Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người thổi kèn mù

Pha-xi-nô Ca-nê · Chương 1/2 · của Honoré de Balzac

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 13.586 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Gửi Lu-i-dơ, để tỏ lòng biết ơn trìu mến.
  2. 6:05Ban nhạc gồm ba người mù ở viện người…
  3. 9:41Ông mù từ lúc sinh ra, hay mù vì...
  4. 9:57Nếu tôi đi cùng anh tới đó, anh sẽ…
  5. 10:41Tôi hỏi ông:
  6. 10:49Giọng ông cho thấy nỗi tiếc nuối của ông…
  7. 11:09Ông bảo:
  8. 11:47Nhưng nếu ông là nguyên lão Vơ-ni-dơ, ông phải…

Chương 1: Người thổi kèn mù

Gửi Lu-i-dơ, để tỏ lòng biết ơn trìu mến.

Hồi ấy tôi ở trên một con phố nhỏ mà hẳn các bạn không biết, phố Lết-đi-ghi-e. Nó bắt đầu từ phố Xanh Ăng-toan, trước một đài phun nước gần quảng trường Ba-xti, và thông ra phố La Xơ-ri-dơ. Lòng yêu khoa học đã ném tôi lên một căn gác xép, đêm tôi làm việc ở đó, còn ban ngày tôi ngồi ở một thư viện gần nhà. Tôi sống đạm bạc, đã chấp nhận mọi điều kiện của cuộc sống tu hành, vốn rất cần cho người làm việc. Trời đẹp, tôi cũng chỉ đi dạo đôi chút trên đại lộ Buốc-đông. Chỉ có một niềm say mê kéo tôi ra khỏi thói quen học hành của mình, mà đó chẳng phải cũng là học hay sao? Tôi đi quan sát phong tục của khu ngoại ô, những người dân ở đó và tính nết của họ. Ăn mặc xoàng xĩnh như người thợ, chẳng màng tới bề ngoài, tôi không khiến họ đề phòng. Tôi có thể lẫn vào đám đông của họ, nhìn họ mua bán, cãi nhau vào giờ tan làm. Ở tôi, sự quan sát đã trở thành trực giác. Nó thấu vào tâm hồn mà không bỏ qua thể xác, hay đúng hơn, nó nắm bắt những chi tiết bên ngoài tài tình tới mức lập tức vượt qua chúng. Nó cho tôi khả năng sống cuộc đời của người mà nó đang quan sát, cho phép tôi nhập vào người ấy, như vị thầy tu trong truyện Nghìn lẻ một đêm chiếm được thể xác và linh hồn những người mà ông đọc thần chú lên.

Những khi, khoảng mười một giờ tới nửa đêm, tôi gặp một người thợ và vợ cùng nhau đi xem hát về, tôi thích đi theo họ từ đại lộ Pông-ô-Su tới đại lộ Bô-mác-sê. Những con người hiền lành ấy thoạt đầu nói về vở kịch vừa xem. Rồi chuyện nọ xọ chuyện kia, họ đi tới chuyện làm ăn của mình. Người mẹ dắt tay đứa con, chẳng nghe nó than vãn hay đòi hỏi gì. Hai vợ chồng tính số tiền sẽ được trả ngày mai, tiêu nó theo hai mươi cách khác nhau. Rồi đến chuyện vặt trong nhà, than phiền giá khoai tây đắt quá, mùa đông dài quá, than bánh đắt lên, những lời cự cãi kịch liệt về món nợ ở hàng bánh mì. Rồi những cuộc cãi cọ mỗi lúc một gay gắt, trong đó mỗi người phô ra tính cách của mình bằng những lời lẽ đầy hình ảnh. Nghe những người ấy, tôi có thể sống cuộc đời của họ, tôi thấy manh áo rách của họ trên lưng mình, tôi bước đi trong đôi giày thủng của họ. Những mong muốn, những nhu cầu của họ, tất cả đều đi vào tâm hồn tôi, hay tâm hồn tôi đi vào tâm hồn họ. Đó là giấc mơ của một người đang thức. Tôi cùng họ nổi nóng với những tay cai thợ hà hiếp họ, hay với những khách hàng tồi bắt họ đi lại mấy lần mà không trả tiền. Rời bỏ thói quen của mình, trở thành một người khác mình nhờ cơn say của những năng lực tinh thần, và làm điều ấy tuỳ thích, đó là thú tiêu khiển của tôi. Tôi có được khả năng ấy là nhờ đâu? Đó là một thứ thiên nhãn chăng? Hay là một trong những phẩm chất mà dùng quá đà sẽ dẫn tới điên loạn? Tôi chưa bao giờ đi tìm nguyên nhân của quyền năng ấy. Tôi có nó và dùng nó, thế thôi. Các bạn chỉ cần biết rằng từ hồi ấy, tôi đã phân tích được những thành phần của cái khối hỗn tạp gọi là dân chúng, đã mổ xẻ nó để có thể đánh giá những phẩm chất tốt xấu của nó. Tôi đã biết khu ngoại ô này có thể hữu ích thế nào, cái lò ươm những cuộc cách mạng ấy, nơi có những anh hùng, những nhà phát minh, những nhà thông thái thực hành, những kẻ bịp bợm, những tên vô lại, những đức tính và những thói xấu, tất cả đều bị cảnh nghèo đè nén, bị cái cần thiết bóp nghẹt, bị chìm trong rượu, bị rượu mạnh bào mòn. Các bạn không thể tưởng tượng nổi bao nhiêu cuộc phiêu lưu đã mất, bao nhiêu tấn kịch đã bị lãng quên trong cái thành phố đau khổ ấy! Bao nhiêu điều khủng khiếp và đẹp đẽ! Trí tưởng tượng chẳng bao giờ với tới được cái thật giấu kín ở đó mà không ai có thể đi tìm. Phải đi xuống quá sâu mới tìm được những cảnh tuyệt vời ấy, bi thảm hay hài hước, những kiệt tác do tình cờ sinh ra. Tôi không hiểu sao mình lại giữ lâu đến thế mà không kể câu chuyện tôi sắp kể đây. Nó thuộc về những câu chuyện kỳ lạ còn nằm trong cái túi mà trí nhớ thất thường rút ra như rút số xổ số. Tôi còn nhiều chuyện khác, cũng kỳ lạ như chuyện này, cũng chôn vùi như thế. Nhưng các bạn cứ tin, rồi sẽ tới lượt chúng.

Một hôm, bà giúp việc của tôi, vợ một người thợ, tới xin tôi hạ cố tới dự đám cưới một cô em gái của bà. Để các bạn hiểu đám cưới ấy là thế nào, phải nói rằng tôi trả người đàn bà tội nghiệp ấy bốn mươi xu mỗi tháng. Sáng nào bà cũng tới dọn giường, lau giày, chải quần áo, quét phòng và làm bữa sáng cho tôi. Thời gian còn lại bà đi quay tay một cái máy, làm cái nghề vất vả ấy mỗi ngày được mười xu. Chồng bà, một thợ đóng đồ gỗ, kiếm được bốn quan. Nhưng vì nhà có ba đứa con, họ chỉ vừa đủ bánh mì để ăn một cách lương thiện. Tôi chưa từng gặp sự lương thiện nào vững vàng hơn sự lương thiện của người đàn ông và người đàn bà ấy. Khi tôi đã dọn khỏi khu phố, suốt năm năm liền, bà Vai-ăng vẫn tới chúc mừng ngày lễ thánh bổn mạng của tôi, mang theo một bó hoa và mấy quả cam, bà là người chưa bao giờ dành dụm được mười xu. Cảnh nghèo đã khiến chúng tôi gần gũi nhau. Tôi chưa bao giờ cho bà được gì hơn mười quan, mà thường phải đi vay vì dịp ấy. Điều đó có thể giải thích vì sao tôi hứa đi dự đám cưới. Tôi định thu mình vào niềm vui của những người nghèo ấy.

Tiệc tùng, nhảy múa, tất cả diễn ra ở nhà một người bán rượu trên phố Sa-răng-tông, trên gác một, trong một căn phòng lớn soi bằng những cây đèn có chụp phản quang bằng sắt tây, dán một thứ giấy bẩn thỉu cao ngang mặt bàn, dọc tường kê những chiếc ghế dài bằng gỗ. Trong phòng, tám mươi người mặc quần áo ngày chủ nhật, cài hoa, thắt nơ, ai cũng hăng hái như đang trẩy hội, mặt đỏ gay, nhảy như thể ngày tận thế sắp tới. Cô dâu chú rể hôn nhau trước sự hài lòng của mọi người, kèm những tiếng "hê hê", "ha ha" bông lơn, nhưng thật ra còn ít khiếm nhã hơn những cái liếc mắt rụt rè của các cô gái con nhà gia giáo. Tất cả những người ấy toát ra một niềm vui thô mộc có cái gì đó dễ lây.

Nhưng chẳng khuôn mặt nào trong đám đông ấy, chẳng đám cưới, chẳng gì của thế giới ấy liên quan tới câu chuyện của tôi. Các bạn chỉ cần nhớ cái khung cảnh kỳ quặc. Hãy hình dung thật rõ cái quán tồi tàn sơn đỏ, ngửi mùi rượu, nghe những tiếng gào của niềm vui ấy, hãy ở lại thật lâu trong khu ngoại ô ấy, giữa những người thợ, những ông già, những người đàn bà nghèo đang say sưa với niềm vui của một đêm!

Ban nhạc gồm ba người mù ở viện người mù Canh-dơ Vanh. Người thứ nhất kéo vĩ cầm, người thứ hai thổi kèn cla-ri-nét, người thứ ba thổi sáo. Cả ba được trả gộp bảy quan cho cả đêm. Với giá ấy, dĩ nhiên họ chẳng chơi Rốt-xi-ni hay Bết-tô-ven. Họ chơi cái họ muốn và cái họ chơi được. Chẳng ai trách móc họ, thật là tế nhị dễ thương! Nhạc của họ tấn công màng nhĩ thô bạo tới mức, sau khi đưa mắt nhìn đám đông, tôi nhìn sang bộ ba mù ấy, và lập tức có ý độ lượng khi nhận ra bộ đồng phục của họ. Những nghệ sĩ ấy ngồi trong hốc một khung cửa sổ. Muốn nhìn rõ mặt họ, phải lại gần. Tôi không tới ngay. Nhưng khi tôi lại gần, chẳng hiểu vì sao, mọi sự đã định, đám cưới và tiếng nhạc biến mất, sự tò mò của tôi bị khơi lên tới tột độ, vì hồn tôi đã nhập vào thân xác người thổi kèn cla-ri-nét. Người kéo vĩ cầm và người thổi sáo đều có khuôn mặt tầm thường, khuôn mặt quen thuộc của người mù, căng thẳng, chú ý và nghiêm nghị. Nhưng khuôn mặt người thổi kèn là một trong những hiện tượng làm người nghệ sĩ và nhà triết học phải đứng sững lại.

Các bạn hãy hình dung chiếc mặt nạ thạch cao của Đan-tê, được soi bằng ánh đỏ của ngọn đèn dầu, phía trên là một rừng tóc trắng như bạc. Vẻ cay đắng và đau đớn của cái đầu tuyệt đẹp ấy càng lớn lên bởi sự mù loà, vì đôi mắt chết sống lại nhờ tư tưởng. Từ đó toả ra như một ánh sáng cháy bỏng, sinh ra từ một khát khao duy nhất, không ngừng, khắc mạnh mẽ trên một vầng trán dô có những nếp nhăn như những lớp đá của một bức tường cũ. Ông già thổi bừa, chẳng để ý chút nào tới nhịp hay điệu. Những ngón tay hạ xuống, nâng lên, lay những phím kèn cũ theo một thói quen máy móc. Ông chẳng ngại thổi những nốt chệch mà dân trong nghề gọi là tiếng vịt kêu. Người nhảy chẳng nhận ra, mà hai người bạn đồng nghiệp của ông già người Ý ấy cũng chẳng nhận ra. Vì tôi muốn ông là người Ý, và ông đúng là người Ý. Có cái gì đó vĩ đại và chuyên chế ở ông già như thi hào Hô-me-rơ này, người giữ trong mình một thiên sử thi bị kết án lãng quên. Đó là một sự vĩ đại thật tới mức nó còn chiến thắng được cảnh hèn hạ của ông. Đó là một sự chuyên chế mạnh mẽ tới mức nó còn đè bẹp được cảnh nghèo. Không một đam mê mãnh liệt nào, những đam mê dẫn con người tới cái thiện cũng như cái ác, biến con người thành tù khổ sai hay thành anh hùng, lại vắng mặt trên khuôn mặt đường nét cao quý ấy, xanh tái kiểu Ý, rợp dưới đôi lông mày hoa râm in bóng lên những hốc mắt sâu, nơi người ta run sợ khi thấy ánh sáng của tư tưởng hiện lại, như người ta sợ thấy ở cửa hang vài tên cướp cầm đuốc và dao găm. Có một con sư tử trong cái lồng thịt ấy, một con sư tử mà cơn giận đã vô ích cạn kiệt trên những song sắt. Đám cháy của tuyệt vọng đã tắt trong tro, dung nham đã nguội. Nhưng những vết nứt, những chỗ đảo lộn, một chút khói còn chứng tỏ sự dữ dội của cơn phun trào, sự tàn phá của lửa. Những ý nghĩ ấy, được khơi dậy khi nhìn người đàn ông ấy, nóng bỏng trong tâm hồn tôi bao nhiêu thì lạnh lùng trên mặt ông bấy nhiêu.

Giữa mỗi điệu nhảy, người kéo vĩ cầm và người thổi sáo, chăm chú lo cái cốc và cái chai của mình, treo nhạc cụ lên khuy chiếc áo đuôi tôm đã ngả đỏ, đưa tay tới một cái bàn nhỏ đặt trong hốc cửa sổ, nơi để đồ ăn thức uống của họ, và lúc nào cũng mời người Ý một cốc đầy, mà ông không tự lấy được, vì cái bàn ở sau lưng ghế ông. Lần nào người thổi kèn cũng gật đầu cảm ơn thân mật. Những cử động của họ chính xác tới mức làm người ta ngạc nhiên như mọi lần thấy những người mù ở viện Canh-dơ Vanh, khiến người ta tưởng họ nhìn thấy được. Tôi lại gần ba người mù để nghe họ. Nhưng khi tôi tới gần, họ dò xét tôi, hẳn nhận ra tôi không phải dân thợ, và im bặt.

— Ông thổi kèn cla-ri-nét, ông người xứ nào?

Người mù đáp, giọng hơi lơ lớ kiểu Ý:

— Người Vơ-ni-dơ.

— Ông mù từ lúc sinh ra, hay mù vì...

Ông vội đáp:

— Vì tai nạn, một cái bệnh thong manh khốn kiếp.

— Vơ-ni-dơ là một thành phố đẹp, tôi lúc nào cũng ao ước được tới đó.

Khuôn mặt ông già bừng lên, những nếp nhăn rung động, ông xúc động mãnh liệt.

Ông bảo tôi:

— Nếu tôi đi cùng anh tới đó, anh sẽ không phí thời gian đâu.

Người kéo vĩ cầm bảo tôi:

— Đừng nói với lão chuyện Vơ-ni-dơ, không thì ngài thống lĩnh của chúng tôi lại bắt đầu giở trò. Thêm cái là lão đã nốc hai chai vào bụng rồi đấy, cái ông hoàng ấy!

Người thổi sáo bảo:

— Nào, tiến lên, bố Vịt.

Cả ba bắt đầu chơi. Nhưng trong khi họ chơi bốn điệu nhảy, người Vơ-ni-dơ cứ đánh hơi tôi, ông đoán ra sự quan tâm quá mức của tôi tới ông. Khuôn mặt ông rời bỏ vẻ buồn lạnh lùng. Một niềm hy vọng nào đó làm sáng bừng mọi nét trên mặt ông, len như một ngọn lửa xanh vào những nếp nhăn. Ông mỉm cười, lau trán, cái trán táo bạo và khủng khiếp ấy. Rồi ông trở nên vui vẻ như người được cưỡi lên con ngựa gỗ yêu thích của mình.

Tôi hỏi ông:

— Ông bao nhiêu tuổi?

— Tám mươi hai!

— Ông mù từ bao giờ?

Ông đáp:

— Gần năm mươi năm rồi.

Giọng ông cho thấy nỗi tiếc nuối của ông không chỉ vì mất đôi mắt, mà vì một quyền lực lớn lao nào đó ông đã bị tước mất.

Tôi hỏi ông:

— Vì sao họ gọi ông là ngài thống lĩnh?

Ông bảo:

— À, trò đùa ấy mà. Tôi là quý tộc Vơ-ni-dơ, và tôi đã có thể làm thống lĩnh như bao người khác.

— Thế ông tên là gì?

Ông bảo:

— Ở đây thì là bố Ca-nê. Trong sổ sách người ta chẳng bao giờ viết tên tôi khác đi được. Nhưng bằng tiếng Ý thì là Mác-cô Pha-xi-nô Ca-nê, hoàng thân xứ Va-rê-dê.

— Sao cơ? Ông là hậu duệ của tướng đánh thuê lừng danh Pha-xi-nô Ca-nê, người mà những đất đai chinh phục được đã về tay các công tước Mi-lan ư?

Ông bảo:

— Đúng thế. Thời ấy, để khỏi bị dòng họ Vít-côn-ti giết, con trai Ca-nê trốn sang Vơ-ni-dơ và được ghi tên vào Sổ Vàng của giới quý tộc. Nhưng bây giờ chẳng còn nhà Ca-nê, cũng như chẳng còn cuốn sổ.

Rồi ông làm một cử chỉ đáng sợ, biểu lộ một lòng yêu nước đã tắt và nỗi ghê tởm mọi chuyện ở đời.

— Nhưng nếu ông là nguyên lão Vơ-ni-dơ, ông phải giàu lắm. Sao ông lại mất hết gia sản?

Nghe câu hỏi ấy, ông ngẩng đầu về phía tôi, như để ngắm tôi bằng một cử động thật bi tráng, và đáp:

— Vì những bất hạnh!

Ông không nghĩ tới uống nữa. Ông khoát tay từ chối cốc rượu ông già thổi sáo vừa đưa, rồi cúi đầu. Những chi tiết ấy chẳng phải thứ dập tắt được sự tò mò của tôi. Trong điệu nhảy mà ba cái máy ấy chơi, tôi ngắm nhà quý tộc già người Vơ-ni-dơ với những tình cảm thiêu đốt một chàng trai hai mươi tuổi. Tôi thấy Vơ-ni-dơ và biển A-đri-a-tích, tôi thấy nó đổ nát trên khuôn mặt đổ nát kia. Tôi dạo bước trong thành phố mà người dân ở đó yêu quý biết bao, tôi đi từ cầu Ri-an-tô tới kênh Lớn, từ bến Xla-vơ tới đảo Li-đô, tôi trở lại nhà thờ chính toà tuyệt mỹ một cách độc đáo của nó. Tôi ngắm những khung cửa sổ của Lâu đài Vàng, mỗi khung trang trí một kiểu. Tôi chiêm ngưỡng những toà lâu đài cổ giàu cẩm thạch, tóm lại là tất cả những kỳ quan mà nhà học giả càng đồng cảm vì có thể tô màu tuỳ ý, không để cảnh thực làm mất chất thơ trong giấc mơ của mình. Tôi lần ngược dòng đời của người con cháu vị tướng đánh thuê vĩ đại nhất này, tìm trong đó dấu vết những bất hạnh của ông và nguyên nhân của sự sa sút sâu sắc về thể xác lẫn tinh thần, điều càng làm đẹp thêm những tia lửa vĩ đại và cao quý đang bùng lại lúc này. Hẳn ý nghĩ của chúng tôi đã gặp nhau, vì tôi tin sự mù loà làm cho sự giao cảm tinh thần nhanh hơn nhiều, khi nó ngăn không cho sự chú ý tản mát vào những vật bên ngoài. Bằng chứng về sự đồng cảm của chúng tôi tới ngay. Pha-xi-nô Ca-nê ngừng chơi, đứng dậy, tới bên tôi và nói:

— Ta đi thôi!

Câu ấy tác động vào tôi như một luồng điện. Tôi đưa tay cho ông khoác, và chúng tôi đi.

— Hết chương 1 —

Mục lục Pha-xi-nô Ca-nê

  1. 1Người thổi kèn mù13 phút
  2. 2Kho báu của nền Cộng hoàĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảHonoré de Balzac (1799 – 1850)
Năm mất1850
Xuất bản lần đầu1836
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Facino Cane, Œuvres complètes de H. de Balzac, bản Wikisource tiếng Pháp
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →