêm củi vào đống lửa, nằm sát vào lửa hơn, rồi nói:

— Bố tôi là người ốm. Khi bố chết, mẹ với vợ sẽ đến đây. Đã hứa rồi.

Thạo Đời hỏi:

— Thế mày cần mẹ với vợ làm gì? Toàn chuyện ngu xuẩn, em ạ. Đấy là con quỷ nó cám dỗ mày, quỷ bắt hồn nó đi. Mày đừng nghe nó, cái đồ khốn kiếp ấy. Đừng cho nó lộng hành. Nó nói với mày chuyện đàn bà, thì mày cứ cố tình trái ý nó: không thèm! Nó nói với mày chuyện tự do, thì mày cứ cứng đầu lên mà bảo: không thèm! Chẳng cần gì cả! Không bố, không mẹ, không vợ, không tự do, chẳng nhà, chẳng cửa! Chẳng cần gì hết, quỷ bắt hồn chúng nó đi!

Thạo Đời tu một ngụm rượu rồi nói tiếp:

— Em ạ, tao chẳng phải thằng nông dân tầm thường, chẳng phải hạng người hèn kém, mà là con trai một thầy giúp lễ ở nhà thờ. Hồi còn tự do sống ở Cuốc-xcơ, tao mặc áo đuôi tôm hẳn hoi. Thế mà giờ tao đã đưa mình đến cái mức có thể trần truồng ngủ trên đất mà ăn cỏ. Và cầu Chúa cho ai cũng được sống như thế này. Tao chẳng cần gì, chẳng sợ ai, và tao tự hiểu rằng chẳng có ai giàu có và tự do hơn tao. Khi người ta đày tao từ nước Nga sang đây, ngay từ ngày đầu tao đã cứng đầu: chẳng muốn gì cả! Con quỷ nói với tao chuyện vợ, chuyện họ hàng, chuyện tự do, còn tao thì bảo nó: tao chẳng cần gì cả! Tao giữ nguyên ý mình, và như mày thấy đấy, tao sống tốt, chẳng than phiền gì. Còn ai mà nhân nhượng con quỷ, dù chỉ nghe nó một lần thôi, là người đó tiêu đời, chẳng có gì cứu được: sẽ lún xuống bùn ngập tận đỉnh đầu mà không bò lên được. Không chỉ cái hạng nông dân ngu dốt như chúng mày, mà cả người quý tộc, có học cũng tiêu đời như thường. Chừng mười lăm năm trước, người ta đày từ nước Nga sang đây một ông lớn. Có chuyện gì đó với anh em không chia chác xong, ông ta làm giả cái gì đó trong di chúc. Người ta bảo ông ta thuộc dòng hoàng thân hay nam tước, mà có khi chỉ là viên chức thường thôi, ai mà biết được! Thế rồi ông lớn đến đây, việc đầu tiên là mua cho mình một ngôi nhà với một mảnh đất ở làng Mu-khoóc-tin. Ông ta bảo: "Tôi muốn sống bằng lao động của chính mình, đổ mồ hôi sôi nước mắt, vì giờ tôi chẳng phải ông chủ nữa, mà là một người bị đày." Thì tao bảo: cầu Chúa giúp ông, việc tốt đấy. Hồi ấy ông ta còn trẻ, tháo vát, chu đáo. Tự tay cắt cỏ, đánh cá, cưỡi ngựa đi sáu chục dặm. Chỉ khốn một nỗi: ngay từ năm đầu, ông ta đã bắt đầu hay sang làng Gư-ri-nô, đến bưu cục. Có khi đứng trên phà của tao mà thở dài: "Chà, ông Xê-miôn ơi, sao ở nhà lâu gửi tiền cho tôi thế!" Tao bảo: ông Va-xi-li Xéc-gây-ích, chẳng cần tiền đâu. Tiền để làm gì? Ông hãy bỏ chuyện cũ đi, quên nó đi, như thể nó chưa từng có, như thể chỉ là một giấc mơ, mà bắt đầu sống lại từ đầu. Tao bảo: ông đừng nghe con quỷ, nó chẳng đưa ông đến điều gì tốt đẹp đâu, nó sẽ kéo ông vào thòng lọng. Bây giờ ông muốn tiền, rồi ít lâu nữa, ông xem, ông lại muốn cái khác, rồi cái khác nữa, cái khác nữa. Tao bảo: nếu ông muốn hạnh phúc cho mình, thì trước hết đừng mong muốn gì cả. Phải… Tao bảo ông ta: số phận đã làm nhục ông với tôi cay đắng như thế, thì chẳng việc gì phải xin nó rủ lòng thương mà cúi lạy dưới chân nó, mà phải coi thường nó và cười vào mặt nó. Không thì chính nó sẽ cười vào mặt mình. Tao nói với ông ta đúng như thế… Chừng hai năm sau, tao chở ông ta sang bờ bên này, ông ta xoa tay và cười. Ông ta bảo: "Tôi sang Gư-ri-nô đón vợ đây. Cô ấy thương tôi, cô ấy đến rồi. Vợ tôi tốt lắm, hiền lắm." Mà ông ta vui đến hổn hển cả người. Thế rồi một ngày sau, ông ta đưa vợ về. Một bà trẻ, xinh đẹp, đội mũ hoa, tay bế một em bé gái. Lại cả đống hành lý. Còn ông Va-xi-li Xéc-gây-ích của tao thì cứ quanh quẩn bên vợ, nhìn mãi không chán, khen mãi không thôi. "Ông Xê-miôn ạ, ở Xi-bia người ta cũng sống được đấy chứ!" Tao nghĩ bụng: thôi được, rồi ông chẳng vui được lâu đâu. Và từ đấy, gần như tuần nào ông ta cũng sang Gư-ri-nô dò hỏi xem ở nước Nga có gửi tiền sang không. Tiền thì cần đến vô kể. Ông ta bảo: "Vì tôi mà cô ấy phải chôn vùi tuổi trẻ và nhan sắc ở xứ Xi-bia này, cô ấy chia sẻ số phận cay đắng với tôi, nên tôi phải đem lại cho cô ấy mọi niềm vui…" Để bà vợ được vui hơn, ông ta làm quen với các ông viên chức và với đủ thứ người lăng nhăng. Mà cả cái bọn ấy, ai cũng biết, phải cho ăn cho uống, lại phải có cả đàn dương cầm, có cả con chó nhỏ lông xù trên ghế đi văng, cho nó chết quách đi… Nói tóm lại là xa hoa, nuông chiều. Bà vợ sống với ông ta chẳng được bao lâu. Làm sao mà sống nổi? Đất sét, nước, lạnh lẽo, chẳng có rau, chẳng có trái cây, xung quanh toàn người vô học với bợm rượu, chẳng có chút giao tiếp lịch sự nào, mà bà ta lại là người được nuông chiều, dân thủ đô… Dĩ nhiên là buồn chán. Mà chồng thì, nói gì thì nói, chẳng còn là ông lớn nữa, mà là người bị đày, đâu còn danh giá như xưa. Chừng ba năm sau, tao nhớ, một đêm, ngay trước ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời, có tiếng gọi từ bờ bên kia. Tao chèo phà sang, nhìn, thấy bà ta, quấn kín cả người, đi cùng một ông trẻ tuổi, một viên chức. Xe ba ngựa… Tao chở họ sang bờ này, họ lên xe, thế là mất hút! Chỉ thấy họ có thế thôi. Gần sáng thì ông Va-xi-li Xéc-gây-ích phi xe hai ngựa tới: "Ông Xê-miôn, vợ tôi với một ông đeo kính có đi qua đây không?" Tao bảo: có đi qua, giờ thì đi mà tìm gió ngoài đồng! Ông ta phi theo, đuổi suốt năm ngày năm đêm. Về sau, khi tao chở ông ta sang bờ bên kia, ông ta ngã vật xuống sàn phà, đập đầu vào ván mà rống lên. Tao bảo: thấy chưa, đúng như thế đấy. Tao cười, nhắc lại câu của ông ta: "Ở Xi-bia người ta cũng sống được đấy chứ!" Thế là ông ta càng đập đầu dữ hơn… Rồi sau đó ông ta lại muốn được tự do. Vợ đã về nước Nga, thì ông ta cũng muốn về đấy, để gặp vợ và giành vợ lại khỏi tay tình nhân. Thế là, em ơi, gần như ngày nào ông ta cũng phi ngựa đi, khi đến bưu cục, khi lên tỉnh gặp quan trên. Ông ta cứ gửi đơn, nộp đơn, xin được ân xá cho về quê, và ông ta kể rằng chỉ riêng tiền đánh điện đã mất khoảng hai trăm rúp. Đất thì bán, nhà thì đem cầm cho bọn cho vay. Chính ông ta tóc bạc trắng, lưng còng xuống, mặt vàng vọt như người lao. Đang nói chuyện với mày mà cứ khục khục khục… nước mắt lưng tròng. Khổ sở với mấy lá đơn như thế đến tám năm, giờ thì ông ta lại hồi sinh, lại vui vẻ: lại nghĩ ra một trò nuông chiều mới. Mày thấy đấy, con gái ông ta đã lớn. Ông ta nhìn con mà thương không để đâu cho hết. Mà nói cho đúng thì cô ta cũng được: xinh xắn, lông mày đen, tính tình lanh lợi. Chủ nhật nào ông ta cũng đưa con sang Gư-ri-nô đi lễ nhà thờ. Hai bố con đứng cạnh nhau trên phà, cô gái thì cười, còn ông ta không rời mắt khỏi con. Ông ta bảo: "Phải đấy, ông Xê-miôn ạ, ở Xi-bia người ta cũng sống được. Ở Xi-bia cũng có hạnh phúc. Ông xem con gái tôi đây này! Tôi đồ rằng đi cả nghìn dặm cũng chẳng tìm được cô gái nào như thế." Tao bảo: con gái ông tốt thật, đúng thế, quả thật… Còn trong bụng thì tao nghĩ: "Rồi cứ đợi đấy… Con gái đang tuổi xuân, máu đang sôi, muốn sống, mà ở đây thì sống cái gì?" Thế là, em ạ, cô ta bắt đầu buồn rầu… Héo hon héo hon, gầy rộc đi, đổ bệnh, giờ thì nằm liệt giường. Bệnh lao. Thế đấy cái hạnh phúc xứ Xi-bia, quỷ bắt hồn nó đi, thế đấy cái câu ở Xi-bia người ta cũng sống được… Ông ta cứ đi tìm hết bác sĩ này đến bác sĩ khác, đưa họ về nhà. Hễ nghe nói cách hai ba trăm dặm có ông bác sĩ hay ông lang nào là phi ngựa đi tìm ngay. Tiền đổ vào bác sĩ nhiều kinh khủng, theo tao thì đem số tiền ấy đi uống rượu còn hơn… Đằng nào cô ta cũng chết. Nhất định cô ta sẽ chết, và lúc ấy thì ông ta tiêu đời hẳn. Hoặc sẽ thắt cổ vì buồn, hoặc sẽ trốn về nước Nga, chuyện ai chẳng biết. Trốn đi, rồi bị bắt lại, rồi ra toà, rồi khổ sai, rồi được nếm roi vọt…

Anh chàng Tác-ta co người lại vì lạnh, lẩm bẩm:

— Tốt, tốt lắm.

Thạo Đời hỏi:

— Tốt cái gì?

— Vợ, con gái… Khổ sai cũng được, buồn cũng được, nhưng ông ấy đã được thấy vợ, thấy con gái… Ông bảo chẳng cần gì cả. Nhưng chẳng có gì là xấu! Vợ sống với ông ấy ba năm, đấy là Chúa cho ông ấy. Chẳng có gì là xấu, còn ba năm là tốt. Sao không hiểu?

Run rẩy, khó nhọc tìm những từ tiếng Nga mà anh chẳng biết được bao nhiêu, và lắp ba lắp bắp, anh chàng Tác-ta nói rằng Chúa đừng bắt ai ốm đau nơi đất khách quê người, chết đi và bị vùi trong thứ đất gỉ sét lạnh lẽo. Rằng nếu vợ anh đến với anh dù chỉ một ngày, thậm chí một giờ thôi, thì để đổi lấy hạnh phúc ấy, anh cũng bằng lòng chịu bất cứ cực hình nào, và sẽ cảm tạ Chúa. Một ngày hạnh phúc còn hơn là chẳng có gì.

Rồi anh lại kể người vợ anh để lại ở nhà xinh đẹp và thông minh biết bao, rồi hai tay ôm đầu, anh khóc, và quả quyết với Xê-miôn rằng anh chẳng có tội gì, anh bị oan. Hai người anh và ông chú của anh đã dắt trộm ngựa của một người nông dân và đánh ông già ấy gần chết, nhưng làng xã đã xử không theo lương tâm, ra một bản án mà theo đó cả ba anh em đều bị đày sang Xi-bia, còn ông chú, một người giàu có, thì vẫn ở nhà.

Xê-miôn nói:

— Rồi mày sẽ que-en!

Anh chàng Tác-ta im lặng, đôi mắt đẫm lệ nhìn chằm chằm vào đống lửa. Mặt anh lộ vẻ ngơ ngác và sợ hãi, như thể anh vẫn chưa hiểu vì sao mình lại ở đây, trong bóng tối và ẩm ướt, bên những người xa lạ, mà không phải ở tỉnh Xim-biếc-xcơ. Thạo Đời nằm xuống cạnh đống lửa, cười khẩy vì điều gì đó, rồi cất giọng khe khẽ hát.

Một lúc sau, lão nói:

— Ở với bố thì cô ta có gì vui? Ông ta yêu con, lấy con làm niềm an ủi, đúng thế. Nhưng em ạ, ông ta cũng chẳng phải dạng vừa đâu: ông già nghiêm khắc, ông già cứng rắn. Mà con gái trẻ thì đâu cần nghiêm khắc… Chúng nó cần âu yếm, cần ha ha ha, hi hi hi, cần nước hoa với son phấn. Phải…

Xê-miôn thở dài rồi nặng nhọc đứng dậy:

— Chà, chuyện đời, chuyện đời! Rượu hết sạch rồi, vậy là đến giờ đi ngủ. Hả? Tao đi đây, em…

Còn lại một mình, anh chàng Tác-ta bỏ thêm củi vào lửa, nằm xuống, và nhìn ngọn lửa mà nghĩ về làng quê và về người vợ. Giá vợ đến dù chỉ một tháng, dù chỉ một ngày, rồi sau đó nếu muốn thì cứ về! Một tháng hay thậm chí một ngày cũng còn hơn là chẳng có gì. Nhưng nếu vợ giữ lời hứa mà đến thật, thì anh sẽ lấy gì nuôi vợ? Vợ sẽ sống ở đâu đây?

Anh chàng Tác-ta nói thành tiếng:

— Nếu chẳng có gì gì để ăn, thì sống sao?

Vì giờ đây ngày đêm cầm mái chèo, anh chỉ được trả mười xu một ngày. Đúng là khách qua sông có cho tiền trà nước, tiền rượu, nhưng bọn kia chia hết thu nhập với nhau, chẳng cho anh chàng Tác-ta đồng nào, mà chỉ cười nhạo anh. Còn vì túng thiếu mà đói, mà rét, mà sợ… Giờ đây, khi cả người đau nhức và run lên, giá được vào lều mà nằm ngủ, nhưng ở trong ấy chẳng có gì để đắp, lại lạnh hơn ngoài bờ. Ở ngoài này cũng chẳng có gì để đắp, nhưng dù sao cũng còn đốt được đống lửa…

Một tuần nữa, khi nước rút hẳn và người ta đặt phà ở đây, thì tất cả những người lái đò, trừ Xê-miôn, sẽ không cần nữa, và anh chàng Tác-ta sẽ bắt đầu đi từ làng này sang làng khác xin ăn, xin việc. Vợ anh mới mười bảy tuổi. Cô xinh đẹp, được nuông chiều, rụt rè. Lẽ nào cô cũng sẽ phải để lộ mặt mà đi khắp các làng xin ăn? Không, nghĩ đến chuyện ấy thôi đã thấy sợ…

Trời đã rạng. Đã thấy rõ chiếc xà lan, những bụi liễu trên mặt nước, và những gợn sóng lăn tăn. Ngoảnh lại phía sau thì thấy bờ đất sét dựng đứng, bên dưới là túp lều lợp rơm nâu sẫm, còn trên cao là những nếp nhà trong làng bám chênh vênh. Trong làng gà đã gáy.

Anh chàng Tác-ta nghĩ: bờ đất sét đỏ quạch dựng đứng, chiếc xà lan, dòng sông, những con người xa lạ, độc ác, đói, rét, bệnh tật, có lẽ tất cả những thứ ấy chẳng có thật. Có lẽ tất cả chỉ là giấc mơ. Anh cảm thấy mình đang ngủ, và nghe thấy tiếng mình ngáy… Hẳn là anh đang ở nhà, ở tỉnh Xim-biếc-xcơ, và chỉ cần anh gọi tên vợ là cô sẽ thưa. Còn ở phòng bên là mẹ… Thế mà có những giấc mơ đáng sợ làm sao! Để làm gì kia chứ? Anh chàng Tác-ta mỉm cười và mở mắt. Đây là sông nào? Sông Vôn-ga à?

Tuyết đang rơi.

Có ai đó ở bờ bên kia gọi:

— Sang đi-i! Thuyền đò ơ-ơi!

Anh chàng Tác-ta tỉnh hẳn, đi gọi các bạn dậy để chèo sang bờ bên kia. Vừa đi vừa khoác những chiếc áo da cừu rách, chửi rủa bằng giọng khàn khàn ngái ngủ, co ro vì rét, những người lái đò lần lượt ra bờ. Sau giấc ngủ, dòng sông toả hơi lạnh buốt xương có lẽ trông thật ghê tởm và rờn rợn với họ. Họ thong thả nhảy xuống thuyền… Anh chàng Tác-ta và ba người lái đò cầm lấy những mái chèo dài có cánh rộng, trong bóng tối trông giống như những chiếc càng tôm, còn Xê-miôn thì đè bụng lên cái bánh lái dài. Ở bờ bên kia người ta vẫn tiếp tục gọi, và còn bắn hai phát súng lục, có lẽ tưởng bọn lái đò ngủ hoặc đã vào làng, vào quán rượu.

Thạo Đời nói, bằng cái giọng của một người tin chắc rằng trên đời này chẳng cần phải vội, vì đằng nào cũng chẳng đi đến đâu:

— Được rồi, kịp mà!

Chiếc xà lan nặng nề, cồng kềnh tách khỏi bờ và trôi giữa những bụi liễu, và chỉ nhờ những bụi liễu từ từ lùi lại phía sau mới nhận ra rằng nó không đứng yên một chỗ mà đang chuyển động. Những người lái đò nhịp nhàng, đều tay vung mái chèo. Thạo Đời nằm sấp trên bánh lái, vạch một đường vòng cung trong không khí, bay từ mạn này sang mạn kia. Trong bóng tối, trông như thể có những con người đang ngồi trên lưng một con vật thời tiền sử chân dài nào đó, và cưỡi nó trôi về một xứ sở lạnh lẽo, ảm đạm, chính cái xứ sở mà đôi khi người ta vẫn gặp trong cơn ác mộng.

Qua khỏi rặng liễu, họ ra đến chỗ sông rộng. Ở bờ bên kia đã nghe thấy tiếng mái chèo gõ nhịp và khua nước đều đều, và người ta gọi: "Nhanh lên! Nhanh lên!" Chừng mười phút nữa trôi qua, chiếc xà lan nặng nề va vào bến.

Xê-miôn vừa lau tuyết trên mặt vừa lẩm bẩm:

— Cứ rơi mãi, cứ rơi mãi! Nó ở đâu ra lắm thế, có Chúa mới biết!

Bên bờ kia, một ông già gầy gò, thấp bé, mặc áo lông cừu lót da cáo, đội mũ lông cừu non màu trắng, đang đứng chờ. Ông đứng cách xa mấy con ngựa, không nhúc nhích. Vẻ mặt ông u sầu, đăm chiêu, như thể đang cố nhớ ra một điều gì và giận cái trí nhớ không chịu nghe lời mình. Khi Xê-miôn đến gần, mỉm cười bỏ mũ chào, ông nói:

— Tôi đang vội sang A-na-xta-xi-ép-ca. Con gái tôi lại yếu hơn, mà nghe nói ở A-na-xta-xi-ép-ca vừa có bác sĩ mới đến.

Người ta kéo cỗ xe ngựa lên xà lan rồi chèo trở lại. Người đàn ông mà Xê-miôn gọi là Va-xi-li Xéc-gây-ích, suốt lúc qua sông cứ đứng bất động, mím chặt đôi môi dày, mắt nhìn đăm đăm vào một điểm. Khi người xà ích xin phép được hút thuốc trước mặt ông, ông chẳng đáp gì, như thể không nghe thấy. Còn Xê-miôn thì nằm sấp trên bánh lái, nhìn ông giễu cợt mà nói:

— Ở Xi-bia người ta cũng sống được. Sống được đấy-y!

Trên mặt Thạo Đời hiện lên một vẻ đắc thắng, như thể lão vừa chứng minh được một điều gì, và như thể lão vui mừng vì mọi chuyện xảy ra đúng như lão đã đoán. Cái vẻ bất hạnh, bất lực của người đàn ông mặc áo lông cáo hẳn đã khiến lão rất khoái chí.

Khi người ta đang thắng ngựa trên bờ, lão nói:

— Bây giờ đi đường lầy lội lắm, ông Va-xi-li Xéc-gây-ích ạ. Giá ông đợi chừng hai tuần nữa hẵng đi, cho đường khô ráo hơn. Mà có khi chẳng đi nữa cũng được… Giả như đi mà được việc gì thì chớ, chứ ông cũng biết đấy, người ta đi mãi muôn đời, ngày cũng như đêm, mà chẳng được tích sự gì. Thật đấy!

Va-xi-li Xéc-gây-ích lặng lẽ đưa tiền rượu, lên xe và đi tiếp.

Xê-miôn co ro vì lạnh, nói:

— Đấy, lại phi đi tìm bác sĩ! Phải đấy, cứ đi mà tìm bác sĩ thật, cứ đi mà đuổi gió ngoài đồng, cứ đi mà túm đuôi quỷ, quỷ bắt hồn ông đi! Những người kỳ cục ghê, lạy Chúa, xin tha tội cho con là kẻ tội lỗi!

Anh chàng Tác-ta đến gần Thạo Đời, nhìn lão vừa căm ghét vừa ghê tởm, run rẩy nói, xen lẫn những từ tiếng Tác-ta vào thứ tiếng Nga bập bẹ của mình:

— Ông ấy tốt… tốt, còn ông xấu! Ông xấu! Ông chủ là tâm hồn tốt, tuyệt vời, còn ông là con thú, ông xấu! Ông chủ còn sống, còn ông chết rồi… Chúa sinh ra con người để sống, để có vui cũng có buồn, cũng có khổ, còn ông muốn chẳng có gì, vậy là ông không sống, ông là đá, là đất sét! Hòn đá chẳng cần gì, ông cũng chẳng cần gì… Ông là hòn đá, và Chúa không yêu ông, Chúa yêu ông chủ!

Mọi người cười ồ. Anh chàng Tác-ta nhăn mặt ghê tởm, phẩy tay, quấn chặt mớ giẻ rách vào người, rồi đi về phía đống lửa. Những người lái đò và Xê-miôn lê bước vào lều.

Một người lái đò duỗi dài người trên lớp rơm trải trên nền đất sét ẩm ướt, khàn giọng nói:

— Lạnh quá!

Một người khác đồng tình:

— Phải, chẳng ấm áp gì! Đời khổ sai!..

Mọi người nằm xuống. Gió thổi tung cánh cửa, và tuyết bay vào lều. Chẳng ai muốn dậy đóng cửa: vừa lạnh vừa lười.

Xê-miôn nói trong khi thiu thiu ngủ:

— Còn tao thì sướng! Cầu Chúa cho ai cũng được sống như thế này.

— Lão thì ai chẳng biết, khổ sai đến bảy lần. Đến quỷ cũng chẳng thèm bắt lão.

Ngoài sân vọng vào những tiếng giống như tiếng chó tru.

— Cái gì thế? Ai ngoài ấy thế?

— Thằng Tác-ta nó khóc đấy.

— Chà… Đồ kỳ cục!

Xê-miôn nói:

— Rồi nó sẽ que-en!

Rồi lão ngủ thiếp đi ngay.

Chẳng mấy chốc những người khác cũng ngủ. Còn cánh cửa thì cứ để nguyên đó, không đóng.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: В ссылке, 1892
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →