Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Dãy nhà phụ sau sân bệnh viện

Phòng số 6 · Chương 1/6 · của Anton Chekhov

⏱ 22 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 22.350 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trong sân bệnh viện có một dãy nhà phụ…
  2. 2:29Ở đây cả thảy có năm người. Chỉ một…
  3. 5:42Tôi thích khuôn mặt rộng, gò má cao của…
  4. 10:33Trong thành phố, mặc dù những nhận xét gay…
  5. 14:34Thế là đối với I-van Đmi-tri-tsơ, những ngày đêm…
  6. 18:55Người hàng xóm bên trái của I-van Đmi-tri-tsơ, như…
  7. 20:42I-van Đmi-tri-tsơ đáp, giọng cau có:
  8. 21:39Ở phòng số sáu, hiếm khi người ta thấy…

Chương 1: Dãy nhà phụ sau sân bệnh viện

Trong sân bệnh viện có một dãy nhà phụ nhỏ, xung quanh mọc um tùm cả một rừng ngưu bàng, tầm ma và gai dại. Mái nhà gỉ sét, ống khói đổ mất một nửa, bậc thềm mục nát và cỏ mọc đầy, còn lớp vữa trát thì chỉ sót lại vài vết loang lổ. Mặt trước ngôi nhà quay về phía bệnh viện, mặt sau nhìn ra cánh đồng, ngăn cách bằng một bức tường rào màu xám của bệnh viện, trên đầu cắm đinh. Những chiếc đinh chĩa mũi nhọn lên trời ấy, cả bức rào, cả chính ngôi nhà, đều mang cái vẻ ảm đạm, khốn khổ đặc biệt mà ở xứ ta chỉ những bệnh viện và nhà tù mới có.

Nếu bạn không sợ tầm ma đốt, thì ta hãy theo lối mòn hẹp dẫn tới ngôi nhà, xem bên trong có những gì. Mở cánh cửa thứ nhất, ta bước vào gian ngoài. Ở đây, dọc tường và quanh lò sưởi, đồ phế thải của bệnh viện chất thành từng đống. Đệm, áo choàng cũ rách bươm, quần, sơ mi kẻ sọc xanh, giày dép mòn vẹt chẳng còn dùng vào đâu được, tất cả chỗ giẻ rách ấy bị dồn thành đống, nhàu nát, quấn vào nhau, mục ra và bốc lên một mùi ngột ngạt.

Trên đống giẻ ấy, lúc nào cũng có lão gác Ni-ki-ta nằm, tẩu thuốc ngậm trên môi. Lão là một người lính già giải ngũ, trên tay áo còn những vạch cấp hiệu đã bạc màu. Mặt lão khắc khổ, hốc hác vì rượu, đôi lông mày rậm rủ xuống khiến lão trông như một con chó chăn cừu trên thảo nguyên, mũi thì đỏ ửng. Lão không cao, người khô đét, gân guốc, nhưng dáng đứng oai vệ, và đôi nắm tay thì to tướng. Lão thuộc vào hạng người chất phác, nghiêm chỉnh, mẫn cán và đần độn, những người yêu trật tự hơn hết thảy trên đời, và vì thế tin chắc rằng phải đánh người ta mới được. Lão đánh vào mặt, vào ngực, vào lưng, trúng đâu đánh đấy, và đinh ninh rằng không có những trận đòn ấy thì ở đây chẳng còn trật tự gì nữa.

Đi qua gian ngoài, bạn bước vào một căn phòng lớn, rộng rãi, chiếm trọn cả ngôi nhà. Tường ở đây quét một thứ sơn xanh lơ bẩn thỉu, trần ám khói đen như trong một túp lều không có ống khói. Rõ là mùa đông, lò ở đây bốc khói và khí than làm người ta nhức đầu. Cửa sổ bên trong bị những song sắt làm cho méo mó, xấu xí. Sàn nhà xám xịt, đầy dằm gỗ. Căn phòng sặc mùi bắp cải chua, mùi bấc đèn cháy khét, mùi rệp và mùi khai, và trong phút đầu, thứ mùi ấy khiến bạn có cảm giác như mình đang bước vào một chuồng thú.

Trong phòng kê mấy chiếc giường bắt vít chặt xuống sàn. Trên giường, có người ngồi, có người nằm, mặc áo choàng bệnh viện màu xanh và đội mũ chụp kiểu xưa. Đó là những người điên.

Ở đây cả thảy có năm người. Chỉ một người thuộc dòng dõi quý tộc, còn lại đều là dân thị thành. Người thứ nhất, nằm gần cửa, là một anh thị dân cao, gầy, ria mép đỏ hoe óng ánh, đôi mắt lúc nào cũng như vừa khóc. Anh ta ngồi chống tay lên đầu, nhìn đăm đăm vào một điểm. Ngày cũng như đêm, anh ta buồn rầu, lắc đầu, thở dài và mỉm cười cay đắng. Anh ta ít khi góp chuyện, hỏi gì thường cũng không đáp. Người ta đưa gì thì anh ta ăn uống nấy, như một cái máy. Cứ xem cơn ho dữ dội hành hạ anh ta, xem thân hình gầy gò và hai gò má ửng đỏ, thì biết anh ta đang chớm bệnh lao.

Kế đó là một ông già nhỏ thó, lanh lợi, nhanh nhẹn lạ thường, chòm râu nhọn, mái tóc đen xoăn tít. Ban ngày ông đi dạo trong phòng, từ cửa sổ này sang cửa sổ kia, hoặc ngồi xếp bằng trên giường, huýt sáo không ngớt như một con chim sẻ đỏ, hát khe khẽ và cười khúc khích. Cả ban đêm ông cũng vẫn vui vẻ như trẻ con, vẫn hoạt bát như thế, khi ông thức dậy để cầu nguyện, nghĩa là để đấm thùm thụp vào ngực mình và lấy ngón tay cậy cậy vào khe cửa. Đó là ông già Do Thái Môi-xây-ca, một người khờ dại, mất trí đã hai mươi năm nay, từ hồi xưởng làm mũ của ông bị cháy rụi.

Trong tất cả những người ở phòng số sáu, chỉ một mình ông được phép ra khỏi dãy nhà, thậm chí ra khỏi sân bệnh viện mà đi ngoài phố. Ông được hưởng đặc ân ấy từ lâu rồi, có lẽ vì là người cũ nhất của bệnh viện, và vì là một kẻ khờ hiền lành vô hại, một anh hề của thành phố mà người ta đã quen nhìn thấy ngoài đường, lúc nào cũng có lũ trẻ con và lũ chó vây quanh. Mặc chiếc áo choàng tồi tàn, đội cái mũ chụp buồn cười, đi dép lê, có khi đi chân đất, thậm chí không mặc quần, ông lang thang khắp phố, dừng lại trước các cổng nhà và các cửa hiệu, xin một đồng xu. Chỗ này người ta cho ông cốc nước kvas, chỗ kia cho mẩu bánh mì, chỗ nọ cho một đồng xu, nên thường thì ông trở về dãy nhà vừa no bụng vừa giàu có. Tất cả những gì ông mang về đều bị Ni-ki-ta tịch thu làm của riêng. Lão lính làm việc ấy một cách thô bạo, cáu kỉnh, lộn trái các túi áo của ông ra, và lấy Chúa ra làm chứng mà thề rằng từ nay lão sẽ không bao giờ cho lão Do Thái ra phố nữa, rằng đối với lão, cái sự lộn xộn là điều tệ hại nhất trên đời.

Môi-xây-ca thích giúp đỡ người khác. Ông bưng nước cho bạn cùng phòng, đắp chăn cho họ khi họ ngủ, hứa với từng người sẽ mang ở ngoài phố về cho mỗi người một đồng xu và may cho mỗi người một cái mũ mới. Chính ông đút thìa cho người hàng xóm bên trái, một người bị liệt. Ông làm thế không phải vì lòng trắc ẩn, cũng chẳng phải vì một lẽ nhân đạo nào, mà chỉ vì bắt chước, và bất giác phục tùng người hàng xóm bên phải của mình, Grô-mốp.

I-van Đmi-tri-tsơ Grô-mốp, chừng ba mươi ba tuổi, xuất thân quý tộc, trước làm mõ toà và từng giữ hàm thư ký tỉnh, mắc chứng điên vì tưởng mình bị truy đuổi. Lúc thì anh nằm co quắp trên giường, lúc thì đi đi lại lại từ góc này sang góc kia như để vận động, rất hiếm khi ngồi. Lúc nào anh cũng bị kích động, bồn chồn, căng thẳng vì một sự chờ đợi gì đó mơ hồ, không rõ rệt. Chỉ cần một tiếng sột soạt nhỏ nhất ngoài gian ngoài hay một tiếng kêu ngoài sân là anh ngẩng phắt đầu lên lắng nghe: có phải người ta đến bắt anh không? Có phải người ta đang tìm anh không? Và những lúc ấy, mặt anh hiện rõ một nỗi lo âu tột độ và một vẻ ghê tởm.

Tôi thích khuôn mặt rộng, gò má cao của anh, lúc nào cũng tái nhợt và khổ sở, phản chiếu như trong một tấm gương một tâm hồn đã bị giày vò vì vật lộn và vì nỗi sợ kéo dài. Những cái nhăn nhó của anh kỳ quặc và bệnh hoạn, nhưng những đường nét thanh tú mà nỗi khổ đau sâu xa và chân thành đã in lên mặt anh lại thông minh, có học thức, và trong đôi mắt có một ánh sáng ấm áp, lành mạnh. Tôi thích cả con người anh, lễ độ, sẵn lòng giúp đỡ và tế nhị lạ lùng với tất cả mọi người, trừ Ni-ki-ta. Hễ có ai đánh rơi chiếc khuy hay cái thìa, anh vội vàng nhảy khỏi giường nhặt lên. Sáng nào anh cũng chào các bạn cùng phòng, chúc buổi sáng tốt lành, và lúc đi ngủ thì chúc họ ngủ ngon.

Ngoài cái trạng thái lúc nào cũng căng thẳng và những cái nhăn nhó, bệnh điên của anh còn lộ ra ở điều này. Đôi khi, vào buổi tối, anh quấn chặt chiếc áo choàng vào người, toàn thân run lên, hai hàm răng va lập cập, rồi bắt đầu đi rất nhanh từ góc này sang góc kia, len giữa các giường. Trông như anh đang lên cơn sốt rét nặng. Cứ xem cái cách anh đột ngột dừng lại, đưa mắt nhìn các bạn cùng phòng, cũng biết anh muốn nói một điều gì rất quan trọng. Nhưng hình như nghĩ rằng chẳng ai nghe mình, hoặc nghe cũng chẳng hiểu, anh sốt ruột lắc đầu rồi lại đi tiếp. Song chẳng bao lâu, cái ý muốn được nói lấn át mọi điều cân nhắc, anh buông thả mình và nói, nói hăng say, nói say mê. Lời anh lộn xộn, hổn hển như mê sảng, đứt quãng và không phải lúc nào cũng dễ hiểu. Nhưng bù lại, trong đó, cả trong lời lẽ lẫn giọng nói, người ta nghe thấy một điều gì tốt đẹp vô cùng. Khi anh nói, bạn nhận ra ở anh vừa một người điên vừa một con người. Thật khó mà ghi lại trên giấy những lời điên dại ấy. Anh nói về sự đê tiện của con người, về bạo lực chà đạp lên lẽ phải, về cuộc sống tươi đẹp rồi đây sẽ có trên trái đất, về những song sắt cửa sổ lúc nào cũng nhắc anh nhớ tới sự ngu xuẩn và tàn ác của bọn cường bạo. Tất cả thành một mớ hỗn độn, một bản liên khúc chắp vá những bài ca cũ nhưng chưa ai hát trọn.

Chừng mười hai, mười lăm năm về trước, ở trong thành phố, ngay trên phố chính, có một viên chức tên là Grô-mốp sống trong ngôi nhà riêng của mình. Ông là người đứng đắn và khá giả. Ông có hai con trai là Xéc-gây và I-van. Đang học năm thứ tư đại học thì Xéc-gây mắc bệnh lao phổi cấp rồi chết. Cái chết ấy dường như mở đầu cho cả một chuỗi tai hoạ bỗng dồn dập đổ xuống gia đình Grô-mốp. Một tuần sau đám tang Xéc-gây, ông bố già bị đưa ra toà vì tội giả mạo giấy tờ và biển thủ công quỹ, rồi chẳng bao lâu chết vì bệnh thương hàn trong bệnh xá nhà tù. Nhà cửa và toàn bộ đồ đạc bị đem ra bán đấu giá, I-van Đmi-tri-tsơ và mẹ chẳng còn chút của cải gì.

Ngày trước, khi bố còn sống, I-van Đmi-tri-tsơ học đại học ở Pê-téc-bua, mỗi tháng nhận sáu bảy chục rúp, chẳng hề biết túng thiếu là gì. Giờ đây anh phải thay đổi hẳn cuộc sống. Từ sáng tới tối anh phải đi dạy những giờ học tư rẻ mạt, nhận việc chép thuê, mà vẫn đói, vì bao nhiêu tiền kiếm được đều gửi về cho mẹ ăn. I-van Đmi-tri-tsơ không chịu nổi cuộc sống ấy. Anh nản lòng, ốm yếu đi, rồi bỏ đại học mà về quê. Ở thị trấn này, nhờ có người nâng đỡ, anh được làm giáo viên trường huyện, nhưng không hợp với đồng nghiệp, học trò lại không ưa, nên chẳng bao lâu anh bỏ việc. Mẹ anh mất. Anh thất nghiệp đến nửa năm, chỉ ăn bánh mì với nước lã, rồi vào làm mõ toà. Anh giữ chức ấy cho tới khi bị cho thôi việc vì bệnh.

Chưa bao giờ, kể cả những năm tuổi trẻ còn là sinh viên, anh trông ra dáng một người khoẻ mạnh. Lúc nào anh cũng xanh xao, gầy gò, hay bị cảm, ăn ít, ngủ kém. Chỉ một ly rượu là anh đã choáng váng và lên cơn kích động. Anh luôn muốn gần gũi mọi người, nhưng vì tính khí dễ cáu và đa nghi, anh chẳng thân thiết với ai, cũng chẳng có bạn. Nói về dân thành phố, bao giờ anh cũng khinh bỉ, bảo rằng sự ngu dốt thô lỗ và cái lối sống thú vật ngái ngủ của họ khiến anh thấy ghê tởm. Anh nói giọng nam cao, to, sôi nổi, và chẳng bao giờ nói khác đi được: hoặc là phẫn nộ và bất bình, hoặc là hân hoan và kinh ngạc, và bao giờ cũng thành thật. Nói với anh chuyện gì, rốt cuộc anh cũng quy về một điều: sống trong thành phố này ngột ngạt và buồn chán, xã hội chẳng có mối quan tâm nào cao cả, nó sống một cuộc đời mờ nhạt, vô nghĩa, điểm xuyết bằng bạo lực, sự trác táng thô bỉ và thói đạo đức giả. Bọn đê tiện thì no ấm, còn người lương thiện thì sống bằng những mẩu vụn. Cần có trường học, có một tờ báo địa phương có khuynh hướng lương thiện, có nhà hát, có những buổi đọc sách cho công chúng, cần những người trí thức đoàn kết lại. Cần làm sao cho xã hội tự nhận ra mình và kinh hoàng. Khi nhận xét về người khác, anh tô những màu thật đậm, chỉ có trắng và đen, không chấp nhận bất cứ sắc thái trung gian nào. Với anh, nhân loại chia làm hai hạng, người lương thiện và kẻ đê tiện, chẳng có hạng ở giữa. Nói về đàn bà và tình yêu, bao giờ anh cũng say sưa, hào hứng, nhưng chưa từng yêu ai bao giờ.

Trong thành phố, mặc dù những nhận xét gay gắt và tính tình dễ kích động của anh, người ta vẫn quý anh, và sau lưng anh vẫn trìu mến gọi anh là Va-nhi-a. Cái tế nhị bẩm sinh, lòng sẵn sàng giúp đỡ, sự đứng đắn, trong sạch về đạo đức, rồi cả chiếc áo đuôi tôm sờn cũ, vẻ ốm yếu và những bất hạnh của gia đình anh, khơi lên trong lòng người ta một tình cảm tốt đẹp, ấm áp và buồn buồn. Vả lại, anh có học vấn, đọc nhiều, và theo ý dân thành phố thì anh biết hết mọi thứ, là một thứ từ điển sống của thành phố.

Anh đọc rất nhiều. Có những hôm anh ngồi suốt ở câu lạc bộ, tay mân mê chòm râu một cách bồn chồn, lật giở hết tạp chí này tới sách nọ. Nhìn mặt anh thì biết anh không đọc mà là nuốt chửng, chưa kịp nhai đã nuốt. Hẳn đọc sách cũng là một trong những thói quen bệnh hoạn của anh, vì anh lao vào bất cứ thứ gì vớ được với cùng một sự háo hức như nhau, kể cả những tờ báo và những cuốn lịch từ năm ngoái. Ở nhà, bao giờ anh cũng nằm mà đọc.

Một buổi sáng mùa thu, I-van Đmi-tri-tsơ dựng cổ áo măng tô lên, lội lép bép trong bùn, len qua các ngõ hẻm và các sân sau, tới nhà một người thị dân để đòi một khoản tiền theo lệnh thi hành án. Tâm trạng anh u ám, như mọi buổi sáng. Trong một con hẻm, anh gặp hai người tù mang xiềng, cùng bốn người lính áp giải vác súng. Trước đây, I-van Đmi-tri-tsơ vẫn thường gặp tù nhân, và lần nào họ cũng khơi lên trong anh một niềm thương cảm lẫn một cảm giác ngượng ngùng. Nhưng lần này, cuộc gặp gỡ để lại trong anh một ấn tượng đặc biệt, kỳ lạ. Chẳng hiểu vì sao, anh bỗng có cảm giác rằng người ta cũng có thể xiềng anh lại, và cũng giải anh đi qua bùn lầy như thế mà vào nhà tù. Xong việc ở nhà người thị dân, trên đường về, gần bưu điện anh gặp một viên cảnh sát quen. Ông ta chào anh và đi cùng anh vài bước trên phố, và chẳng hiểu vì sao anh thấy điều đó thật đáng ngờ. Về đến nhà, suốt ngày hôm ấy, những người tù và những người lính vác súng cứ lởn vởn trong đầu anh, và một nỗi lo âu khó hiểu trong lòng khiến anh không đọc được, không tập trung được. Buổi tối anh không thắp đèn, còn ban đêm thì thức trắng, cứ nghĩ mãi rằng người ta có thể bắt anh, xiềng anh lại và tống vào tù. Anh không thấy mình có tội gì, và có thể cam đoan rằng cả về sau này nữa, anh cũng sẽ chẳng bao giờ giết người, đốt nhà hay trộm cắp. Nhưng phạm tội một cách tình cờ, ngoài ý muốn, có gì là khó? Và chẳng lẽ không thể có chuyện vu khống, hay rốt cuộc, một sự lầm lẫn của toà án? Dân gian đã đúc kết từ bao đời, chẳng phải vô cớ mà khuyên rằng đừng ai dám chắc mình thoát được cái bị ăn mày và cảnh tù tội. Mà với cách xử án như bây giờ, toà án xử lầm là chuyện rất dễ xảy ra, chẳng có gì khó hiểu cả. Những người vì công việc mà phải dính dáng tới nỗi đau khổ của kẻ khác, như quan toà, cảnh sát, bác sĩ, theo thời gian, vì thói quen, trở nên chai cứng tới mức có muốn cũng không thể đối xử với thân chủ mình khác đi được, ngoài cái lối làm cho đủ thủ tục. Về mặt ấy, họ chẳng khác gì anh nông dân giết cừu, giết bê sau nhà mà không còn trông thấy máu. Với cái lối đối xử chiếu lệ, vô hồn với con người như thế, muốn tước hết mọi quyền của một người vô tội và kết án anh ta khổ sai, quan toà chỉ cần một thứ: thời gian. Chỉ cần thời gian để làm cho đủ vài thủ tục mà nhờ chúng ông ta được lĩnh lương, thế là xong hết. Rồi sau đấy cứ việc đi tìm công lý và sự che chở ở cái thành phố nhỏ bé, bẩn thỉu này, cách đường sắt hai trăm dặm! Mà nghĩ đến công lý chẳng phải là buồn cười sao, khi mọi hành vi bạo lực đều được xã hội đón nhận như một sự cần thiết hợp lý và hữu ích, còn mọi hành vi khoan dung, chẳng hạn một bản án tha bổng, thì lại làm bùng lên cả một cơn bất mãn và thù hằn?

Buổi sáng, I-van Đmi-tri-tsơ kinh hoàng nhỏm dậy, trán đẫm mồ hôi lạnh, giờ đã tin chắc rằng người ta có thể bắt anh bất cứ lúc nào. Anh nghĩ, nếu những ý nghĩ nặng nề hôm qua đeo đẳng anh lâu như thế, thì hẳn chúng cũng có phần nào sự thật. Chẳng lẽ chúng tự dưng lại nảy ra trong đầu mà không có cớ gì hay sao.

Một viên cảnh sát thong thả đi ngang qua cửa sổ. Chẳng phải vô cớ đâu. Kìa có hai người dừng lại gần nhà mà không nói gì. Tại sao họ lại im lặng?

Thế là đối với I-van Đmi-tri-tsơ, những ngày đêm đau khổ bắt đầu. Tất cả những ai đi ngang qua cửa sổ hay bước vào sân đều có vẻ là mật thám và chỉ điểm. Buổi trưa, quan cảnh sát trưởng huyện thường ngồi xe hai ngựa đi qua phố, ông từ trang trại ở ngoại ô vào sở cảnh sát. Nhưng lần nào I-van Đmi-tri-tsơ cũng thấy ông đi quá nhanh, với một vẻ mặt khác thường: rõ ràng ông đang vội đi báo rằng trong thành phố vừa xuất hiện một tên tội phạm rất nguy hiểm. Hễ có tiếng chuông hay tiếng gõ cổng là I-van Đmi-tri-tsơ giật mình. Anh thấy bứt rứt khổ sở mỗi khi gặp một người lạ ở nhà bà chủ. Gặp cảnh sát hay hiến binh, anh mỉm cười và huýt sáo để ra vẻ thản nhiên. Anh thức trắng hết đêm này qua đêm khác chờ bị bắt, nhưng lại ngáy to và thở dài như người đang ngủ say, để bà chủ tưởng anh ngủ. Vì nếu không ngủ được, tức là anh đang bị lương tâm cắn rứt, chứng cứ rành rành ra đấy! Thực tế và lẽ phải thông thường bảo anh rằng tất cả những nỗi sợ ấy chỉ là chuyện vớ vẩn, là bệnh thần kinh, rằng nếu nhìn rộng ra thì bị bắt và ngồi tù, thực chất, chẳng có gì đáng sợ, miễn là lương tâm yên ổn. Nhưng anh càng lập luận khôn ngoan, chặt chẽ bao nhiêu, nỗi lo âu trong lòng anh lại càng mạnh mẽ và day dứt bấy nhiêu. Giống như chuyện một ẩn sĩ muốn phát một khoảng đất cho mình giữa rừng nguyên sinh: lão càng hăng hái vung rìu bao nhiêu, rừng lại càng mọc dày, mọc rậm bấy nhiêu. Rốt cuộc, thấy lập luận chẳng ích gì, I-van Đmi-tri-tsơ thôi hẳn, và buông mình hoàn toàn cho nỗi tuyệt vọng và sợ hãi.

Anh bắt đầu sống cô độc, lánh mặt mọi người. Công việc trước kia anh đã chán ghét, nay lại càng không chịu nổi. Anh sợ người ta sẽ gài bẫy anh bằng cách nào đó, lén bỏ tiền hối lộ vào túi anh rồi tố giác, hay chính anh lỡ tay viết sai một chỗ trong giấy tờ nhà nước mà thành ra tội giả mạo, hoặc đánh mất tiền của người khác. Lạ một điều là chưa bao giờ đầu óc anh linh hoạt và nhiều sáng kiến như lúc này, khi mỗi ngày anh nghĩ ra hàng nghìn lý do khác nhau để thực sự lo sợ cho tự do và danh dự của mình. Nhưng bù lại, mối quan tâm của anh đến thế giới bên ngoài, nhất là đến sách vở, giảm sút hẳn, và trí nhớ của anh cũng bắt đầu kém đi nhiều.

Mùa xuân, khi tuyết tan, người ta tìm thấy trong khe núi gần nghĩa trang hai cái xác đã thối rữa một nửa, một bà lão và một đứa bé trai, có dấu hiệu bị giết. Cả thành phố chẳng bàn chuyện gì khác ngoài hai cái xác ấy và những kẻ giết người chưa rõ mặt. I-van Đmi-tri-tsơ, để người ta khỏi nghĩ chính anh là kẻ giết người, cứ đi ngoài phố mà mỉm cười, còn khi gặp người quen thì tái mặt, đỏ mặt và bắt đầu quả quyết rằng chẳng có tội ác nào đê tiện hơn giết người yếu đuối và không có gì tự vệ. Nhưng chẳng bao lâu, sự dối trá ấy làm anh mệt mỏi, và sau một hồi suy nghĩ, anh quyết định rằng trong hoàn cảnh của anh, tốt hơn cả là trốn xuống hầm chứa của bà chủ nhà. Anh ngồi dưới hầm một ngày, rồi một đêm, rồi thêm một ngày nữa, rét cóng cả người, rồi đợi trời tối, anh lén lút như một tên trộm, mò về phòng mình. Anh đứng giữa phòng cho đến sáng, không nhúc nhích, lắng tai nghe ngóng. Sáng sớm, trước khi mặt trời mọc, mấy người thợ lò đến nhà bà chủ. I-van Đmi-tri-tsơ biết rõ họ đến để xây lại cái lò trong bếp, nhưng nỗi sợ thì thầm với anh rằng đó là cảnh sát giả làm thợ lò. Anh khẽ khàng ra khỏi nhà, rồi, kinh hoàng tột độ, đầu trần, không mặc áo ngoài, anh chạy bán sống bán chết ra phố. Lũ chó sủa vang đuổi theo anh, đâu đó sau lưng có một người đàn ông gào lên, gió rít bên tai, và I-van Đmi-tri-tsơ có cảm giác như bạo lực của cả thế gian đã dồn lại sau lưng anh và đang đuổi theo anh.

Người ta giữ anh lại, đưa về nhà và bảo bà chủ đi mời bác sĩ. Bác sĩ Ăng-đrây Ê-phi-mư-tsơ, người mà rồi đây chúng ta sẽ nói tới, kê đơn chườm lạnh trên đầu và thuốc nhỏ nguyệt quế anh đào, buồn rầu lắc đầu rồi ra về, dặn bà chủ rằng ông sẽ không đến nữa, vì không nên ngăn cản người ta hoá điên. Ở nhà chẳng có gì để sống, cũng chẳng có gì để chữa bệnh, nên ít lâu sau I-van Đmi-tri-tsơ bị đưa vào bệnh viện và xếp nằm ở phòng dành cho người mắc bệnh hoa liễu. Ban đêm anh không ngủ, giở chứng và quấy rầy những người bệnh khác, nên chẳng bao lâu, theo lệnh Ăng-đrây Ê-phi-mư-tsơ, anh bị chuyển sang phòng số sáu.

Một năm sau, cả thành phố đã quên hẳn I-van Đmi-tri-tsơ, còn sách vở của anh, bà chủ nhà vứt lên chiếc xe trượt tuyết để dưới mái hiên, thì bị lũ trẻ con lấy dần đi hết.

Người hàng xóm bên trái của I-van Đmi-tri-tsơ, như tôi đã nói, là ông già Do Thái Môi-xây-ca, còn người hàng xóm bên phải là một anh nông dân béo phị, gần như tròn quay, mặt mũi đần độn, hoàn toàn vô hồn. Đó là một con vật bất động, phàm ăn và bẩn thỉu, đã mất từ lâu khả năng suy nghĩ và cảm nhận. Lúc nào từ người anh ta cũng bốc ra một mùi hôi nồng nặc, ngột ngạt.

Ni-ki-ta, người phải dọn dẹp cho anh ta, đánh anh ta khủng khiếp, vung hết sức, chẳng tiếc gì nắm đấm. Và điều khủng khiếp ở đây không phải là anh ta bị đánh, vì cái đó rồi người ta cũng quen đi được, mà là con vật đã u mê ấy không đáp lại những trận đòn bằng một tiếng động, một cử chỉ, hay một ánh mắt nào, mà chỉ khẽ lắc lư như một cái thùng nặng.

Người thứ năm, cũng là người cuối cùng ở phòng số sáu, là một thị dân trước kia làm nhân viên phân loại thư ở bưu điện, một người nhỏ thó, gầy gò, tóc vàng, gương mặt hiền lành nhưng có phần láu lỉnh. Cứ xem đôi mắt thông minh, điềm tĩnh, nhìn sáng sủa và vui vẻ của anh, thì biết anh là người có tính toán, và đang giữ một bí mật gì đó rất quan trọng, rất dễ chịu. Dưới gối và dưới đệm, anh giấu một thứ gì đó không cho ai xem, không phải vì sợ người ta lấy mất hay ăn cắp, mà vì e thẹn. Đôi khi anh đến bên cửa sổ, quay lưng về phía các bạn cùng phòng, đeo một vật gì đó lên ngực rồi cúi đầu ngắm nghía. Nếu lúc ấy có ai lại gần, anh sẽ bối rối và giật vội vật ấy khỏi ngực. Nhưng bí mật của anh thì chẳng khó đoán.

Anh thường nói với I-van Đmi-tri-tsơ:

— Anh chúc mừng tôi đi, tôi vừa được đề nghị tặng huân chương Xta-nhi-xláp hạng nhì có đính sao. Hạng nhì đính sao thì chỉ trao cho người nước ngoài thôi, nhưng chẳng hiểu sao người ta lại muốn đặc cách cho tôi. – Anh mỉm cười, ngơ ngác nhún vai. – Thú thật, tôi không ngờ đấy!

I-van Đmi-tri-tsơ đáp, giọng cau có:

— Tôi chẳng hiểu gì về những chuyện ấy cả.

Người phân loại thư cũ nheo mắt ranh mãnh, nói tiếp:

— Nhưng anh có biết sớm muộn gì tôi cũng sẽ được cái gì không? Nhất định tôi sẽ được huân chương Sao Bắc Cực của Thuỵ Điển. Cái huân chương ấy đáng để chạy vạy lắm. Chữ thập trắng với dải băng đen. Đẹp lắm cơ.

Có lẽ chẳng ở đâu cuộc sống lại đơn điệu bằng trong dãy nhà phụ này. Buổi sáng, trừ người bị liệt và anh nông dân béo, những người bệnh rửa mặt ở gian ngoài, trong một cái chậu gỗ lớn, rồi lau mặt bằng vạt áo choàng. Sau đó họ uống trà trong những chiếc ca thiếc do Ni-ki-ta mang từ toà nhà chính sang. Mỗi người được một ca. Buổi trưa họ ăn xúp bắp cải chua và cháo kiều mạch, buổi tối ăn nốt chỗ cháo còn thừa từ bữa trưa. Giữa các bữa ăn, họ nằm, ngủ, nhìn ra cửa sổ và đi đi lại lại từ góc này sang góc kia. Ngày nào cũng thế. Đến cả anh phân loại thư cũ cũng chỉ nói đi nói lại về mấy cái huân chương ấy.

Ở phòng số sáu, hiếm khi người ta thấy một gương mặt mới. Từ lâu bác sĩ đã không nhận thêm người điên nào, mà những kẻ thích đi thăm nhà thương điên thì trên đời này cũng chẳng có mấy. Cứ hai tháng một lần, anh thợ cạo Xê-miôn La-da-rư-tsơ lại đến dãy nhà phụ. Anh ta cắt tóc cho những người điên ra sao, Ni-ki-ta giúp anh ta ra sao, và những người bệnh hoảng loạn đến thế nào mỗi lần anh thợ cạo say khướt, miệng cười toe toét, xuất hiện, thì chúng ta sẽ không nói đến.

Ngoài anh thợ cạo ra, chẳng ai ghé vào dãy nhà phụ. Những người bệnh bị kết án ngày này qua ngày khác chỉ được nhìn thấy mỗi mình Ni-ki-ta.

Thế nhưng, mới đây, khắp toà nhà bệnh viện bỗng loan đi một tin đồn khá lạ lùng.

Người ta đồn rằng bác sĩ bắt đầu hay lui tới phòng số sáu.

— Hết chương 1 —

Mục lục Phòng số 6

  1. 1Dãy nhà phụ sau sân bệnh viện22 phút
  2. 2Ông bác sĩ không biết ra lệnhĐang thu âm
  3. 3Người bạn trò chuyện sau song sắtĐang thu âm
  4. 4Hội đồng giám định và chuyến đi xaĐang thu âm
  5. 5Vòng tròn ma thuậtĐang thu âm
  6. 6Vầng trăng trên nhà tùĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Палата № 6, 1892
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →