Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Quả lý gai

của Anton Chekhov

⏱ 22 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 22.266 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Ngay từ sáng sớm, mây mưa đã phủ kín…
  2. 2:01Cối xay đang chạy, át cả tiếng mưa. Con…
  3. 4:10Ông ngồi xuống bậc thang, xát xà phòng lên…
  4. 5:56Nhà chúng tôi có hai anh em, ông bắt…
  5. 11:12Sau khi vợ chết, I-van I-va-nứt nói tiếp, sau…
  6. 14:28Và các ông để ý cho, tất cả những…
  7. 19:20Hồi ấy, sáng sớm hôm sau tôi rời nhà…
  8. 21:20A-li-ô-khin buồn ngủ lắm. Ông đã dậy sớm để…

Ngay từ sáng sớm, mây mưa đã phủ kín bầu trời. Trời lặng gió, không nóng, và buồn tẻ, như vẫn thường thế vào những ngày u ám xám xịt, khi mây đã treo lơ lửng trên cánh đồng từ lâu, người ta chờ mưa, mà mưa thì không đến. Ông bác sĩ thú y I-van I-va-nứt và ông giáo trung học Buốc-kin đã đi mỏi chân, và cánh đồng hiện ra trước mắt họ như vô tận. Xa xa phía trước, lờ mờ thấy những chiếc cối xay gió của làng Mi-rô-nô-xít-xcôi. Bên phải là một dãy đồi chạy dài rồi khuất xa sau làng, và cả hai đều biết đó là bờ sông, ở đấy có những đồng cỏ, những rặng liễu xanh, những trang viên. Và nếu đứng lên một ngọn đồi trong dãy ấy, thì từ đó sẽ thấy một cánh đồng mênh mông y như thế, thấy đường dây điện báo và đoàn tàu, nhìn từ xa giống như con sâu đang bò, còn những hôm trời quang thì từ đó thấy được cả thành phố. Giờ đây, trong tiết trời lặng gió, khi cả thiên nhiên như hiền hoà và trầm tư, I-van I-va-nứt và Buốc-kin thấy lòng thấm đẫm tình yêu với cánh đồng này, và cả hai đều nghĩ đất nước này mới rộng lớn làm sao, đẹp đẽ làm sao.

— Lần trước, khi chúng ta nghỉ ở nhà kho của ông trưởng thôn Prô-cô-phi, Buốc-kin nói, ông định kể một câu chuyện gì đó.

— Phải, hồi ấy tôi định kể chuyện em trai tôi.

I-van I-va-nứt thở dài một hơi dài, châm tẩu để bắt đầu kể, nhưng đúng lúc ấy trời bắt đầu mưa. Chừng năm phút sau, mưa đã đổ xuống như trút, mưa dầm, khó mà đoán được bao giờ thì tạnh. I-van I-va-nứt và Buốc-kin dừng lại, ngần ngừ. Lũ chó đã ướt sũng, đứng cụp đuôi, nhìn họ thiết tha.

— Chúng ta phải tìm chỗ nào trú đã, Buốc-kin nói. Ta đến nhà A-li-ô-khin đi. Gần đây thôi.

— Ta đi.

Họ rẽ sang một bên, cứ đi mãi trên cánh đồng đã cắt cỏ, lúc đi thẳng, lúc tạt sang phải, cho đến khi ra được con đường. Chẳng mấy chốc đã thấy những hàng dương, khu vườn, rồi những mái kho thóc đỏ. Dòng sông loang loáng, và hiện ra một khúc sông rộng có cối xay nước và một nhà tắm sông màu trắng. Đó là Xô-phi-i-nô, nơi A-li-ô-khin sống.

Cối xay đang chạy, át cả tiếng mưa. Con đập rung lên. Ở đây, cạnh những chiếc xe chở hàng, mấy con ngựa ướt sũng đứng cúi đầu, và người ta đi lại, trùm bao tải lên đầu. Ẩm ướt, lầy lội, chẳng có gì dễ chịu, và khúc sông trông lạnh lẽo, dữ dằn. I-van I-va-nứt và Buốc-kin đã thấy khắp người ướt át, bẩn thỉu, khó chịu, chân nặng trĩu vì bùn. Khi qua khỏi con đập, leo lên phía những kho thóc của điền chủ, họ im lặng, như đang giận nhau.

Trong một kho thóc, chiếc máy quạt thóc chạy ầm ầm. Cửa mở, bụi tuôn ra mù mịt. Đứng ở ngưỡng cửa chính là A-li-ô-khin, một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi, cao lớn, đẫy đà, tóc dài, trông giống một giáo sư hay một hoạ sĩ hơn là một điền chủ. Ông mặc chiếc áo sơ mi trắng đã lâu không giặt, thắt dây thừng ngang lưng, mặc quần đùi thay cho quần dài, ủng cũng dính đầy bùn và rơm. Mũi và mắt ông đen sì vì bụi. Ông nhận ra I-van I-va-nứt và Buốc-kin, và có vẻ mừng lắm.

— Mời hai ông vào nhà, ông nói, mỉm cười. Tôi ra ngay, ngay bây giờ đây.

Ngôi nhà rộng, hai tầng. A-li-ô-khin sống ở tầng dưới, trong hai căn phòng trần vòm, cửa sổ nhỏ, nơi ngày trước các viên quản lý ở. Đồ đạc ở đây đơn sơ, có mùi bánh mì đen, mùi vốt-ca rẻ tiền và mùi yên cương. Còn ở tầng trên, trong những căn phòng sang trọng để tiếp khách, thì ông ít khi lên, chỉ những khi có khách đến. Ra đón I-van I-va-nứt và Buốc-kin trong nhà là một cô hầu gái trẻ, đẹp đến nỗi cả hai người cùng một lúc khựng lại, nhìn nhau.

— Hai ông không thể hình dung được tôi mừng thế nào khi gặp hai ông đâu, A-li-ô-khin nói, theo họ bước vào phòng ngoài. Thật không ngờ! Cô Pê-la-ghê-a, ông quay sang cô hầu gái, cô tìm cái gì cho khách thay đi. Nhân tiện tôi cũng thay luôn. Có điều phải đi tắm rửa đã, hình như từ mùa xuân đến giờ tôi chưa tắm. Hai ông có muốn ra nhà tắm sông không, trong lúc ở đây người ta chuẩn bị.

Cô Pê-la-ghê-a xinh đẹp, trông thật thanh tao và dịu dàng, mang khăn tắm và xà phòng đến, và A-li-ô-khin cùng hai người khách đi ra nhà tắm sông.

— Phải, lâu lắm rồi tôi chưa tắm, ông nói, vừa cởi quần áo. Nhà tắm của tôi thì tốt đấy, như các ông thấy, bố tôi xây từ hồi trước, nhưng chẳng hiểu sao tôi cứ chẳng có thì giờ tắm.

Ông ngồi xuống bậc thang, xát xà phòng lên mái tóc dài và cổ, và nước quanh ông ngả sang màu nâu.

— Phải, thú thật… I-van I-va-nứt nói đầy ngụ ý, nhìn đầu ông.

— Lâu lắm rồi tôi chưa tắm… A-li-ô-khin nhắc lại, ngượng nghịu, rồi xát xà phòng thêm lần nữa, và nước quanh ông ngả sang màu xanh sẫm như mực.

I-van I-va-nứt bước ra ngoài, lao ùm xuống nước, bơi dưới mưa, sải tay thật rộng, sóng từ người ông lan ra, và trên sóng những bông súng trắng dập dềnh. Ông bơi ra tận giữa khúc sông, lặn xuống, một phút sau trồi lên ở chỗ khác, lại bơi tiếp, và cứ lặn mãi, cố chạm tới đáy. «Ôi, lạy Chúa tôi…» ông cứ nhắc đi nhắc lại, sung sướng. «Ôi, lạy Chúa tôi…» Ông bơi đến tận cối xay, nói chuyện gì đó với mấy người nông dân ở đấy, rồi quay lại, và đến giữa khúc sông thì nằm ngửa, phơi mặt dưới mưa. Buốc-kin và A-li-ô-khin đã mặc quần áo xong, sửa soạn đi, mà ông vẫn còn bơi và lặn.

— Ôi, lạy Chúa tôi… ông nói. Ôi, lạy Chúa thương xót.

— Thôi đủ rồi đấy! Buốc-kin gọi to.

Họ trở về nhà. Và chỉ đến khi trong phòng khách lớn ở tầng trên đèn đã thắp lên, khi Buốc-kin và I-van I-va-nứt, mặc áo choàng ngủ bằng lụa, đi dép ấm, ngồi trong những chiếc ghế bành, còn A-li-ô-khin, đã tắm rửa, chải đầu, mặc chiếc áo khoác mới, đi đi lại lại trong phòng, rõ ràng đang tận hưởng cái ấm áp, cái sạch sẽ, quần áo khô ráo, đôi giày nhẹ nhõm, và khi cô Pê-la-ghê-a xinh đẹp bước không một tiếng động trên tấm thảm, mỉm cười dịu dàng, bưng trà với mứt trên khay vào mời, chỉ đến lúc ấy I-van I-va-nứt mới bắt đầu câu chuyện. Và dường như không chỉ có Buốc-kin và A-li-ô-khin lắng nghe ông, mà cả những bà già bà trẻ và những ông quân nhân đang lặng lẽ, nghiêm nghị nhìn ra từ những khung tranh mạ vàng.

— Nhà chúng tôi có hai anh em, ông bắt đầu, tôi là I-van I-va-nứt, và người kia là Ni-cô-lai I-va-nứt, kém tôi chừng hai tuổi. Tôi đi theo đường học hành, thành bác sĩ thú y, còn Ni-cô-lai thì từ năm mười chín tuổi đã ngồi ở sở tài chính. Bố chúng tôi, ông Chim-sa Hi-ma-lai-xki, xuất thân là con lính được nhà nước nuôi, nhưng nhờ phục vụ mà lên được hàm sĩ quan, để lại cho chúng tôi tước quý tộc cha truyền con nối và một mảnh điền trang nhỏ. Sau khi ông mất, người ta xiết mảnh điền trang ấy để trừ nợ, nhưng dù sao thì tuổi thơ của chúng tôi cũng trôi qua ở nông thôn, tự do. Chúng tôi, chẳng khác gì con nhà nông dân, ngày đêm ở ngoài đồng, trong rừng, chăn ngựa, bóc vỏ cây, câu cá, và đủ thứ như thế… Mà các ông biết đấy, ai đã từng một lần trong đời câu được con cá vược gai, hay đã thấy những đàn chim hoét di trú vào mùa thu, những ngày trời trong và mát, bay lượn thành từng đàn trên làng, thì người ấy không còn là dân thành phố nữa, và cho đến tận lúc chết, cứ bị cuộc sống tự do ấy kéo về. Em tôi buồn bã ở sở tài chính. Năm tháng trôi qua, mà nó vẫn ngồi một chỗ, viết mãi những tờ giấy ấy, và nghĩ mãi về một điều, làm sao về được nông thôn. Và nỗi buồn ấy dần dần tuôn thành một ước muốn rõ rệt, một ước mơ mua cho mình một trang trại nhỏ ở đâu đó bên bờ sông hay bờ hồ.

Nó là người tốt, hiền lành, tôi thương nó, nhưng cái ước muốn tự giam mình suốt đời trong một trang trại riêng ấy, tôi chưa bao giờ đồng tình. Người ta vẫn quen nói rằng con người chỉ cần ba thước đất. Nhưng ba thước đất là cái mà xác chết cần, chứ đâu phải con người. Bây giờ người ta cũng nói rằng nếu giới trí thức của chúng ta có lòng gắn bó với đất đai, muốn về các trang trại, thì thế là tốt. Nhưng những trang trại ấy cũng chính là ba thước đất kia thôi. Rời bỏ thành phố, rời bỏ đấu tranh, rời bỏ tiếng ồn của cuộc đời, bỏ đi để ẩn mình trong trang trại của mình, thì đấy không phải là sống, đấy là ích kỷ, là lười biếng, là một kiểu đi tu, nhưng đi tu mà chẳng có chiến công gì. Con người không cần ba thước đất, không cần một trang trại, mà cần cả quả đất, cả thiên nhiên, nơi trong không gian bao la, con người có thể bộc lộ hết mọi phẩm chất và mọi nét riêng của tâm hồn tự do của mình.

Em Ni-cô-lai của tôi, ngồi trong văn phòng của nó, mơ về cái ngày nó được ăn món canh bắp cải của chính nhà mình, thơm lừng cả sân, ăn trên bãi cỏ xanh, ngủ dưới nắng, ngồi hàng giờ trên chiếc ghế dài ngoài cổng mà nhìn ra đồng, ra rừng. Những cuốn sách nông nghiệp và đủ các thứ lời khuyên in trong lịch là niềm vui của nó, là món ăn tinh thần nó ưa thích. Nó cũng thích đọc báo, nhưng trên báo nó chỉ đọc những mẩu rao vặt rằng đang bán bao nhiêu mẫu đất cày và đồng cỏ, có trang viên, có sông, có vườn, có cối xay, có ao nước chảy. Và trong đầu nó hiện ra những lối đi trong vườn, những bông hoa, những trái cây, những tổ chim sáo, những con cá diếc dưới ao, và các ông biết đấy, đủ thứ như thế. Những bức tranh tưởng tượng ấy mỗi lúc một khác, tuỳ theo những mẩu rao vặt nó bắt gặp, nhưng chẳng hiểu sao trong bức tranh nào cũng nhất định phải có cây lý gai. Nó không thể hình dung ra một trang trại nào, một góc thơ mộng nào, mà ở đó lại không có cây lý gai.

— Đời sống thôn quê có những cái tiện của nó, ngày trước nó vẫn hay nói thế. Ngồi ngoài ban công, uống trà, dưới ao có mấy con vịt của mình bơi lội, thơm tho dễ chịu biết bao, và… và cây lý gai mọc.

Nó vẽ sơ đồ điền trang của mình, và lần nào sơ đồ cũng ra y như nhau: một là nhà chủ, hai là nhà gia nhân, ba là vườn rau, bốn là cây lý gai. Nó sống bủn xỉn: ăn không đủ no, uống không đủ khát, ăn mặc thì có Chúa mới biết, như một kẻ ăn mày, và cứ dành dụm mãi, gửi vào nhà băng. Hà tiện khủng khiếp. Tôi nhìn mà đau lòng, nên thỉnh thoảng cũng cho nó chút đỉnh, gửi cho nó vào những dịp lễ, nhưng nó lại giấu luôn cả khoản ấy. Một khi con người đã theo đuổi một ý tưởng, thì chẳng làm gì được nữa.

Năm tháng trôi qua, nó được chuyển sang một tỉnh khác, đã ngoài bốn mươi tuổi, mà vẫn đọc rao vặt trên báo và vẫn dành dụm. Rồi tôi nghe tin nó lấy vợ. Vẫn với cái mục đích mua một trang trại có cây lý gai ấy, nó cưới một bà goá già, xấu xí, chẳng có chút tình cảm gì, chỉ vì bà ta có ít tiền. Nó sống với bà ta cũng bủn xỉn, để bà ta ăn đói ăn khát, còn tiền của bà thì nó gửi vào nhà băng đứng tên mình. Trước kia bà ta là vợ một ông giám đốc bưu điện, đã quen ăn bánh nướng và uống rượu mùi ở nhà ông ấy, còn sang nhà người chồng thứ hai thì đến bánh mì đen cũng không được ăn no. Sống như thế, bà ta bắt đầu héo hon, và chừng ba năm sau thì về chầu Chúa. Và dĩ nhiên em tôi chẳng một phút nào nghĩ rằng mình có lỗi trong cái chết của bà ta. Tiền bạc, cũng như rượu, biến con người ta thành kẻ kỳ quặc. Ở thành phố chúng tôi có một ông lái buôn sắp chết. Trước khi chết, ông ta sai người mang cho mình một đĩa mật ong, rồi ăn hết cả tiền bạc lẫn vé số của mình cùng với mật ong, để không ai được hưởng. Có lần ở nhà ga, tôi đang khám mấy đàn gia súc, thì đúng lúc ấy một tay lái ngựa bị đầu máy xe lửa cán, đứt lìa một chân. Chúng tôi khiêng hắn vào phòng cấp cứu, máu chảy lênh láng, thật khủng khiếp, mà hắn cứ xin người ta tìm cái chân của hắn, cứ lo lắng mãi: trong chiếc ủng ở cái chân bị đứt có hai mươi rúp, sợ mất.

— Chuyện này lại là chuyện khác rồi, Buốc-kin nói.

— Sau khi vợ chết, I-van I-va-nứt nói tiếp, sau khi nghĩ ngợi chừng nửa phút, em tôi bắt đầu đi tìm điền trang. Dĩ nhiên, có tìm đến năm năm thì rốt cuộc cũng vẫn nhầm, và mua phải một thứ hoàn toàn chẳng phải cái mình mơ ước. Em Ni-cô-lai của tôi, qua một người môi giới, nhận gánh luôn món nợ, mua được một trăm mười hai mẫu đất, có nhà chủ, có nhà gia nhân, có công viên, nhưng chẳng có vườn cây ăn quả, chẳng có cây lý gai, chẳng có ao với đàn vịt. Có một con sông, nhưng nước sông màu như cà phê, vì một bên điền trang là lò gạch, còn bên kia là lò đốt xương. Nhưng Ni-cô-lai I-va-nứt của tôi chẳng buồn phiền mấy. Nó đặt mua hai chục bụi lý gai, đem trồng, rồi bắt đầu sống như một điền chủ.

Năm ngoái tôi đến thăm nó. Tôi nghĩ, đi một chuyến xem ở đấy thế nào. Trong thư, em tôi gọi điền trang của nó là: Đất hoang Trum-ba-rốc-lô-va, cũng gọi là Hi-ma-lai-xcôi-e. Tôi đến «cũng gọi là Hi-ma-lai-xcôi-e» lúc quá trưa. Trời nóng. Đâu đâu cũng hào, cũng hàng rào, cũng giậu, những hàng thông trồng thẳng tắp, và chẳng biết đi lối nào vào sân, buộc ngựa ở đâu. Tôi đi về phía ngôi nhà, thì một con chó lông hung ra đón, béo núc, trông như con lợn. Nó muốn sủa, mà lười. Từ dưới bếp đi ra một bà bếp, chân đất, béo núc, cũng trông như con lợn, bảo rằng ông chủ đang nghỉ trưa. Tôi vào chỗ em tôi, thì thấy nó đang ngồi trên giường, chăn đắp ngang gối. Nó già đi, béo ra, phị ra. Đôi má, cái mũi và đôi môi cứ chìa ra phía trước, trông như sắp ụt ịt vào chăn đến nơi.

Hai anh em ôm nhau, rưng rưng nước mắt vì mừng, và vì cái ý nghĩ buồn rầu rằng có một thời mình còn trẻ, mà nay cả hai đã bạc đầu, và đã đến lúc chết. Nó mặc quần áo, rồi dẫn tôi đi xem điền trang của nó.

— Thế nào, chú sống ở đây ra sao? tôi hỏi.

— Cũng được, đội ơn Chúa, em sống tốt lắm.

Đấy đã không còn là anh viên chức tội nghiệp rụt rè ngày trước, mà là một điền chủ thực thụ, một ông chủ. Nó đã quen nơi này, đã quen nếp, đã sành hưởng. Nó ăn nhiều, tắm hơi, béo ra, đã kiện tụng với công xã và với cả hai cái lò, và phật ý lắm mỗi khi nông dân không gọi nó là «bẩm quan lớn». Nó lo cho linh hồn mình một cách đường bệ, kiểu ông chủ, và làm việc thiện cũng chẳng giản dị, mà với vẻ quan trọng. Mà làm những việc thiện gì? Nó chữa mọi thứ bệnh cho nông dân bằng thuốc muối với dầu thầu dầu, và vào ngày lễ thánh bổn mạng của mình, nó cho làm lễ tạ ơn giữa làng, rồi đãi nửa thùng rượu, nghĩ rằng phải làm như thế. Ôi, cái nửa thùng rượu khủng khiếp ấy! Hôm nay ông điền chủ béo lôi nông dân lên ông quan địa phương vì tội để gia súc ăn lúa, thì mai, vào ngày lễ trọng, ông đãi họ nửa thùng rượu, và họ uống, hô vạn tuế, rồi say khướt mà cúi rạp xuống chân ông. Đời sống đổi khác đi cho tốt hơn, no nê, nhàn rỗi, nuôi lớn trong người Nga cái tính tự phụ, mà là thứ tự phụ trơ tráo nhất. Ni-cô-lai I-va-nứt, người ngày trước ngồi ở sở tài chính còn sợ cả việc có quan điểm riêng cho bản thân mình, bây giờ chỉ nói toàn chân lý, mà bằng cái giọng của một ông bộ trưởng: «Học vấn là cần thiết, nhưng với dân chúng thì còn quá sớm», «nhục hình nói chung là có hại, nhưng trong một số trường hợp thì có ích và không gì thay thế được».

— Em hiểu dân chúng và biết cách đối xử với họ, nó nói. Dân chúng yêu quý em. Em chỉ cần động ngón tay một cái, là dân chúng làm cho em mọi điều em muốn.

Và các ông để ý cho, tất cả những lời ấy đều được nói ra với một nụ cười thông minh, hiền hậu. Nó nhắc đến hai chục lần: «chúng ta, những người quý tộc», «em, với tư cách là một người quý tộc». Rõ ràng là nó đã không còn nhớ rằng ông nội chúng tôi là nông dân, còn bố chúng tôi là lính. Đến cả cái họ Chim-sa Hi-ma-lai-xki của chúng tôi, thật ra chẳng ăn nhập vào đâu, mà giờ đây nó cũng thấy kêu, sang trọng, và dễ nghe lắm.

Nhưng chuyện không phải ở nó, mà ở chính tôi. Tôi muốn kể với các ông đã có thay đổi gì trong tôi, trong mấy giờ ít ỏi tôi ở trang trại của nó. Buổi tối, khi chúng tôi uống trà, bà bếp dọn lên bàn một đĩa đầy quả lý gai. Không phải lý gai mua, mà là lý gai của chính nhà mình, hái lần đầu tiên kể từ khi trồng những bụi cây ấy. Ni-cô-lai I-va-nứt bật cười, rồi nhìn đĩa lý gai một phút, im lặng, nước mắt rưng rưng, nó xúc động đến nỗi không nói được. Rồi nó bỏ một quả vào miệng, nhìn tôi với vẻ đắc thắng của một đứa trẻ cuối cùng cũng có được món đồ chơi nó thích, và nói:

— Ngon quá!

Rồi nó ăn ngấu nghiến, và cứ nhắc mãi:

— Ôi, ngon quá! Anh nếm thử đi!

Quả cứng và chua, nhưng như Pu-skin đã viết: «Ngàn sự thật thấp hèn, ta chẳng quý bằng một ảo tưởng nâng ta lên cao». Tôi đã nhìn thấy một con người hạnh phúc, một người mà ước mơ thầm kín đã thành hiện thực rõ ràng như thế, một người đã đạt được mục đích trong đời, có được cái mình muốn, hài lòng với số phận mình, với chính mình. Chẳng hiểu sao những ý nghĩ của tôi về hạnh phúc con người bao giờ cũng lẫn chút gì buồn bã, còn bây giờ, khi nhìn một con người hạnh phúc, tôi bị xâm chiếm bởi một cảm giác nặng nề, gần với tuyệt vọng. Đêm đến lại càng nặng nề hơn. Người ta trải giường cho tôi ở căn phòng sát phòng ngủ của em tôi, và tôi nghe thấy nó không ngủ, nó cứ dậy, đến bên đĩa lý gai, nhặt từng quả một. Tôi nghĩ: thật ra trên đời có biết bao nhiêu người mãn nguyện, hạnh phúc! Đó là một sức mạnh đè bẹp biết chừng nào! Các ông hãy nhìn cuộc sống này mà xem: sự trơ tráo và nhàn rỗi của kẻ mạnh, sự dốt nát và kiếp sống như súc vật của kẻ yếu, xung quanh là nghèo khổ không thể chịu nổi, chật chội, thoái hoá, rượu chè, đạo đức giả, dối trá… Thế mà trong mọi ngôi nhà, trên mọi con phố, đều im ắng, yên bình. Trong năm vạn người sống ở thành phố, chẳng có một ai kêu lên, phẫn nộ ra tiếng. Chúng ta nhìn thấy những người đi chợ mua thức ăn, ban ngày ăn, ban đêm ngủ, nói những chuyện vớ vẩn của họ, cưới vợ lấy chồng, già đi, hiền hoà khiêng người chết của mình ra nghĩa địa. Nhưng chúng ta không thấy, không nghe những người đau khổ, và những gì khủng khiếp trong cuộc đời đều diễn ra đâu đó sau cánh gà. Mọi thứ đều im ắng, yên bình, và chỉ có những con số thống kê câm lặng là phản đối: chừng ấy người hoá điên, chừng ấy thùng rượu đã uống, chừng ấy đứa trẻ chết vì thiếu ăn… Và hẳn là cái trật tự ấy là cần thiết. Hẳn là người hạnh phúc thấy dễ chịu chỉ vì những người bất hạnh mang gánh nặng của mình trong im lặng, và không có sự im lặng ấy, thì hạnh phúc không thể có được. Đó là một cơn thôi miên chung. Cần phải có, sau cánh cửa của mỗi người mãn nguyện, hạnh phúc, một người cầm chiếc búa nhỏ, luôn gõ cửa nhắc nhở rằng trên đời có những người bất hạnh, rằng dù anh ta hạnh phúc đến đâu, sớm muộn gì cuộc đời cũng sẽ giơ móng vuốt ra với anh ta, tai hoạ sẽ ập đến, bệnh tật, nghèo khổ, mất mát, và chẳng ai nhìn thấy, chẳng ai nghe thấy anh ta, như bây giờ anh ta không nhìn thấy, không nghe thấy người khác. Nhưng không có người cầm búa nhỏ, người hạnh phúc cứ thế mà sống, và những lo toan vụn vặt của đời thường chỉ làm anh ta xao động khẽ khàng, như gió lay cây dương, và mọi sự đều yên ổn cả.

— Đêm ấy, tôi hiểu ra rằng tôi cũng đã từng mãn nguyện và hạnh phúc như thế, I-van I-va-nứt nói tiếp, đứng dậy. Tôi cũng từng, trong bữa ăn và khi đi săn, dạy người ta phải sống thế nào, tin thế nào, cai quản dân chúng thế nào. Tôi cũng từng nói rằng học là ánh sáng, rằng học vấn là cần thiết, nhưng với người dân thường thì tạm thời chỉ cần biết đọc biết viết là đủ. Tôi từng nói, tự do là điều tốt đẹp, không có nó thì không sống được, cũng như không có không khí, nhưng phải chờ. Phải, tôi đã nói thế, còn bây giờ thì tôi hỏi: chờ vì lẽ gì? I-van I-va-nứt hỏi, giận dữ nhìn Buốc-kin. Chờ vì lẽ gì, tôi hỏi ông đấy? Vì những lý lẽ gì? Người ta bảo tôi rằng đâu phải tất cả một lúc, ý tưởng nào cũng thành hiện thực dần dần, đúng lúc của nó. Nhưng ai nói thế? Đâu là bằng chứng rằng như thế là đúng? Các ông viện đến trật tự tự nhiên của sự vật, đến quy luật của các hiện tượng, nhưng có trật tự và quy luật gì trong việc tôi, một con người sống, biết suy nghĩ, đứng bên bờ một cái hào mà chờ cho nó tự liền miệng lại, hay bị bùn lấp đầy, trong khi có lẽ tôi đã có thể nhảy qua nó, hay bắc một cây cầu qua nó? Mà lại nữa, chờ vì lẽ gì? Chờ, khi không còn sức để sống, trong khi vẫn phải sống, và vẫn muốn sống!

Hồi ấy, sáng sớm hôm sau tôi rời nhà em tôi, và từ đó tôi không chịu nổi việc ở thành phố nữa. Sự im ắng và yên bình đè nặng lên tôi, tôi sợ nhìn vào những ô cửa sổ, vì giờ đây đối với tôi không có cảnh nào nặng nề hơn cảnh một gia đình hạnh phúc ngồi quanh bàn uống trà. Tôi đã già rồi, không còn hợp với đấu tranh nữa, thậm chí tôi còn không đủ sức để căm ghét. Tôi chỉ đau buồn trong lòng, bực bội, tức tối, đêm đêm đầu tôi nóng bừng vì những ý nghĩ ùa đến, và tôi không ngủ được… Ôi, giá mà tôi còn trẻ!

I-van I-va-nứt xúc động đi đi lại lại từ góc này sang góc kia, rồi nhắc lại:

— Giá mà tôi còn trẻ!

Bỗng ông đến bên A-li-ô-khin, nắm lấy tay ông, hết tay này đến tay kia.

— Ông Pa-ven Côn-xtan-ti-nư-ích, ông nói bằng giọng van nài, ông đừng yên tâm, đừng để người ta ru ngủ mình! Khi còn trẻ, còn khoẻ, còn hăng hái, xin ông đừng mệt mỏi làm điều thiện! Hạnh phúc không có, và không nên có nó, còn nếu cuộc đời có ý nghĩa và mục đích, thì ý nghĩa và mục đích ấy hoàn toàn không phải ở hạnh phúc của chúng ta, mà ở một điều gì đó hợp lý hơn và vĩ đại hơn. Hãy làm điều thiện!

Và I-van I-va-nứt nói tất cả những lời ấy với một nụ cười đáng thương, van nài, như thể ông đang cầu xin cho chính bản thân mình.

Rồi cả ba người ngồi trong những chiếc ghế bành ở ba góc phòng khách, và im lặng. Câu chuyện của I-van I-va-nứt chẳng làm Buốc-kin lẫn A-li-ô-khin thoả mãn. Khi từ những khung tranh mạ vàng, các ông tướng và các bà, trong ánh chạng vạng trông như người sống, đang nhìn xuống, thì nghe chuyện một anh viên chức tội nghiệp ăn quả lý gai thật là buồn tẻ. Chẳng hiểu sao họ muốn được nói và được nghe về những con người thanh lịch, về những người đàn bà. Và việc họ đang ngồi trong phòng khách, nơi mọi thứ, chiếc đèn chùm bọc vải, những chiếc ghế bành, những tấm thảm dưới chân, đều nói rằng ngày xưa chính những người đang nhìn ra từ khung tranh kia đã đi lại, ngồi, uống trà ở đây, và việc giờ đây cô Pê-la-ghê-a xinh đẹp đang lặng lẽ đi lại ở đây, điều ấy còn hay hơn mọi câu chuyện.

A-li-ô-khin buồn ngủ lắm. Ông đã dậy sớm để lo việc nhà, từ lúc hai giờ sáng, và giờ mắt ông díp lại, nhưng ông sợ rằng vắng ông, khách sẽ kể chuyện gì hay, nên ông không đi. Những điều I-van I-va-nứt vừa nói có thông minh không, có đúng không, ông không đi sâu vào. Khách không nói về hạt kê, về cỏ khô, về hắc ín, mà về một điều gì đó chẳng dính dáng trực tiếp đến cuộc sống của ông, và ông vui, ông muốn họ cứ nói tiếp…

— Thôi, đã đến giờ đi ngủ rồi, Buốc-kin nói, đứng dậy. Xin phép chúc ông ngủ ngon.

A-li-ô-khin chào từ biệt, rồi xuống tầng dưới về phòng mình, còn hai người khách ở lại tầng trên. Người ta dành cho họ một căn phòng rộng để ngủ đêm, ở đó có hai chiếc giường gỗ cũ chạm trổ, và ở góc phòng có cây thánh giá bằng ngà. Những chiếc giường rộng, mát mẻ do cô Pê-la-ghê-a xinh đẹp trải, toả ra mùi vải mới giặt thơm dễ chịu.

I-van I-va-nứt lặng lẽ cởi quần áo, nằm xuống.

— Lạy Chúa, xin tha thứ cho chúng con là kẻ có tội! ông nói, rồi kéo chăn trùm kín đầu.

Cái tẩu của ông để trên bàn bốc ra mùi thuốc lá cũ nồng nặc, và Buốc-kin mãi không ngủ được, cứ không sao hiểu nổi cái mùi nặng nề ấy từ đâu ra.

Mưa gõ vào cửa sổ suốt đêm.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1898
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Крыжовник, 1898
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →