Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Phù thuỷ Pân-kin

của Joseph Jacobs

⏱ 22 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 20.437 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày xửa ngày xưa có một ông vua có…
  2. 3:22Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ có thấy các con…
  3. 5:34Bên mộ hoàng hậu quá cố có một cái…
  4. 8:42Thế là chàng hoàng tử cả đưa nàng công…
  5. 10:55Nghe thế lão phù thuỷ giận lắm. Lão biến…
  6. 13:48Cậu bèn kể chuyện mình cho vợ người làm…
  7. 17:45Hoàng tử đáp:
  8. 20:42Nói rồi lão vung đũa phép một cái, chồng…

Ngày xửa ngày xưa có một ông vua có bảy cô con gái xinh đẹp. Cô nào cũng ngoan, nhưng cô út, tên là Ban-na, thì khôn hơn cả. Hoàng hậu mất từ khi các cô còn bé tí, thế là bảy nàng công chúa đáng thương không còn mẹ chăm nom.

Hằng ngày, trong lúc vua cha ra triều bàn việc nước với các quan, bảy cô thay phiên nhau nấu bữa trưa cho cha.

Hồi ấy quan tể tướng qua đời, để lại một bà vợ goá và một cô con gái. Ngày nào cũng vậy, ngày nào cũng vậy, đúng lúc bảy nàng công chúa đang nấu cơm cho cha, bà goá tể tướng lại dắt con gái tới xin ít lửa trong bếp. Những lúc ấy Ban-na thường bảo các chị:

— Đuổi mụ ấy đi, các chị đuổi đi. Muốn lửa thì về nhà mụ mà lấy. Mụ cần gì lửa nhà mình? Để mụ tới đây mãi, có ngày mình khổ vì mụ.

Nhưng các chị đáp:

— Thôi nào Ban-na, sao em cứ phải gây sự với người đàn bà khốn khổ ấy? Bà ấy muốn lấy ít lửa thì cứ để bà ấy lấy.

Thế là bà goá đi tới bên bếp, rút mấy que củi đang cháy. Nhưng nhân lúc không ai để ý, mụ nhanh tay ném một nắm bùn vào giữa mấy món ăn đang làm dở cho bữa trưa của vua.

Nhà vua thương các con lắm. Từ khi mẹ chúng mất, chính tay chúng nấu cơm cho cha, để kẻ thù không có dịp bỏ thuốc độc. Vì thế khi thấy bùn lẫn trong thức ăn, vua nghĩ chắc là do các con vụng về, bởi chẳng có lẽ lại có ai cố tình bỏ bùn vào. Vua vốn hiền, không nỡ trách con, dù món cà ri bị hỏng như thế nhiều ngày liền.

Cuối cùng một hôm vua quyết định nấp đi, xem các con nấu nướng ra sao, xem vì đâu mà như vậy. Vua sang phòng bên, nhìn qua một lỗ hổng trên tường.

Vua thấy bảy cô con gái cẩn thận vo gạo, làm cà ri, món nào xong thì đặt cạnh bếp chờ nấu. Rồi vua thấy bà goá tể tướng ra cửa, xin ít củi đang cháy về nấu cơm. Ban-na quay sang bà ta, giận dữ:

— Sao bà không trữ củi ở nhà mình, mà ngày nào cũng tới đây lấy của chúng tôi? Các chị đừng cho bà ấy củi nữa. Để bà ấy tự đi mua.

Cô chị cả đáp:

— Ban-na, cứ để bà ấy lấy củi lấy lửa. Bà ấy có làm hại gì mình đâu.

Ban-na lại nói:

— Các chị để bà ấy tới mãi thế này, có ngày bà ấy làm hại mình, rồi các chị sẽ hối không kịp.

Lúc ấy vua thấy bà goá tể tướng đi tới chỗ mấy món ăn đã sửa soạn tươm tất, và trong lúc rút củi, mụ ném một chút bùn vào từng đĩa.

Vua giận lắm, sai người bắt mụ giải tới. Nhưng bà goá tới nơi thì tâu rằng mụ bày trò ấy chỉ cốt để được diện kiến nhà vua. Mụ ăn nói khéo léo, lời lẽ ngọt ngào, làm vua vừa lòng đến nỗi không những không phạt mụ, vua còn cưới mụ làm hoàng hậu. Thế là mụ với con gái dọn vào ở trong cung.

Hoàng hậu mới ghét cay ghét đắng bảy nàng công chúa đáng thương. Mụ muốn tìm mọi cách tống khứ các cô đi, để con gái mụ được hưởng hết của cải, được ở trong cung làm công chúa thay các cô. Đáng lẽ phải biết ơn các cô đã tốt với mình, mụ lại làm đủ cách cho các cô khổ sở. Mụ chỉ cho các cô ăn bánh mì, mà cũng chẳng được bao nhiêu, nước uống cũng chỉ cho chút ít. Bảy nàng công chúa nhỏ, từ bé tới giờ quen được ăn ngon mặc đẹp, chẳng thiếu thứ gì, nay buồn khổ vô cùng. Ngày nào các cô cũng ra ngồi bên mộ mẹ mà khóc:

— Mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ có thấy các con khổ thế nào không, mẹ có thấy mụ dì ghẻ độc ác bỏ đói các con không?

Một hôm, đang lúc các cô nức nở khóc, thì kìa, từ ngôi mộ mọc lên một cây bưởi tuyệt đẹp, trĩu những quả bưởi chín mọng. Các cô hái bưởi ăn cho đỡ đói. Từ hôm ấy, chẳng buồn đụng tới bữa ăn tồi tệ của mụ dì ghẻ, ngày nào các cô cũng ra mộ mẹ ăn bưởi trên cây.

Hoàng hậu bảo con gái:

— Mẹ chẳng hiểu ra làm sao. Ngày nào bảy đứa ấy cũng bảo không muốn ăn, nhất định không ăn. Thế mà chúng chẳng gầy đi, chẳng ốm o gì cả, trông còn xinh hơn con. Mẹ chẳng hiểu ra làm sao.

Mụ bảo con gái rình xem có ai cho các cô ăn gì không.

Hôm sau, lúc các nàng công chúa ra mộ mẹ ăn bưởi, con gái tể tướng lẽo đẽo theo sau, thấy các cô đang hái quả.

Ban-na bảo các chị:

— Các chị có thấy con bé kia đang rình mình không? Mình đuổi nó đi, hay giấu bưởi đi, không thì nó về mách mẹ nó, thế là khổ cả bọn.

Nhưng các chị bảo:

— Ồ không, đừng ác thế, Ban-na. Con bé chẳng nỡ về mách mẹ nó đâu. Mình gọi nó lại cho nó ăn với.

Các cô gọi con gái tể tướng lại, cho một quả bưởi.

Thế nhưng ăn xong, con bé về nhà nói ngay với mẹ:

— Thảo nào bảy chị em nhà ấy không thèm ăn cơm mẹ nấu. Bên mộ mẹ chúng nó mọc một cây bưởi đẹp lắm, ngày nào chúng nó cũng ra đó ăn bưởi. Con ăn một quả rồi, ngon chưa từng thấy.

Mụ hoàng hậu độc ác nghe vậy thì bực lắm. Suốt hôm sau mụ nằm lì trong phòng, tâu với vua là mụ nhức đầu dữ dội. Vua lo lắm, hỏi:

— Ta phải làm gì cho nàng bây giờ?

— Chỉ có một cách chữa khỏi cơn nhức đầu này. Bên mộ người vợ trước của bệ hạ có một cây bưởi tốt. Bệ hạ phải đem cây ấy về đây, đun sôi cả rễ lẫn cành, rồi lấy chút nước đun ấy đắp lên trán thiếp, thế là thiếp khỏi.

Vua bèn sai người tới nhổ bật rễ cây bưởi xinh đẹp, làm đúng như hoàng hậu muốn. Nước đun đắp lên trán xong, mụ bảo đầu hết đau, người khỏe hẳn.

Hôm sau, bảy nàng công chúa lại ra mộ mẹ như thường lệ, thì cây bưởi đã biến mất. Các cô ôm nhau khóc thảm thiết.

Bên mộ hoàng hậu quá cố có một cái ao nhỏ. Đang khóc thì các cô thấy ao đầy ắp một thứ gì sóng sánh như kem, rồi thứ ấy đông lại rất nhanh thành một tảng bánh trắng dày. Các cô mừng lắm, ăn thử thấy ngon. Hôm sau lại thế, rồi cứ thế suốt nhiều ngày. Sáng nào ra mộ mẹ các cô cũng thấy ao nhỏ đầy thứ bánh kem bổ béo. Mụ dì ghẻ độc ác lại bảo con gái:

— Mẹ chẳng hiểu ra làm sao. Mẹ đã cho phá cây bưởi bên mộ mẹ chúng nó rồi, thế mà chúng nó vẫn chẳng gầy đi, chẳng buồn bã gì, dù không ăn bữa nào mẹ cho. Mẹ chẳng hiểu ra làm sao!

— Để con đi rình.

Hôm sau, đang lúc các nàng công chúa ăn bánh kem, thì ai đi qua? Lại là con gái mụ dì ghẻ. Ban-na thấy trước tiên:

— Các chị xem, con bé ấy lại tới kìa. Mình ngồi quây quanh bờ ao, đừng cho nó thấy. Cho nó ăn bánh thì nó lại về mách mẹ nó, thế thì khổ.

Nhưng các chị cho là Ban-na đa nghi quá. Không nghe lời em, các cô lại cho con gái tể tướng ăn bánh, thế là con bé về kể hết với mẹ.

Nghe các nàng công chúa được ăn uống đầy đủ, mụ hoàng hậu giận điên lên. Mụ sai người hầu phá nát mộ hoàng hậu cũ, lấy gạch đá vụn lấp ao. Vẫn chưa hả, hôm sau mụ giả vờ ốm rất, rất nặng, như sắp chết đến nơi. Vua đau lòng, hỏi xem có thuốc gì vua tìm được không, mụ bảo:

— Chỉ có một thứ cứu được thiếp, nhưng thiếp biết bệ hạ sẽ không chịu làm đâu.

— Có chứ, thứ gì ta cũng làm.

— Muốn cứu mạng thiếp, bệ hạ phải giết bảy đứa con gái của người vợ trước, lấy máu chúng bôi lên trán và lòng bàn tay thiếp. Chúng chết thì thiếp sống.

Nghe những lời ấy vua đau đớn vô cùng. Nhưng vì sợ phải nuốt lời, vua nặng trĩu lòng đi tìm các con.

Vua thấy các con đang khóc bên đống đổ nát của ngôi mộ mẹ.

Biết mình không thể nào giết con, vua dịu dàng bảo các con theo cha vào rừng. Tới rừng, vua nhóm lửa nấu cơm cho các con ăn. Buổi chiều trời nóng nực, bảy nàng công chúa đều thiếp đi. Thấy các con ngủ say, vua cha lẳng lặng bỏ đi, vì vua sợ vợ. Vua nghĩ bụng: "Thà các con ta chết ở đây, còn hơn bị mụ dì ghẻ giết."

Rồi vua bắn một con hươu, mang về bôi máu hươu lên trán và tay hoàng hậu. Mụ tưởng vua đã giết bảy nàng công chúa thật, bèn bảo mụ đã khỏe hẳn rồi.

Trong lúc ấy bảy nàng công chúa thức dậy. Thấy chỉ còn lại mấy chị em giữa rừng rậm, các cô sợ hãi vô cùng, bèn gọi thật to, mong cha nghe thấy. Nhưng lúc ấy vua đã đi xa lắm rồi, giọng các cô có to như sấm, vua cũng chẳng nghe được.

Tình cờ hôm ấy bảy người con trai của một ông vua nước láng giềng cũng đi săn trong khu rừng ấy. Săn xong đang trên đường về, chàng hoàng tử út bảo các anh:

— Khoan đã, hình như em nghe có tiếng ai khóc, ai gọi. Các anh có nghe tiếng người không? Ta đi theo hướng ấy xem có chuyện gì.

Bảy chàng hoàng tử thúc ngựa xuyên rừng, tới chỗ bảy nàng công chúa đang ngồi khóc, tay vò vào nhau. Thấy các nàng, các chàng ngạc nhiên lắm, nghe kể chuyện lại càng ngạc nhiên hơn. Các chàng bàn nhau mỗi người sẽ đưa một nàng công chúa côi cút đáng thương ấy về nhà mà cưới làm vợ.

Thế là chàng hoàng tử cả đưa nàng công chúa cả về cưới làm vợ.

Chàng thứ hai đưa nàng thứ hai.

Chàng thứ ba đưa nàng thứ ba.

Chàng thứ tư đưa nàng thứ tư.

Chàng thứ năm đưa nàng thứ năm.

Chàng thứ sáu đưa nàng thứ sáu.

Còn chàng thứ bảy, chàng đẹp trai nhất, thì đưa nàng Ban-na xinh đẹp về.

Về tới nước mình, khắp nơi mở hội tưng bừng, mừng bảy chàng hoàng tử trẻ cưới được bảy nàng công chúa xinh đẹp đến thế.

Chừng một năm sau, Ban-na sinh được một cậu con trai. Các bác các dì quý thằng bé lắm, đến nỗi như thể nó có bảy người cha, bảy người mẹ. Các hoàng tử và công chúa khác không ai có con, nên ai cũng nhận con trai của hoàng tử út và Ban-na là người nối dõi.

Họ sống hạnh phúc như thế được một thời gian. Rồi một ngày đẹp trời, hoàng tử út, chồng Ban-na, bảo chàng đi săn, và chàng ra đi. Mọi người chờ mãi, chờ mãi, chàng không bao giờ trở về.

Sáu người anh của chàng bảo sẽ đi xem em mình ra sao. Họ ra đi, rồi cũng không trở về.

Bảy nàng công chúa đau buồn lắm, các nàng sợ những người chồng tốt bụng của mình đã bị giết cả rồi.

Chẳng bao lâu sau, một hôm Ban-na đang ru con trên lầu, các chị đang làm việc dưới nhà, thì có một người đàn ông mặc áo dài đen đến cổng cung điện, xưng là thầy tu khổ hạnh, xin bố thí. Đám người hầu bảo:

— Ông không vào cung được đâu. Các hoàng tử đi cả rồi, chúng tôi nghĩ chắc các ngài đã chết. Không thể để ông vào quấy rầy các bà goá đâu.

— Ta là người tu hành. Các người phải cho ta vào.

Thế là đám người hầu ngốc nghếch để hắn đi khắp cung điện. Chúng không biết đó chẳng phải thầy tu nào cả, mà là một lão phù thuỷ độc ác tên là Pân-kin.

Lão phù thuỷ Pân-kin lang thang khắp cung, thấy bao nhiêu đồ quý, cuối cùng tới căn phòng Ban-na đang ngồi hát ru bên nôi con. Lão thấy nàng đẹp hơn mọi thứ đẹp lão vừa thấy, bèn bảo nàng theo lão về nhà làm vợ lão. Ban-na đáp:

— Chồng tôi có lẽ chết rồi, nhưng con tôi còn nhỏ lắm. Tôi sẽ ở đây dạy dỗ nó nên người khôn ngoan. Lớn lên nó sẽ đi khắp thế gian dò tin tức của cha nó. Trời nào cho tôi bỏ con, hay lấy ông.

Nghe thế lão phù thuỷ giận lắm. Lão biến nàng thành một con chó nhỏ lông đen, rồi dắt đi.

— Cô đã không chịu theo ta thì ta bắt cô phải theo.

Thế là nàng công chúa tội nghiệp bị lôi đi, không cách nào thoát, cũng chẳng cách nào báo cho các chị biết mình ra sao. Lúc Pân-kin đi qua cổng cung, đám người hầu hỏi:

— Ông lấy đâu ra con chó nhỏ xinh thế?

— Một bà công chúa cho ta đấy.

Nghe vậy chúng để lão đi, chẳng hỏi han gì thêm.

Lát sau, sáu nàng công chúa lớn nghe tiếng đứa cháu nhỏ khóc. Lên lầu thì thấy thằng bé nằm một mình, chẳng thấy Ban-na đâu, các nàng ngạc nhiên lắm. Hỏi đám người hầu, nghe kể chuyện ông thầy tu với con chó nhỏ lông đen, các nàng đoán ngay ra chuyện gì đã xảy ra. Các nàng sai người đi tìm khắp nơi, nhưng chẳng thấy thầy tu đâu, cũng chẳng thấy con chó đâu. Sáu người đàn bà tội nghiệp biết làm gì hơn? Các nàng thôi không còn mong gặp lại những người chồng tốt bụng, gặp lại em gái và em rể nữa, từ đó chỉ chuyên tâm dạy dỗ, chăm nom đứa cháu nhỏ.

Thời gian cứ thế trôi, con trai Ban-na lên mười bốn tuổi. Một hôm các dì kể cho cậu nghe chuyện trong nhà. Vừa nghe xong, cậu đã nóng lòng muốn đi tìm cha mẹ và các bác, nếu họ còn sống thì đưa họ về. Các dì biết ý cậu thì lo lắm, tìm cách can ngăn:

— Các dì đã mất chồng, mất em gái, mất em rể, giờ chỉ còn trông vào mỗi mình cháu. Cháu mà đi thì các dì biết làm sao?

— Các dì đừng nản lòng. Cháu sẽ về sớm, và nếu được, cháu sẽ đưa cả cha mẹ và các bác về.

Thế là cậu lên đường. Nhưng suốt mấy tháng trời cậu chẳng dò được tin gì giúp cho việc tìm kiếm.

Cuối cùng, sau khi lặn lội hàng trăm dặm đường mỏi mệt, gần như hết hy vọng nghe được tin tức gì về cha mẹ, một hôm cậu tới một xứ dường như toàn đá với cây. Ở đó cậu thấy một toà cung điện lớn có tháp cao, sát bên là căn nhà nhỏ của một người làm vườn.

Đang ngó nghiêng thì vợ người làm vườn trông thấy cậu, vội chạy ra:

— Con ơi, con là ai mà dám tới chốn nguy hiểm này?

— Cháu là con trai một ông vua. Cháu đi tìm cha cháu, các bác cháu, và mẹ cháu bị một lão phù thuỷ độc ác bỏ bùa.

Vợ người làm vườn bảo:

— Xứ này và cung điện này là của một lão phù thuỷ lớn. Lão có phép thần thông, ai làm lão phật ý là lão biến thành đá thành cây. Tất cả đá với cây con thấy quanh đây ngày trước đều là người sống, lão phù thuỷ biến họ thành ra thế này đấy. Cách đây ít lâu có một chàng hoàng tử tới đây, ít lâu sau sáu người anh chàng cũng tới, cả bảy người đều bị biến thành đá thành cây. Mà khổ đâu chỉ có họ. Trên ngọn tháp kia còn có một nàng công chúa xinh đẹp, bị lão giam suốt mười hai năm nay, vì nàng ghét lão, không chịu lấy lão.

Chàng hoàng tử nhỏ nghĩ thầm: "Đúng là cha mẹ mình và các bác rồi. Cuối cùng mình đã tìm ra."

Cậu bèn kể chuyện mình cho vợ người làm vườn nghe, xin bà giúp cho cậu ở lại đó ít lâu để dò thêm về những người bất hạnh bà vừa nhắc. Bà hứa sẽ giúp cậu, và khuyên cậu nên cải trang, kẻo lão phù thuỷ trông thấy lại biến cậu thành đá. Cậu nghe theo. Vợ người làm vườn cho cậu mặc một tấm sa-ri, giả làm con gái bà.

Ít hôm sau, lão phù thuỷ đi dạo trong vườn, thấy cô bé, như lão tưởng, đang chơi loanh quanh, bèn hỏi cô là ai. Cô đáp cô là con gái người làm vườn. Lão phù thuỷ bảo:

— Cháu xinh lắm. Ngày mai cháu mang hoa của ta lên tặng người đàn bà đẹp ở trên tháp nhé.

Hoàng tử nhỏ nghe vậy mừng lắm, chạy ngay về báo cho vợ người làm vườn. Bàn với bà xong, cậu quyết định cứ giữ nguyên lốt cải trang cho an toàn, rồi chờ dịp tốt tìm cách báo tin cho mẹ, nếu người đó đúng là mẹ cậu.

Hồi Ban-na lấy chồng, chồng nàng có tặng nàng một chiếc nhẫn vàng nhỏ khắc tên nàng. Nàng đã đeo nhẫn ấy vào ngón tay đứa con lúc nó còn bé xíu. Lớn lên, các dì cho nới nhẫn ra, nên cậu vẫn còn đeo được. Vợ người làm vườn khuyên cậu buộc món đồ quen thuộc ấy vào một bó hoa mang lên cho mẹ, mong nàng nhận ra. Việc này chẳng dễ, vì nàng công chúa đáng thương bị canh giữ rất ngặt, lão sợ nàng tìm được cách báo tin cho người thân. Cô con gái người làm vườn giả kia ngày nào cũng được mang hoa lên, nhưng lần nào cũng có lão phù thuỷ hay một tên nô lệ của lão đứng trong phòng. Mãi rồi một hôm cơ hội cũng đến. Nhân lúc không ai nhìn, cậu buộc chiếc nhẫn vào bó hoa, ném xuống chân Ban-na. Chiếc nhẫn rơi xuống sàn kêu đánh keng. Ban-na nhìn xem tiếng lạ ấy ở đâu ra, thấy chiếc nhẫn nhỏ buộc vào bó hoa. Nhận ra nhẫn, nàng tin ngay câu chuyện con trai kể về những năm dài đi tìm cha mẹ. Nàng hỏi con xem nên làm thế nào, đồng thời van con nhất định đừng liều mạng tìm cách cứu nàng. Nàng kể suốt mười hai năm dài lão phù thuỷ giam nàng trên tháp vì nàng không chịu lấy lão, canh giữ ngặt đến nỗi nàng chẳng còn thấy chút hy vọng nào được thoát.

Con trai Ban-na là một cậu bé sáng dạ, khôn ngoan, cậu nói:

— Mẹ đừng sợ. Việc trước tiên là phải dò cho ra phép của lão phù thuỷ mạnh tới đâu, để còn giải thoát cho cha và các bác bị lão giam trong lốt đá lốt cây. Mười hai năm dài mẹ toàn nói giận với lão, giờ mẹ hãy nói ngọt. Mẹ bảo lão rằng mẹ đã hết mong gặp lại người chồng mẹ khóc thương bấy lâu, mẹ bằng lòng lấy lão. Rồi mẹ tìm cách dò xem phép của lão nằm ở đâu, lão có bất tử không, hay có thể giết được.

Ban-na quyết làm theo lời con. Hôm sau nàng cho gọi Pân-kin tới, nói với lão như con đã dặn.

Lão phù thuỷ mừng quá, xin nàng cho làm đám cưới càng sớm càng tốt.

Nhưng nàng bảo trước khi lấy lão, lão phải cho nàng thêm ít thời gian để hiểu lão hơn, vì đã thù nhau lâu như thế, tình thân chỉ có thể bền chặt dần dần. Rồi nàng hỏi:

— Mà ông nói cho tôi biết đi, ông có thật là bất tử không? Cái chết không bao giờ chạm được tới ông sao? Ông là phù thuỷ lớn đến thế, chẳng bao giờ phải chịu khổ đau như người thường sao?

— Sao nàng lại hỏi thế?

— Vì nếu tôi làm vợ ông, tôi muốn biết hết về ông, để nếu có tai hoạ gì đe doạ ông, tôi còn chống đỡ, hay tránh đi được.

Lão đáp:

— Đúng là ta không như người khác. Xa, xa lắm, cách đây hàng trăm nghìn dặm, có một xứ hoang vắng, rừng rậm phủ kín. Giữa rừng có một vòng cây cọ, giữa vòng cây cọ có sáu cái vò đầy nước, chồng cái nọ lên cái kia. Dưới cái vò thứ sáu có một cái lồng nhỏ, trong lồng có một con vẹt xanh nhỏ. Mạng ta gắn với mạng con vẹt. Con vẹt mà chết thì ta cũng chết.

Rồi lão nói thêm:

— Nhưng con vẹt không thể nào bị làm sao được. Xứ ấy chẳng ai tới nổi, mà ta lại đặt hàng nghìn hàng vạn quỷ thần vây quanh vòng cây cọ, ai bén mảng tới là chúng giết.

Ban-na kể lại cho con những lời Pân-kin nói, nhưng đồng thời van con đừng nghĩ tới chuyện đi lấy con vẹt.

Hoàng tử đáp:

— Mẹ ơi, không lấy được con vẹt ấy thì mẹ, cha và các bác không ai thoát được. Mẹ đừng sợ, con sẽ về ngay. Trong lúc ấy, mẹ cứ làm cho lão phù thuỷ vui lòng, kiếm cớ này cớ khác mà hoãn đám cưới. Trước khi lão biết vì sao mẹ hoãn, con đã về tới đây rồi.

Nói xong cậu ra đi.

Cậu đi bao nhiêu dặm đường dài mỏi mệt, cuối cùng tới một khu rừng rậm. Mệt quá, cậu ngồi xuống gốc cây rồi ngủ thiếp đi. Một tiếng sột soạt khe khẽ làm cậu tỉnh giấc. Nhìn quanh, cậu thấy một con rắn lớn đang trườn lên tổ đại bàng trên chính cái cây cậu đang nằm dưới gốc. Trong tổ có hai chú đại bàng non. Thấy chim non sắp gặp nạn, hoàng tử rút gươm giết chết con rắn. Đúng lúc ấy trên không vang lên tiếng vù vù, hai con đại bàng già đi kiếm mồi cho con đã về. Chúng thấy ngay con rắn chết và chàng hoàng tử nhỏ đứng bên. Đại bàng mẹ bảo cậu:

— Con ơi, bao nhiêu năm nay, lứa con nào của chúng ta cũng bị con rắn độc ác ấy nuốt mất. Nay con đã cứu mạng các con ta. Vậy hễ khi nào con cần, cứ báo cho chúng ta, chúng ta sẽ giúp. Còn hai chú đại bàng nhỏ này, con mang theo mà sai bảo.

Hoàng tử mừng lắm. Hai chú đại bàng non bắt chéo cánh vào nhau, cậu ngồi lên, chúng chở cậu bay xa, xa mãi qua những cánh rừng rậm, tới tận nơi có vòng cây cọ, giữa vòng cây có sáu cái vò đầy nước. Lúc ấy đang giữa trưa, trời nóng như thiêu. Quanh mấy hàng cây, lũ quỷ thần đang ngủ say. Nhưng chúng đông tới hàng nghìn hàng vạn, chẳng ai có thể len qua hàng ngũ của chúng mà vào được tới nơi. Hai chú đại bàng cánh khỏe lao vút xuống, hoàng tử nhảy xuống, chỉ trong chớp mắt cậu đã xô đổ sáu cái vò nước, chộp lấy con vẹt xanh nhỏ, cuộn vào áo choàng. Lúc cậu cưỡi đại bàng bay lên, lũ quỷ thần bên dưới tỉnh dậy, thấy báu vật đã mất, bèn rú lên những tiếng hoang dại thê lương.

Bay mãi, bay mãi, hai chú đại bàng nhỏ về tới tổ trên cây lớn. Hoàng tử bảo hai con đại bàng già:

— Ông bà nhận lại hai con đi. Chúng đã giúp cháu nhiều lắm. Nếu có lúc nào cháu lại cần giúp đỡ, thế nào cháu cũng tìm tới.

Rồi cậu đi bộ tiếp, về tới cung điện của lão phù thuỷ, ngồi ngay trước cửa mà đùa với con vẹt. Pân-kin trông thấy, vội chạy lại:

— Cậu bé ơi, cậu lấy đâu ra con vẹt ấy? Cho ta xin, ta van cậu.

— Ồ không, cháu không cho con vẹt đâu. Nó là con vật cưng của cháu, cháu nuôi nó bao nhiêu năm rồi.

— Nếu nó là con vật cưng lâu năm thì ta hiểu vì sao cậu không muốn cho. Nhưng thôi, cậu muốn bán bao nhiêu?

— Thưa ông, cháu không bán con vẹt của cháu.

Pân-kin hoảng sợ:

— Thứ gì cũng được, thứ gì cũng được. Cậu cứ nói giá, muốn bao nhiêu ta cũng trả.

Hoàng tử đáp:

— Ông hãy giải thoát ngay bảy chàng hoàng tử mà ông đã biến thành đá thành cây.

— Được, cứ như ý cậu. Chỉ cần đưa ta con vẹt.

Nói rồi lão vung đũa phép một cái, chồng Ban-na và các anh chàng trở lại hình người.

— Giờ thì đưa ta con vẹt, Pân-kin nhắc.

— Khoan đã, thưa ông chủ. Trước hết ông phải cho sống lại tất cả những ai ông đã giam theo lối ấy.

Lão phù thuỷ lập tức vung đũa phép lần nữa. Trong lúc lão van nài: "Đưa ta con vẹt!", cả khu vườn bỗng sống dậy. Chỗ trước kia toàn đá với sỏi với cây, nay đứng đó là các vị vua, các vị quan, các tướng lĩnh, những người quyền thế cưỡi ngựa chồm vó, những cậu hầu nhỏ đeo đầy châu ngọc, những đoàn tuỳ tùng mang khí giới.

— Đưa ta con vẹt! Pân-kin kêu lên.

Cậu bé bèn nắm lấy con vẹt, bứt đứt một bên cánh. Cánh vẹt vừa đứt, cánh tay phải của lão phù thuỷ rơi xuống.

Pân-kin chìa cánh tay trái ra:

— Đưa ta con vẹt!

Hoàng tử bứt bên cánh thứ hai, cánh tay trái của lão phù thuỷ rụng xuống.

— Đưa ta con vẹt! Lão kêu, rồi khuỵu xuống.

Hoàng tử bứt chân phải con vẹt, chân phải lão phù thuỷ rơi ra. Hoàng tử bứt chân trái con vẹt, chân trái lão rơi theo.

Lão chẳng còn gì ngoài cái thân cụt tay cụt chân với cái đầu. Thế mà lão vẫn đảo mắt kêu:

— Đưa ta con vẹt!

— Thì cầm lấy con vẹt của ông đây! Cậu bé thét lên.

Nói rồi cậu vặn cổ con vẹt, ném về phía lão phù thuỷ. Cổ vẹt vừa vặn, đầu Pân-kin cũng ngoẹo đi, lão rú lên một tiếng khủng khiếp rồi chết.

Thế rồi người ta thả Ban-na ra khỏi tháp. Nàng, con trai nàng và bảy chàng hoàng tử cùng về nước mình, sống với nhau hạnh phúc mãi mãi về sau. Còn những người khác trên đời thì ai về nhà nấy.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảJoseph Jacobs (1854 – 1916)
Năm mất1916
Xuất bản lần đầu1892
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Punchkin, truyện dân gian vùng Deccan, Ấn Độ, do Mary Frere ghi lại trong Old Deccan Days (1868); Joseph Jacobs, Indian Fairy Tales, 1892
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →