Đó là lúc mùa xuân năm Văn Hoá thứ sáu sắp qua. Ở phố Ri-u-đô khu A-da-bu, trong dinh một vị lãnh chúa tên Mát-xu-đai-ra, chúa đất Ô-cư-đô-nô xứ Mi-ca-oa, nằm sát phía nam khu đất nay là doanh trại trung đoàn bộ binh số ba, có thợ mộc vào sửa sang một ngôi nhà nhỏ bỏ trống. Hàng xóm hỏi nhà ấy sửa cho ai ở, thì được biết là một võ sĩ trong phiên Mát-xu-đai-ra, tên Mi-y-a-si-ghê Kiu-ê-môn, đang sửa làm chỗ ở dưỡng già. Quả nhiên đó là một ngôi nhà trống có thể gọi là gian nhà phụ của nhà Mi-y-a-si-ghê, chỉ riêng gian bếp là nhỏ nhưng làm riêng. Hàng xóm hỏi, thế ra ông Kiu-ê-môn sắp nghỉ hưu ư, thì hoá ra không phải. Nghe nói là người anh của ông Kiu-ê-môn từ quê ra ở.
Ngày mồng năm tháng tư, tường còn chưa khô hẳn, quả nhiên có một ông cụ lạ mặt mang ít hành lý tới nhà Mi-y-a-si-ghê, rồi vào ở ngay gian nhà dưỡng già. Kiu-ê-môn tóc đã hoa râm, còn ông cụ này thì tóc bạc trắng. Vậy mà lưng chẳng còng chút nào. Dáng ông giắt đôi kiếm trang sức sang trọng trông thật oai vệ. Nhìn thế nào cũng chẳng giống người nhà quê.
Ông cụ vào ở gian nhà dưỡng già được hai ba hôm, thì có một bà cụ tới ở cùng. Bà cũng tóc bạc trắng, búi thành búi tròn nhỏ, phong thái đoan trang chẳng kém ông cụ. Trước đó cơm nước vẫn bưng từ bếp nhà Kiu-ê-môn sang, từ khi bà cụ tới, bà tự nấu những món cho ông cụ và mình ăn, như trẻ con chơi đồ hàng.
Đôi ông bà già ấy thương nhau không ai bằng. Hàng xóm bảo, nếu đó là một đôi trai gái trẻ, thì chắc chẳng ai đứng nhìn mà thản nhiên được. Có người còn bảo, đó chắc chẳng phải vợ chồng, mà là anh em. Hỏi vì sao, thì người ấy bảo hai người thân thiết không chút cách bức mà vẫn có lễ, là vợ chồng thì có vẻ khách sáo quá.
Hai người trông chẳng giàu có gì. Nhưng hình như cũng chẳng thiếu thốn, lại không có vẻ gì làm phiền tới Kiu-ê-môn. Nhất là bà cụ, sau đó còn có khá nhiều hành lý gửi tới, quần áo hình như toàn đồ đẹp. Hành lý tới chẳng bao lâu, chẳng biết ai khởi xướng, trong xóm đã đồn rằng bà cụ ấy từng làm nữ quan trong dinh lớn.
Cuộc sống của hai người đúng là cuộc sống người về hưu, thong thả nhàn nhã. Ông cụ đeo kính đọc sách. Viết nhật ký bằng chữ nhỏ li ti. Ngày nào cũng đúng một giờ, ông rắc bột đánh bóng kiếm rồi lau. Ông đứng thế ngay ngắn mà vung kiếm gỗ. Bà cụ thì làm cái trò như chơi đồ hàng ấy, rảnh ra lại tới ngồi bên ông, cầm quạt quạt cho ông. Vì tiết trời đã dần nóng. Bà quạt một lúc, ông đặt cuốn sách đọc dở xuống, bắt đầu trò chuyện. Hai người chuyện trò với nhau, trông vui lắm.
Có khi hai người cùng đi đâu từ sáng sớm. Sau lần đầu hai người đi, có câu chuyện vợ Kiu-ê-môn kể với hàng xóm, tình cờ truyền ra. Bà bảo: "Hai cụ đi viếng chùa Tùng Tuyền, chùa nhà đấy. Giá cậu con trai còn sống thì năm nay đã ba mươi chín tuổi, đang độ trai tráng sung sức." Chùa Tùng Tuyền là ngôi chùa ở thung lũng Cư-rô-cư-oa khu A-ca-xa-ca, ngay phía sau ngự sở A-ô-y-a-ma bây giờ. Nghe thế, hàng xóm đoán rằng hai người đi ra ngoài, chẳng riêng lần đầu ấy, là để lần theo dấu vết những giấc mộng đã qua của ngày xưa.
Thấm thoắt hè qua, thu qua. Chẳng còn ai tò mò bàn chuyện ông cụ bà cụ nữa. Thế rồi tới cuối năm, ngày hai mươi tám tháng chạp, trên con đường còn dấu trận tuyết lớn hôm qua, các vị lãnh chúa lớn nhỏ cùng quan lại đi về thành Ê-đô chúc tết cuối năm đông như mắc cửi, thì bà cụ ở gian nhà dưỡng già nhà Mi-y-a-si-ghê được chủ dinh là ngài Mát-xu-đai-ra vừa từ thành về gọi lên đại sảnh, truyền lệnh của tướng quân Tô-cư-ga-oa I-ê-na-ri. Lời truyền rằng: "Nghe tin bà giữ trọn tiết hạnh với người chồng bao năm ở miền xa, ngài có lòng hậu đãi, ban thưởng mười lạng bạc."
Cuối năm ấy có lễ cưới của hoàng tử ở Tây thành, nên số người được ban thưởng đông hơn mọi năm, nhưng riêng việc ban mười lạng bạc cho bà cụ ở gian nhà dưỡng già nhà Mi-y-a-si-ghê thì được thiên hạ bàn tán như một ân điển hiếm có.
Vì thế đôi ông bà già ở gian nhà dưỡng già nhà Mi-y-a-si-ghê một thời nổi tiếng khắp Ê-đô. Ông cụ vốn là võ sĩ đội cận vệ lớn, tên là Mi-nô-bê I-ô-ri, anh ruột Mi-y-a-si-ghê Kiu-ê-môn. Bà cụ là vợ I-ô-ri, tên Run, từng hầu trong nội dinh nhà Cư-rô-đa ở Xô-tô-xa-cư-ra-đa, giữ chức quản sự. Khi Run được ban thưởng, chồng bà là I-ô-ri bảy mươi hai tuổi, còn bà bảy mươi mốt.
Năm Minh Hoà thứ ba, trong đội cận vệ lớn do ngài I-si-ca-oa mới lên làm chỉ huy, có một võ sĩ tên Mi-nô-bê I-ô-ri. Kiếm thuật vượt hẳn bạn đồng liêu, chữ viết đẹp, lại thích làm thơ. Nhà I-si-ca-oa ở ngoài cầu Xui-đô, nhưng I-ô-ri ở khu Ban-chô, nên chỉ gặp cấp trên ở chỗ trực.
Mùa xuân năm sau, người chồng của bà cô I-ô-ri, cũng làm trong đội cận vệ lớn, tên Y-a-ma-na-ca Tô-ê-môn, mai mối vợ cho I-ô-ri lúc ấy vừa tròn ba mươi. Số là bên họ vợ Y-a-ma-na-ca có một người tên A-ri-ta-kê, gia thần nhà Tô-đa, ông giới thiệu người chị của con dâu nhà A-ri-ta-kê.
Sao em đã lấy chồng trước mà chị còn ở nhà? Ấy là vì người chị đi hầu trong dinh. Hai chị em vốn là con gái một nhà có thế gia ở làng Ma-ca-đô quận A-sa-y-na xứ A-oa, tên Na-i-ki Si-rô-ê-môn. Người chị là Run, năm Bảo Lịch thứ hai, mười bốn tuổi, vào làm hầu gái thường trong nội dinh của ngài Ô-oa-ri ở ngoài cổng I-chi-ga-y-a. Rồi năm Bảo Lịch thứ mười một, nhà Ô-oa-ri đổi đời chủ, nhưng Run vẫn tiếp tục hầu hạ, rốt cuộc làm tới năm Minh Hoà thứ ba, tròn mười bốn năm. Trong khi chị đi vắng, người em đã lấy con trai nhà A-ri-ta-kê, gia thần nhà Tô-đa, về ở dinh Xô-tô-xa-cư-ra-đa.
Rời nhà Ô-oa-ri, Run hai mươi chín tuổi, tới giúp việc nhà cô em hai mươi bốn tuổi, nói rằng nếu được thì muốn lấy chồng ở một nhà xứng đáng trong hàng kỳ bản của tướng quân. Y-a-ma-na-ca nghe vậy, ngỏ ý mai mối cho I-ô-ri, nhà A-ri-ta-kê mừng lắm, nhận đứng làm nhà gái mà gả. Thế là cô Run họ Na-i-ki sinh ở xứ A-oa mang họ A-ri-ta-kê, từ dinh Tô-đa ở Xô-tô-xa-cư-ra-đa về làm dâu nhà Mi-nô-bê ở Ban-chô.
Run không phải loại đàn bà gọi là người đẹp. Nếu coi người đẹp như món đồ bày trong hốc tường, thì Run là một món đồ dùng làm ra thật tiện. Người cao lớn, dáng đường hoàng, lại thông minh nhanh nhẹn, chẳng bao giờ ngồi ngẩn ngơ không làm gì. Mặt có xương gò má hơi cao là khuyết điểm, nhưng giữa đôi mày đôi mắt toát ra vẻ tài trí. I-ô-ri giỏi võ nghệ, thích học vấn, là một chàng trai đẹp, da trắng. Chỉ mỗi tội ông có tính nóng nảy. Hai người nên vợ nên chồng, Run thương chồng vô cùng, nâng niu như ngọc trong tay, lại hết lòng dịu dàng với bà nội chồng bảy mươi tám tuổi, con cháu ruột thịt cũng không bằng, nên I-ô-ri mãn nguyện, nghĩ mình có được người vợ tốt. Thế là tính nóng nảy thường ngày tắt hẳn, việc gì ông cũng nhẫn được.
Năm sau là năm Minh Hoà thứ năm, em trai I-ô-ri là Mi-y-a-si-ghê, hồi ấy còn tên Si-chi-gô-rô, vì chủ nhà mình là ngài Mát-xu-đai-ra được cử làm chỉ huy đội cận vệ lớn, nên ông cũng vào đội cận vệ. Thế là hai anh em I-ô-ri và Si-chi-gô-rô làm cùng một việc.
Đội cận vệ lớn có phiên luân phiên tới trấn giữ thành Ni-giô ở Ki-ô-tô và thành Ô-xa-ca. Bốn năm sau khi I-ô-ri lấy vợ, năm Minh Hoà thứ tám, ngài Mát-xu-đai-ra tới phiên trấn giữ thành Ni-giô. Mi-y-a-si-ghê Si-chi-gô-rô phải lên kinh, mà lại đang ốm. Thời ấy được phép cử người đi thay, nên I-ô-ri thay Si-chi-gô-rô theo ngài Mát-xu-đai-ra lên kinh. Tháng tư năm Minh Hoà thứ tám, I-ô-ri để lại Ê-đô người vợ Run đang mang thai sắp tới tháng đẻ, lên đường đi Ki-ô-tô.
Ở Ki-ô-tô, I-ô-ri làm việc yên ổn suốt mùa hè năm ấy, nhưng khi gió thu vừa bắt đầu thổi, một hôm ông thấy ở một hiệu bán đao kiếm phố Tê-ra-ma-chi một thanh kiếm cổ đẹp, nghe nói là đồ cầm cố quá hạn. Ông vốn ao ước có một thanh kiếm tốt, nên muốn mua, nhưng giá một trăm năm mươi lạng là món tiền lớn khó kiếm đối với ông.
Để phòng khi bất trắc, I-ô-ri lúc nào cũng giắt trong đai lưng một trăm lạng. Bỏ ra số ấy thì ông chẳng tiếc. Nhưng năm mươi lạng còn lại thì không xoay được. Thế là tuy nghĩ một trăm năm mươi lạng không phải là đắt, ông vẫn nói khó mãi với người bán, rốt cuộc được bớt xuống một trăm ba mươi lạng, hẹn mua. Ba mươi lạng thì ông định đi vay.
Người I-ô-ri vay tiền là một đồng liêu trong phiên trực, tên Si-mô-gi-ma Gin-ê-môn. Thường ngày chẳng thân thiết gì, nhưng nghe nói hắn khá giả. Thế là ông vay Si-mô-gi-ma ba mươi lạng, mua được kiếm, rồi đem đi sửa lại vỏ chuôi.
Rồi kiếm làm xong mang về, I-ô-ri mừng lắm, nhân đúng đêm rằm tháng tám, mời hai ba người bạn thân như Y-a-na-gi-ha-ra Cô-hê tới, vừa khoe kiếm vừa đãi tiệc. Bạn bè ai cũng khen kiếm. Đúng lúc tiệc đang vui, Si-mô-gi-ma bỗng ghé tới. Là người ít khi tới, nên trước hết I-ô-ri thấy khó chịu, nghĩ hay hắn tới đòi tiền. Nhưng vì mắc nợ ân tình, ông rót chén rượu mời hắn vào ngồi cùng.
Chuyện trò một lúc, mọi người nhận ra lời lẽ Si-mô-gi-ma có gì gai góc. Si-mô-gi-ma không tới đòi tiền, mà vì bất bình thấy người ta khoe thanh kiếm mua bằng tiền mình cho vay mà không mời mình, nên cố ý tới giữa lúc tiệc đang vui.
Đôi co với I-ô-ri dăm câu, rốt cuộc Si-mô-gi-ma nói thế này:
— Kiếm là vật quý để phụng sự chủ, nên vay nợ mà mua cũng được đi. Nhưng còn sửa sang vỏ chuôi sang trọng thì là xa xỉ. Lại thêm đang mang nợ mà còn khoe kiếm, còn ngắm trăng, thì thật chẳng ra gì.
Hơn cả ý câu nói, cái giọng mỉa mai của Si-mô-gi-ma nghe chướng tai quá, nên chẳng những I-ô-ri đang cúi đầu nghe, mà cả bạn bè ngồi đó ai cũng thấy khó chịu.
I-ô-ri ngẩng lên nói:
— Lời ông vừa nói, tôi xin ghi nhận. Câu trả lời, để khi nào tôi mang số tiền đội ơn ông cho vay tới, xin thưa lại. Dẫu là chỗ quen biết, nhưng đêm nay còn có khách tôi cất công mời tới. Xin ông vui lòng rời tiệc cho.
Si-mô-gi-ma biến sắc:
— Thế à. Đã bảo về thì về.
Buông câu ấy xong, lúc đứng dậy Si-mô-gi-ma đá tung mâm cỗ đặt trước mặt mình.
— Ông làm gì thế!
I-ô-ri nói, rồi cầm thanh kiếm bên cạnh đứng lên. Lúc ấy mặt I-ô-ri đã đổi sắc.
I-ô-ri và Si-mô-gi-ma đứng đối mặt nhau, khi hai người nhìn thẳng vào mắt nhau, Si-mô-gi-ma hét một tiếng: "Đồ ngu!" Cùng với tiếng ấy, lưỡi kiếm trắng loé lên trong tay I-ô-ri, Si-mô-gi-ma bị chém một nhát vào trán.
Si-mô-gi-ma vừa bị chém vừa rút kiếm, tưởng hắn sẽ đánh lại I-ô-ri, nhưng không, hắn cầm nguyên lưỡi kiếm trắng, quay mình chạy ra phía tiền sảnh.
I-ô-ri đuổi theo, thì gã tuỳ tùng của Si-mô-gi-ma rút đoản kiếm chặn lại. "Tránh ra!" I-ô-ri hét, vung kiếm ngang, gã tuỳ tùng bị chém vào tay, lùi lại.
Trong lúc ấy, khoảng cách giữa ông và Si-mô-gi-ma đã xa ra, I-ô-ri toan nhảy một bước đuổi theo, thì Y-a-na-gi-ha-ra Cô-hê theo sau, vừa nói "Nó chạy thì để nó chạy", vừa ôm chặt lấy ông từ phía sau. Ấy là vì nghĩ rằng nếu đối phương không chết, thì tội I-ô-ri sẽ được giảm nhẹ.
I-ô-ri trao kiếm cho Y-a-na-gi-ha-ra, ủ rũ trở về chỗ ngồi. Rồi lặng lẽ cúi đầu.
Y-a-na-gi-ha-ra ngồi đối diện I-ô-ri, nói:
— Chuyện đêm nay, từ ta trở đi, mọi người đều thấy cả. Nếu nói là quả thật không nhịn được, thì cũng đành thế. Nhưng ta muốn nghe ông nói xem vì sao ông rút kiếm trước.
I-ô-ri mắt rưng rưng, một lúc lâu không đáp, rồi mở miệng ngâm một bài thơ:
"Giờ còn biết nói gì đây,
lòng ta rối như mái tóc đen,
chẳng còn đầu, chẳng còn cuối."
Vết thương trên trán Si-mô-gi-ma nặng hơn người ta tưởng, hai ba hôm sau hắn chết. I-ô-ri bị áp giải về Ê-đô để tra xét. Bản án rằng: "Vì có lỗi lầm lạc, tước bổng lộc, giao cho ngài A-ri-ma giam giữ suốt đời." I-ô-ri bị chuyển từ dinh A-ri-ma ngoài cầu Sai-oai tới Ma-ru-ô-ca xứ Ê-chi-dên, ấy là tháng tám năm sau, năm đổi niên hiệu thành An Vĩnh.
Gia quyến nhà Mi-nô-bê ở lại, mỗi người được một nhà họ hàng đón về. Bà nội I-ô-ri về nhà Mi-y-a-si-ghê Si-chi-gô-rô, còn đứa con trai trưởng Hê-nai, đứa bé chưa từng được thấy mặt cha, cùng người vợ Run về nhà Ca-xa-ha-ra Sin-pa-chi-rô, một nhánh của nhà A-ri-ta-kê.
Chừng hai năm sau, bà nội buồn quá, về ở cùng cháu dâu, nhưng chẳng bao lâu thì mất, thọ tám mươi ba tuổi, chẳng ốm đau gì đáng gọi là bệnh. Ấy là ngày hai mươi chín tháng tám năm An Vĩnh thứ ba.
Năm sau, Hê-nai lên năm tuổi chết vì bệnh đậu mùa đang lan. Ấy là ngày hai mươi tám tháng ba năm An Vĩnh thứ tư.
Run dốc hết sức chăm sóc cả bà nội lẫn con trai, đưa tiễn tới lúc lâm chung, chôn cất ở chùa Tùng Tuyền. Rồi Run quyết suốt đời đi hầu trong các nhà võ gia, nhờ Ca-xa-ha-ra cùng họ hàng tìm chỗ làm.
Ít lâu sau, nghe tin nội dinh nhà Cư-rô-đa, chúa đất Phư-cư-ô-ca xứ Chi-cư-dên, ở sát vách dinh nhà Tô-đa, chủ của nhà A-ri-ta-kê, đang cần một người hầu gái thạo việc. Ca-xa-ha-ra nhờ người đưa Run tới ra mắt.
Nhà Cư-rô-đa mới nhìn Run đã nhận ngay. Ấy là mùa xuân năm An Vĩnh thứ sáu.
Từ đó tới tháng bảy năm Văn Hoá thứ năm, suốt ba mươi mốt năm, Run làm ở nhà Cư-rô-đa, hầu hạ phu nhân của bốn đời chủ, được thăng tới chức quản sự, rồi được về hưu, hưởng lương hai phần suốt đời. Suốt thời gian ấy, Run trích tiền công của mình cúng chùa Tùng Tuyền, chẳng để mộ nhà Mi-nô-bê lúc nào thiếu hương hoa.
Được cho về hưu, Run tạm về nhà Ca-xa-ha-ra, nhưng chẳng bao lâu về quê ở xứ A-oa.
Năm sau, năm Văn Hoá thứ sáu, người chồng I-ô-ri, ba mươi bảy năm nay sống ở nơi bị giam giữ tại Ma-ru-ô-ca xứ Ê-chi-dên bằng nghề dạy chữ và dạy kiếm, nhân lễ cầu siêu cho vị tướng quân đời trước, được ơn trên tha cho, trở về Ê-đô. Nghe tin, Run mừng rỡ từ A-oa lên Ê-đô, và trong ngôi nhà ở phố Ri-u-đô, hai người gặp lại nhau sau ba mươi bảy năm xa cách.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn