Truyện Đỉnh

🧸 Truyện thiếu nhi

Hưu Chiến Nước

Nỗi sợ đến thế nào · Chương 1/2 · của Rudyard Kipling

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 14.744 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Luật Rừng, bộ luật xưa nhất thế gian, đã…
  2. 1:59Mùa xuân năm ấy, cây mô-hoa mà Ba-lu yêu…
  3. 7:12Giờ đâu phải lúc cõng nặng. Em vẫn còn…
  4. 9:10Đôi tai xòe nhanh nhạy của bầy hươu bắt…
  5. 10:47Từ đêm qua sông lại rút xuống, — Ba-lu…
  6. 11:59Làm vỡ đầu em, — Ba-ghi-ra điềm tĩnh nói,…
  7. 13:15Hắn tiếp tục gừ gừ, gầm gừ một mình.
  8. 14:09Khi Ha-thi hỏi thì tốt nhất là trả lời.

Chương 1: Hưu Chiến Nước

Luật Rừng, bộ luật xưa nhất thế gian, đã liệu trước gần như mọi thứ tai nạn có thể xảy đến với Dân Rừng, tới nay đã hoàn hảo hết mức mà thời gian và lệ tục có thể làm nên. Bạn còn nhớ Mô-gli đã sống phần lớn đời mình trong Bầy Sói Xi-ô-ni, học Luật từ Ba-lu, con Gấu Nâu. Chính Ba-lu đã bảo cậu, những lúc cậu sốt ruột vì bị dặn dò mãi, rằng Luật giống như cây Dây Leo Khổng Lồ, vì nó buông xuống lưng mọi người và chẳng ai thoát được.

— Khi nào em sống lâu bằng ta, Em Út ạ, em sẽ thấy cả khu rừng tuân theo ít nhất một điều Luật. Mà cảnh ấy chẳng dễ chịu gì đâu, — Ba-lu nói.

Lời ấy vào tai này ra tai kia, vì một cậu bé cả đời chỉ biết ăn và ngủ thì chẳng lo gì cho tới khi chuyện thật sự sừng sững trước mặt. Nhưng có một năm, lời Ba-lu thành sự thật, và Mô-gli được thấy cả khu rừng vận hành dưới Luật.

Mọi chuyện bắt đầu khi mưa mùa đông gần như không tới. Con nhím Ích-ki gặp Mô-gli trong một bụi tre, bảo cậu rằng củ mài rừng đang khô héo. Ai cũng biết Ích-ki kén ăn tới mức buồn cười, chỉ chịu ăn thứ ngon nhất, chín nhất. Thế nên Mô-gli cười nói:

— Thì can gì tới em?

— Bây giờ thì chưa can gì mấy, — Ích-ki nói, lông nhọn kêu lách cách một cách cứng nhắc, khó chịu, — nhưng rồi sẽ thấy. Còn lặn xuống vũng đá sâu dưới chân Vách Ong nữa không, Em Út?

— Không. Nước ngốc nghếch đang rút đi hết, mà em không muốn vỡ đầu, — Mô-gli nói. Hồi ấy cậu chắc mẩm mình biết nhiều bằng năm con vật trong rừng cộng lại.

— Thế là thiệt cho em. Một vết nứt nhỏ có khi lại cho chút khôn ngoan lọt vào.

Ích-ki thụt đầu thật nhanh để Mô-gli khỏi giật lông mũi nó. Mô-gli kể lại với Ba-lu lời Ích-ki. Ba-lu nghiêm mặt hẳn, lầm bầm nửa như nói một mình:

— Nếu chỉ có một mình, ta sẽ đổi bãi săn ngay bây giờ, trước khi những kẻ khác bắt đầu nghĩ tới. Nhưng săn giữa người lạ thì rốt cuộc sẽ đánh nhau, mà chúng có thể làm hại đứa con người. Phải chờ xem cây mô-hoa ra hoa thế nào đã.

Mùa xuân năm ấy, cây mô-hoa mà Ba-lu yêu thích không nở hoa. Những bông hoa sáp màu kem xanh xanh bị nắng nóng giết chết từ trước khi ra đời, và khi lão đứng lên hai chân sau rung cây, chỉ vài cánh hoa hôi hám rơi xuống. Rồi từng tấc một, cái nóng không gì dịu nổi bò vào tận lòng rừng, nhuộm nó vàng, rồi nâu, rồi cuối cùng đen. Cây cỏ xanh trên vách các khe vực cháy khô thành những sợi dây gãy vụn và những mảnh màng cuộn quăn chết khô. Những vũng nước ẩn kín rút xuống rồi đóng vảy, giữ lại dấu chân cuối cùng, nhỏ nhất trên mép như được đúc bằng sắt. Những dây leo thân mọng nước rời khỏi những cái cây chúng bám vào, chết dưới gốc. Tre khô héo, kêu lách cách khi gió nóng thổi. Rêu bong khỏi đá tận sâu trong rừng, cho tới khi đá trơ trụi và nóng bỏng như những tảng đá xanh rung rinh trong hơi nóng dưới lòng suối.

Chim chóc và Dân Khỉ đã lên phía bắc từ đầu năm, vì chúng biết điều gì sắp tới. Hươu nai và lợn rừng bỏ đi rất xa, tới những cánh đồng chết héo của các làng, đôi khi chết ngay trước mắt những con người cũng đã quá yếu để giết chúng. Chin, con Diều Hâu, ở lại và béo ra, vì xác chết nhiều lắm. Tối tối nó mang tin tới cho những con thú đã quá yếu không đi nổi tới bãi săn mới, rằng mặt trời đang giết khu rừng trong vòng ba ngày bay về mọi hướng.

Mô-gli chưa bao giờ biết đói thật sự là gì, giờ phải ăn mật ong cũ, ba năm tuổi, cạo ra từ những tổ ong bỏ hoang trên vách đá, thứ mật đen như quả mận rừng, bụi bặm vì đường khô. Cậu còn đi săn những con sâu đục sâu dưới vỏ cây, và cướp ổ ấu trùng mới của lũ ong vò vẽ. Mọi con thú trong rừng chỉ còn da bọc xương. Ba-ghi-ra một đêm vồ được ba lần mà vẫn không no bụng. Nhưng thiếu nước mới là tệ nhất, vì Dân Rừng tuy ít khi uống nhưng mỗi lần uống phải uống thật nhiều.

Cái nóng cứ kéo dài, kéo dài, hút cạn mọi hơi ẩm, cho tới khi cuối cùng dòng chính của sông Oai-gun-ga là con sông duy nhất còn một dòng nước nhỏ chảy giữa hai bờ chết. Và khi Ha-thi, con voi rừng sống hơn trăm tuổi, thấy một sống đá dài, gầy, xanh xám nhô khô ngay giữa lòng sông, lão biết mình đang nhìn Tảng Đá Hòa Bình. Ngay lúc ấy, lão giơ vòi lên, tuyên bố Hưu Chiến Nước, như cha lão đã tuyên bố năm mươi năm trước. Hươu nai, lợn rừng và trâu rừng khản giọng hô theo, còn Chin, con Diều Hâu, bay những vòng lớn khắp xa gần, huýt và rít lên lời cảnh báo.

Theo Luật Rừng, một khi Hưu Chiến Nước đã được tuyên bố, giết chóc ở chỗ uống nước là phải chịu tội chết. Lý do là uống còn cần hơn ăn. Khi chỉ khan hiếm thú săn thì ai trong rừng cũng xoay xở được cách này cách khác. Nhưng nước là nước, khi chỉ còn một nguồn nước duy nhất thì mọi cuộc săn đều ngừng lại trong lúc Dân Rừng tới đó uống. Những mùa tốt, khi nước dồi dào, kẻ nào xuống uống ở sông Oai-gun-ga hay ở bất cứ đâu cũng phải liều mạng, và chính sự liều mạng ấy làm nên không ít phần hấp dẫn của những cuộc phiêu lưu ban đêm. Lần xuống thật khéo để không một chiếc lá lay động; lội tới đầu gối giữa chỗ nước nông chảy ầm ầm át hết mọi tiếng động phía sau; vừa uống vừa ngoái nhìn qua vai, mọi bắp thịt sẵn sàng cho cú nhảy tuyệt vọng đầu tiên khi kinh hãi; lăn mình trên bãi cát ven sông, rồi trở về với cái mõm ướt và cái bụng căng tròn trước đàn đang ngưỡng mộ: đó là điều mà mọi chàng nai đực trẻ sừng cao đều khoái, chính vì chúng biết bất cứ lúc nào Ba-ghi-ra hay Se-khan cũng có thể nhảy xổ ra quật ngã chúng. Nhưng giờ thì mọi trò chơi sống chết ấy đã chấm dứt. Dân Rừng đói lả, mệt mỏi kéo tới dòng sông đã cạn: hổ, gấu, hươu nai, trâu rừng, lợn rừng, tất cả cùng nhau, uống thứ nước vẩn đục, rồi đứng lặng bên trên, kiệt sức không bỏ đi nổi.

Hươu nai và lợn rừng đã lang thang suốt ngày tìm thứ gì khá hơn vỏ cây khô và lá héo. Trâu rừng chẳng tìm được vũng bùn nào để đầm cho mát, chẳng có mùa màng xanh nào để ăn trộm. Rắn đã rời rừng xuống sông, mong vớ được một con ếch lạc. Chúng cuộn quanh những hòn đá ướt, và chẳng thèm đớp khi mõm một con lợn đang ủi đất hất chúng ra. Rùa sông thì đã bị Ba-ghi-ra, thợ săn khôn ngoan nhất, giết sạch từ lâu, còn cá thì đã vùi mình sâu trong lớp bùn khô. Chỉ còn Tảng Đá Hòa Bình nằm vắt ngang chỗ nước nông như một con rắn dài, và những gợn sóng nhỏ mệt mỏi kêu xèo xèo khi khô đi trên sườn đá nóng.

Chính ở đây, đêm nào Mô-gli cũng tới tìm chút mát và chút bầu bạn. Lúc ấy kẻ thù đói khát nhất của cậu cũng chẳng thiết gì tới cậu. Làn da trần làm cậu trông gầy gò khốn khổ hơn bất cứ ai. Tóc cậu bị nắng làm bạc thành màu xơ gai, xương sườn nhô ra như nan rổ, những cục chai ở đầu gối và khuỷu tay, nơi cậu quen bò bằng bốn chân khi lần dấu, khiến tay chân teo tóp của cậu trông như những thân cỏ thắt nút. Nhưng đôi mắt cậu dưới mớ tóc mái rối bù vẫn bình thản, lặng lẽ, vì Ba-ghi-ra là người khuyên bảo cậu trong thời buổi khó khăn này. Nó dặn cậu đi lại nhẹ nhàng, săn mồi chậm rãi, và dù thế nào đi nữa cũng không được nổi nóng.

— Thời buổi khốn khó, — một chiều nóng như lò lửa con Báo Đen nói, — nhưng nó sẽ qua nếu ta sống được tới cuối. Bụng em no chưa, con người?

— Trong bụng em có đồ ăn, nhưng em chẳng thấy bổ béo gì. Anh nghĩ sao, Ba-ghi-ra, mưa đã quên chúng mình rồi và sẽ không bao giờ quay lại nữa à?

— Anh không nghĩ thế! Rồi chúng ta sẽ lại thấy cây mô-hoa nở hoa, thấy những con nai con béo tròn vì cỏ non. Xuống Tảng Đá Hòa Bình nghe tin đi. Lên lưng anh này, Em Út.

— Giờ đâu phải lúc cõng nặng. Em vẫn còn tự đứng được, nhưng mà, thật tình hai đứa mình đâu phải hai con bò được vỗ béo.

Ba-ghi-ra nhìn dọc bên sườn tả tơi bụi bặm của mình mà thì thầm:

— Đêm qua anh vồ được một con bò đang mang ách. Anh sa sút tới mức nếu nó không bị buộc, chắc anh chẳng dám nhảy vào. Úi!

Mô-gli bật cười.

— Phải, giờ chúng mình là thợ săn cừ khôi rồi, — cậu nói. — Em gan lắm, gan ăn sâu.

Rồi cả hai cùng nhau đi xuống qua lớp bụi rậm kêu răng rắc, tới bờ sông và những bãi cạn lỗ chỗ như ren chạy ra khắp mọi hướng.

— Nước không sống được lâu nữa đâu, — Ba-lu nói, đi tới nhập bọn. — Nhìn sang bên kia mà xem. Đằng kia có những lối mòn như đường của Người.

Trên cánh đồng bằng phẳng bên bờ kia, cỏ rừng cứng đã chết đứng, và chết rồi thì khô quắt lại như xác ướp. Những lối mòn nện chặt của hươu nai và lợn rừng, tất cả đều hướng về phía sông, đã vạch lên cánh đồng bạc màu ấy những đường rãnh bụi bặm xuyên qua đám cỏ cao ba mét. Mới sớm thế mà con đường dài nào cũng đã đầy những kẻ tới trước đang vội về phía nước. Có thể nghe những con nai cái và nai con ho sù sụ trong lớp bụi mịn như thuốc hít.

Ở thượng nguồn, chỗ khúc quanh của vũng nước lờ đờ quanh Tảng Đá Hòa Bình, Người Giữ Hưu Chiến Nước là Ha-thi, con voi rừng, đang đứng cùng các con trai, gầy gò và xám xịt dưới ánh trăng, đung đưa qua lại, lúc nào cũng đung đưa. Thấp hơn lão một chút là toán đi đầu của hươu nai. Thấp hơn nữa là lợn rừng và trâu rừng. Còn ở bờ bên kia, nơi những cây cao mọc sát mép nước, là chỗ dành riêng cho Loài Ăn Thịt: hổ, sói, báo, gấu và những kẻ khác.

— Quả thật chúng ta cùng ở dưới một Luật, — Ba-ghi-ra nói, lội xuống nước, nhìn sang những hàng sừng lách cách và những con mắt giật mình nơi hươu nai và lợn rừng đang chen lấn nhau. — Chúc săn may, hỡi tất cả những ai cùng dòng máu với ta, — nó nói thêm, nằm duỗi dài, một bên sườn nhô khỏi chỗ nước nông. Rồi qua kẽ răng: — Nếu không vì Luật thì đây sẽ là một cuộc săn tuyệt lắm đấy.

Đôi tai xòe nhanh nhạy của bầy hươu bắt được câu cuối, và một tiếng thì thầm sợ hãi chạy dọc các hàng:

— Hưu Chiến! Nhớ Hưu Chiến!

— Yên nào, yên nào! — Ha-thi, con voi rừng, ục ục nói. — Hưu Chiến vẫn giữ, Ba-ghi-ra. Giờ không phải lúc nói chuyện săn.

— Ai biết điều ấy rõ hơn ta? — Ba-ghi-ra đáp, đảo đôi mắt vàng về phía thượng nguồn. — Ta là kẻ ăn rùa, kẻ câu ếch. Ôi chao! Giá mà nhai cành cây cũng no được thì hay biết mấy!

— Chúng em cũng mong thế lắm, — một con nai con mới sinh mùa xuân ấy kêu be be, nó chẳng thích cái mùa xuân ấy chút nào.

Khốn khổ là thế, Dân Rừng, kể cả Ha-thi, cũng không nhịn được cười khúc khích. Còn Mô-gli thì đang chống khuỷu tay nằm trong làn nước ấm, cười to, chân đạp tung lớp váng.

— Nói hay lắm, hỡi chú sừng non, — Ba-ghi-ra rù rì. — Khi Hưu Chiến hết, điều đó sẽ được nhớ để có lợi cho chú.

Rồi nó nhìn chăm chú qua bóng tối cho chắc là sẽ nhận ra con nai con ấy lần sau.

Dần dần chuyện trò lan dọc các chỗ uống nước. Có thể nghe lũ lợn rừng xô đẩy, khịt mũi đòi thêm chỗ; lũ trâu rừng ụt ịt với nhau khi lắc lư đi ra các doi cát; và hươu nai kể những chuyện thảm thương về những chuyến lang thang dài, đau chân, đi tìm thức ăn. Thỉnh thoảng chúng hỏi Loài Ăn Thịt bên kia sông một câu gì đó, nhưng toàn tin xấu, và ngọn gió nóng gầm gừ của rừng cứ tới rồi đi giữa những tảng đá và những cành cây kêu lách cách, rải cành con và bụi lên mặt nước.

— Con người cũng chết bên những cái cày của họ, — một con nai sam-ba trẻ nói. — Từ lúc mặt trời lặn tới khi tối hẳn con đi qua ba người. Họ nằm im, bò của họ cũng nằm im bên cạnh. Ít lâu nữa chúng ta cũng sẽ nằm im.

— Từ đêm qua sông lại rút xuống, — Ba-lu nói. — Hỡi Ha-thi, lão đã bao giờ thấy trận hạn nào như thế này chưa?

— Rồi sẽ qua, rồi sẽ qua, — Ha-thi nói, phun nước dọc lưng và hai bên sườn.

— Ở đây có một kẻ không chịu được lâu, — Ba-lu nói, và lão nhìn về phía cậu bé mà lão thương.

— Em ư? — Mô-gli bực bội ngồi dậy trong nước. — Em không có lông dài che xương, nhưng mà, nhưng mà nếu lột da bác ra thì, bác Ba-lu...

Ha-thi rùng mình khắp người vì cái ý nghĩ ấy, còn Ba-lu nghiêm khắc nói:

— Con người, nói thế với Thầy dạy Luật là không phải phép. Chưa bao giờ ai thấy ta không có da.

— Không, em đâu có ý gì xấu, bác Ba-lu. Em chỉ muốn nói bác như quả dừa còn nguyên vỏ, còn em là quả dừa trần trụi. Cái vỏ nâu ấy của bác...

Mô-gli đang ngồi xếp bằng, giảng giải bằng ngón tay trỏ như thói quen, thì Ba-ghi-ra thò một bàn chân mềm ra, kéo cậu ngã ngửa xuống nước.

— Càng lúc càng tệ, — con Báo Đen nói khi cậu bé trồi lên, phun phì phì. — Đầu tiên là định lột da Ba-lu, giờ lại gọi lão là quả dừa. Coi chừng lão làm cái việc mà dừa chín vẫn làm đấy.

— Việc gì thế? — Mô-gli hỏi, nhất thời mất cảnh giác, dù đó là một trong những câu đố mẹo xưa nhất trong rừng.

— Làm vỡ đầu em, — Ba-ghi-ra điềm tĩnh nói, rồi lại dìm cậu xuống.

— Đùa cợt với thầy mình là không tốt đâu, — con gấu nói khi Mô-gli đã bị dìm tới lần thứ ba.

— Không tốt! Thế các người muốn gì? Cái thứ trần truồng chạy tới chạy lui ấy đem những kẻ từng là thợ săn giỏi ra làm trò khỉ, lại còn giật râu những kẻ cừ nhất trong chúng ta cho vui.

Đó là Se-khan, con Hổ Què, đang khập khiễng đi xuống mép nước. Hắn chờ một lúc để tận hưởng sự náo động mình gây ra giữa đám hươu nai bờ bên kia, rồi cúi xuống liếm nước, gầm gừ:

— Giờ khu rừng thành bãi đẻ cho lũ con trần truồng rồi. Nhìn ta đây, con người!

Mô-gli nhìn, hay đúng hơn là nhìn trừng trừng, hỗn xược hết mức cậu biết, và chưa tới một phút Se-khan đã khó chịu quay đi.

— Con người thế này, con người thế kia, — hắn lầm bầm, tiếp tục uống. — Thằng nhãi ấy chẳng phải người cũng chẳng phải con nít, không thì nó đã biết sợ. Mùa sau chắc ta phải xin phép nó mới được uống nước. Ạc!

— Chuyện ấy cũng có thể tới lắm, — Ba-ghi-ra nói, nhìn thẳng vào giữa hai mắt hắn. — Chuyện ấy cũng có thể tới lắm. Phì, Se-khan! Ngươi lại mang nỗi nhục mới gì tới đây thế?

Con Hổ Què đã nhúng cằm và má xuống nước, và những vệt đen, nhờn đang trôi từ đó xuôi dòng.

— Người! — Se-khan thản nhiên nói. — Ta vừa giết một giờ trước.

Hắn tiếp tục gừ gừ, gầm gừ một mình.

Hàng thú vật rung lên, chao đảo, và một tiếng thì thầm cất lên rồi lớn dần thành tiếng kêu:

— Người! Người! Hắn đã giết Người!

Rồi tất cả nhìn về phía Ha-thi, con voi rừng, nhưng lão dường như không nghe thấy. Ha-thi không bao giờ làm gì cho tới khi đúng lúc, và đó là một trong những lý do lão sống lâu thế.

— Vào mùa này mà đi giết Người! Không còn con mồi nào khác à? — Ba-ghi-ra khinh bỉ nói, rút mình khỏi dòng nước bị vấy bẩn, rũ từng chân một theo kiểu mèo.

— Ta giết vì thích, không phải để ăn.

Tiếng thì thầm kinh hoàng lại bắt đầu, và con mắt trắng nhỏ luôn canh chừng của Ha-thi liếc về phía Se-khan.

— Vì thích, — Se-khan kéo dài giọng. — Giờ ta tới uống nước và tắm rửa cho sạch. Có ai cấm không?

Lưng Ba-ghi-ra bắt đầu cong lên như cây tre trong gió lớn, nhưng Ha-thi giơ vòi lên, khẽ nói:

— Ngươi giết vì thích ư?

Khi Ha-thi hỏi thì tốt nhất là trả lời.

— Đúng thế. Đó là quyền của ta và là Đêm của ta. Lão biết mà, hỡi Ha-thi, — Se-khan nói, gần như lễ phép.

— Phải, ta biết, — Ha-thi đáp. Im lặng một lúc, lão hỏi: — Ngươi uống đủ chưa?

— Đêm nay thì đủ rồi.

— Vậy thì đi đi. Sông để uống, không phải để làm bẩn. Chẳng ai ngoài Con Hổ Què lại khoe khoang quyền của mình vào mùa này, khi mà, khi mà chúng ta cùng khổ, cả Người lẫn Dân Rừng. Sạch hay bẩn, cút về hang đi, Se-khan!

Những lời cuối vang lên như tiếng kèn bạc, và ba con trai của Ha-thi lăn tới nửa bước, dù chẳng cần thế. Se-khan lủi đi, không dám gầm gừ, vì hắn biết điều mà ai cũng biết: khi tới bước đường cùng, Ha-thi là Chúa Tể của Rừng.

— Hết chương 1 —

Mục lục Nỗi sợ đến thế nào

  1. 1Hưu Chiến Nước14 phút
  2. 2Con hổ đầu tiênĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảRudyard Kipling (1865 – 1936)
Năm mất1936
Xuất bản lần đầu1895
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: How Fear Came, trong The Second Jungle Book, 1895
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →