— Các vị bảo rằng con người tự mình không thể hiểu được cái gì là tốt, cái gì là xấu, rằng tất cả là do môi trường, môi trường nó hút chết con người. Còn tôi thì nghĩ rằng tất cả là do tình cờ. Tôi xin kể chuyện của chính tôi.
Ông I-van Va-xi-li-ê-vích, người được mọi người kính trọng, đã nói như thế sau một cuộc trò chuyện giữa chúng tôi, về chuyện muốn hoàn thiện bản thân thì trước hết phải thay đổi hoàn cảnh sống của con người. Thật ra chẳng ai nói rằng tự mình không thể hiểu được cái gì là tốt, cái gì là xấu, nhưng ông I-van Va-xi-li-ê-vích có cái lối hay trả lời chính những ý nghĩ nảy ra trong đầu mình khi nghe chuyện, rồi nhân những ý nghĩ ấy mà kể lại những đoạn đời của mình. Nhiều khi say chuyện, ông quên hẳn mình kể vì cớ gì, nhất là ông kể rất thành thật và chân tình.
Lần này ông cũng làm như thế.
— Tôi xin kể chuyện của tôi. Cả cuộc đời tôi đã thành ra như thế này, chứ không khác, chẳng phải vì môi trường, mà vì một chuyện hoàn toàn khác.
— Vì chuyện gì vậy? chúng tôi hỏi.
— Đó là cả một câu chuyện dài. Muốn hiểu thì phải kể nhiều lắm.
— Thì ông kể đi.
I-van Va-xi-li-ê-vích trầm ngâm, lắc lắc đầu.
— Phải, ông nói. Cả cuộc đời tôi đã thay đổi chỉ vì một đêm, hay đúng hơn là một buổi sáng.
— Nhưng đã có chuyện gì?
— Chuyện là thế này, hồi ấy tôi đang yêu say đắm. Tôi đã yêu nhiều lần, nhưng đó là mối tình mãnh liệt nhất của tôi. Chuyện đã qua rồi, con gái của nàng giờ cũng đã đi lấy chồng cả. Đó là cô B., phải, cô Va-ren-ca B. I-van Va-xi-li-ê-vích nói cả họ của nàng ra. Năm mươi tuổi, nàng vẫn còn là một người đàn bà đẹp lạ thường. Nhưng hồi trẻ, mười tám tuổi, thì nàng đẹp mê hồn: cao, thon thả, duyên dáng và oai nghi, đúng là oai nghi. Nàng bao giờ cũng đứng thẳng người một cách khác thường, như thể không thể đứng khác được, đầu hơi ngả ra sau. Điều đó, cùng với sắc đẹp và dáng người cao, mặc dù nàng gầy, thậm chí gầy nhom, làm cho nàng có một vẻ gì như bậc vương giả. Vẻ ấy hẳn sẽ khiến người ta e ngại không dám lại gần, nếu không có nụ cười dịu dàng, lúc nào cũng vui tươi trên đôi môi, trong đôi mắt long lanh tuyệt đẹp, và trên toàn bộ con người trẻ trung dễ thương của nàng.
— Ông I-van Va-xi-li-ê-vích tả hay chưa kìa.
— Tả thế nào thì tả, cũng chẳng thể tả cho các vị hiểu nàng như thế nào được. Nhưng chuyện không phải ở đấy. Điều tôi muốn kể xảy ra vào những năm bốn mươi. Hồi ấy tôi là sinh viên một trường đại học ở tỉnh. Chẳng biết như thế là hay hay dở, nhưng hồi ấy ở trường chúng tôi chẳng có hội nhóm nào, chẳng có lý thuyết nào, chúng tôi chỉ đơn giản là trẻ, và sống như tuổi trẻ vẫn sống: học hành và vui chơi. Tôi là một chàng trai rất vui tính, rất hoạt bát, lại giàu có nữa. Tôi có một con ngựa đi nước kiệu rất hăng, tôi cùng các cô tiểu thư trượt tuyết từ trên đồi xuống, vì hồi ấy trượt băng bằng giày còn chưa thịnh. Tôi chè chén với bạn bè, mà hồi ấy chúng tôi chẳng uống gì ngoài sâm banh. Không có tiền thì chẳng uống gì, chứ không uống vodka như bây giờ. Nhưng thú vui chính của tôi là những buổi dạ hội và khiêu vũ. Tôi nhảy giỏi, mà người cũng không đến nỗi xấu.
— Thôi, ông chẳng cần khiêm tốn, một bà trong số người nghe ngắt lời ông. Chúng tôi đã xem tấm ảnh chụp kiểu cũ của ông rồi. Không phải là không đến nỗi xấu đâu, mà ông là một chàng trai đẹp.
— Đẹp thì đẹp, nhưng chuyện không phải ở đấy. Chuyện là, vào lúc tôi yêu nàng say đắm nhất, tôi đến dự buổi khiêu vũ ngày cuối cùng của tuần lễ hội tiễn đông, ở nhà ngài thủ lĩnh quý tộc của tỉnh. Ông là một ông già hiền hậu, giàu có, hiếu khách, giữ chức thị thần trong triều. Người tiếp khách là bà vợ, cũng hiền hậu như ông, mặc chiếc áo nhung màu nâu tím, trên đầu đeo một vòng kim cương, để lộ đôi vai và bộ ngực già nua, đầy đặn, trắng nõn, giống như trong chân dung nữ hoàng Ê-li-da-vê-ta Pê-tơ-rốp-na. Buổi khiêu vũ thật tuyệt vời: phòng nhảy đẹp, có ban công cho dàn hợp xướng, nhạc công là những người nông nô nổi tiếng hồi ấy của một ông địa chủ mê nhạc, tiệc đứng thì sang trọng, còn sâm banh thì tuôn ra như suối. Tuy tôi mê sâm banh, nhưng tôi không uống, vì chẳng cần rượu tôi cũng đã say vì tình rồi. Bù lại, tôi nhảy đến rã cả người, nhảy ca-đri, nhảy van-xơ, nhảy pôn-ca, và dĩ nhiên, hễ được là tôi nhảy với Va-ren-ca. Nàng mặc áo dài trắng thắt dải lưng hồng, đeo đôi găng tay da dê trắng dài gần tới đôi khuỷu tay gầy nhọn, chân đi đôi giày xa tanh trắng. Điệu ma-dua-ca thì có người giành mất của tôi. Gã kỹ sư A-ni-xi-mốp đáng ghét, đến giờ tôi vẫn không tha thứ cho hắn, đã mời nàng ngay khi nàng vừa bước vào, còn tôi thì phải ghé hiệu cắt tóc và đi mua găng tay nên đến muộn. Thế là điệu ma-dua-ca tôi không nhảy với nàng, mà nhảy với một cô gái Đức nhỏ nhắn tôi từng tán tỉnh đôi chút trước kia. Nhưng tôi e rằng tối hôm ấy tôi rất vô lễ với cô ta, chẳng nói chuyện, chẳng nhìn cô ta, mà chỉ thấy một dáng người cao, thon thả, mặc áo trắng thắt dải lưng hồng, khuôn mặt rạng rỡ ửng hồng có lúm đồng tiền, và đôi mắt dịu dàng dễ thương. Chẳng riêng gì tôi, mọi người đều nhìn nàng, ngắm nàng, cả đàn ông lẫn đàn bà đều ngắm nàng, dù nàng đã làm lu mờ tất cả bọn họ. Không thể nào không ngắm nàng được.
Theo luật, có thể nói như thế, tôi không nhảy điệu ma-dua-ca với nàng, nhưng thật ra gần như suốt buổi tôi nhảy với nàng. Nàng chẳng chút bối rối, đi thẳng qua cả phòng nhảy đến chỗ tôi, và tôi nhảy bật dậy, chẳng đợi mời, còn nàng mỉm cười cảm ơn tôi vì đã hiểu ý. Trong điệu ma-dua-ca có cái lối chơi, hai chàng trai đến trước mặt cô gái, mỗi người đã chọn một phẩm chất, cô phải đoán xem ai mang phẩm chất nào. Khi người ta dẫn chúng tôi đến trước nàng, mà nàng không đoán ra phẩm chất của tôi, thì nàng đưa tay cho người kia, nhún đôi vai gầy, rồi mỉm cười với tôi như để tỏ ý tiếc và an ủi. Khi điệu ma-dua-ca chuyển sang những vòng van-xơ, tôi cùng nàng xoay mãi, và nàng thở gấp, mỉm cười nói với tôi: "Nữa đi anh."
Thế là tôi lại xoay, xoay mãi, không còn cảm thấy cơ thể mình nữa.
— Sao lại không cảm thấy, tôi nghĩ là ông cảm thấy rõ lắm chứ, khi ông ôm eo nàng, không chỉ cơ thể ông mà cả cơ thể nàng nữa, một người khách nói.
I-van Va-xi-li-ê-vích bỗng đỏ mặt, gần như hét lên giận dữ:
— Phải, các anh đấy, lớp trẻ bây giờ đấy. Ngoài thân xác ra các anh chẳng thấy gì cả. Thời chúng tôi đâu có thế. Tôi càng yêu say đắm bao nhiêu, thì nàng càng trở nên phi thể xác bấy nhiêu. Các anh bây giờ thì nhìn chân, nhìn mắt cá, nhìn những gì đâu nữa, các anh lột trần những người đàn bà mình yêu. Còn với tôi thì như nhà văn An-phông-xơ Ca nói, một nhà văn hay đấy, người tôi yêu bao giờ cũng khoác những tấm áo bằng đồng. Chúng tôi chẳng những không lột trần, mà còn cố che đi chỗ trần truồng, như người con trai tốt của ông Nô-ê. Thôi, các anh không hiểu được đâu…
— Đừng nghe anh ta. Rồi sao nữa? một người trong chúng tôi nói.
— Vâng. Thế là tôi nhảy với nàng nhiều nhất, và chẳng biết thời gian trôi qua thế nào. Đám nhạc công, với một vẻ mệt mỏi đến tuyệt vọng, các vị biết đấy, như thường thấy vào cuối buổi khiêu vũ, cứ chơi đi chơi lại mãi một khúc ma-dua-ca. Các ông bố bà mẹ đã rời bàn đánh bài trong các phòng khách đứng dậy, chờ bữa ăn tối. Đám người hầu chạy qua chạy lại nhiều hơn, mang gì đó đi. Đã hơn hai giờ sáng. Phải tận dụng những phút cuối cùng. Tôi lại chọn nàng một lần nữa, và chúng tôi đi dọc phòng nhảy lần thứ một trăm.
— Vậy sau bữa tối, điệu ca-đri là của anh nhé? tôi nói với nàng khi đưa nàng về chỗ.
— Dĩ nhiên rồi, nếu người ta không đưa em về, nàng mỉm cười đáp.
— Anh sẽ không để ai đưa em về, tôi nói.
— Anh đưa em cái quạt đi, nàng nói.
— Tiếc quá, chẳng muốn trả, tôi nói, đưa cho nàng chiếc quạt trắng rẻ tiền.
— Thế thì em tặng anh cái này, để anh khỏi tiếc, nàng nói, rồi bứt một chiếc lông nhỏ trên chiếc quạt đưa cho tôi.
Tôi cầm chiếc lông, và chỉ biết lấy ánh mắt bày tỏ hết niềm hân hoan và lòng biết ơn của mình. Tôi không chỉ vui vẻ và mãn nguyện, tôi hạnh phúc, tôi sung sướng tột cùng, tôi tốt bụng, tôi không còn là tôi nữa, mà là một sinh vật thoát tục nào đó, không biết đến điều ác và chỉ có thể làm điều thiện. Tôi giấu chiếc lông vào trong găng tay, rồi đứng đó, không sao rời nàng ra được.
— Anh xem kìa, người ta đang mời bố em nhảy, nàng nói với tôi, chỉ về phía dáng người cao lớn, đường bệ của cha nàng, một ông đại tá đeo cầu vai bạc, đang đứng ở cửa với bà chủ nhà và mấy bà khác.
— Va-ren-ca, lại đây cháu, chúng tôi nghe giọng nói to của bà chủ nhà đeo vòng kim cương, có đôi vai như của nữ hoàng Ê-li-da-vê-ta.
Va-ren-ca đi ra phía cửa, tôi đi theo nàng.
— Cháu yêu, cháu năn nỉ bố nhảy với cháu một vòng đi. Thôi nào, xin ông, ông Pi-ốt Vla-đi-xla-vích, bà chủ nhà quay sang ông đại tá.
Cha của Va-ren-ca là một ông già rất đẹp, đường bệ, cao lớn và tươi tắn. Mặt ông hồng hào, bộ ria trắng uốn cong lên kiểu Nga hoàng Ni-cô-lai Đệ nhất, hai chòm tóc mai cũng trắng, chải liền vào bộ ria, tóc hai bên thái dương chải ra phía trước. Trong đôi mắt long lanh và trên đôi môi ông cũng có nụ cười dịu dàng, vui tươi như của con gái. Ông có thân hình cân đối tuyệt đẹp, bộ ngực rộng ưỡn ra kiểu nhà binh, trên đó đeo dăm cái huân chương, đôi vai khoẻ mạnh, đôi chân dài, thon. Ông là một vị chỉ huy quân sự thuộc lớp quân nhân lão luyện, mang đúng phong cách thời Nga hoàng Ni-cô-lai.
Khi chúng tôi đến gần cửa, ông đại tá đang từ chối, nói rằng mình đã quên cách nhảy rồi, nhưng rồi ông vẫn mỉm cười, đưa tay trái ra sau, rút thanh kiếm khỏi dây đeo, trao cho một chàng trai trẻ đang sẵn sàng giúp đỡ. Rồi ông kéo chiếc găng tay da hoẵng vào bàn tay phải, mỉm cười nói "việc gì cũng phải đúng phép", cầm lấy tay con gái, đứng xoay nghiêng người một chút, chờ nhịp nhạc.
Đợi điệu ma-dua-ca bắt đầu, ông dậm mạnh một chân, hất chân kia ra, và thân hình cao lớn, nặng nề của ông khi thì nhẹ nhàng uyển chuyển, khi thì ồn ào mạnh mẽ, đế giày nện xuống sàn, chân nọ đập vào chân kia, di chuyển vòng quanh phòng nhảy. Dáng người duyên dáng của Va-ren-ca lướt bên cạnh ông, khéo léo rút ngắn hay kéo dài đúng lúc những bước chân nhỏ nhắn đi giày xa tanh trắng, đến nỗi chẳng ai nhận ra. Cả phòng nhảy dõi theo từng cử động của đôi cha con. Còn tôi không chỉ ngắm, mà nhìn họ với một nỗi xúc động say sưa. Đặc biệt làm tôi cảm động là đôi ủng của ông, đôi ủng có dây vòng dưới gót, bằng da bê tốt, nhưng không hợp thời trang. Đó không phải loại mũi nhọn, mà là loại cổ, mũi vuông, không có gót. Rõ ràng đôi ủng ấy do anh thợ giày của tiểu đoàn đóng. "Để đưa đứa con gái yêu đi chơi và sắm sửa cho nó, ông không mua ủng thời trang mà đi ủng tự đóng lấy," tôi nghĩ, và những cái mũi ủng vuông vức ấy làm tôi đặc biệt cảm động. Nhìn là biết ngày trước ông đã từng nhảy rất đẹp, nhưng giờ ông nặng nề rồi, đôi chân đã không còn đủ dẻo dai cho tất cả những bước nhảy đẹp đẽ và nhanh nhẹn mà ông cố làm. Nhưng ông vẫn khéo léo đi được hai vòng. Khi ông nhanh nhẹn dang hai chân ra, rồi khép lại, và tuy có hơi nặng nề, quỳ xuống một bên gối, còn nàng mỉm cười, sửa lại vạt váy bị ông vướng phải, lướt nhẹ nhàng một vòng quanh ông, thì mọi người vỗ tay rầm rộ. Gắng sức đứng dậy, ông âu yếm, trìu mến ôm lấy hai bên tai con gái, hôn lên trán nàng, rồi dẫn nàng đến chỗ tôi, tưởng tôi đang nhảy với nàng. Tôi nói tôi không phải bạn nhảy của nàng.
— Thôi, cũng thế cả, giờ anh nhảy với nó một vòng đi, ông nói, mỉm cười trìu mến, tra kiếm vào dây đeo.
Cũng như khi một giọt chảy ra khỏi chai, thì cả chai sẽ tuôn ra thành dòng, trong tâm hồn tôi, tình yêu với Va-ren-ca đã giải phóng tất cả khả năng yêu thương còn ẩn giấu trong lòng. Lúc ấy tôi ôm cả thế gian bằng tình yêu của mình. Tôi yêu cả bà chủ nhà đeo vòng kim cương có bộ ngực như nữ hoàng Ê-li-da-vê-ta, yêu cả chồng bà, khách khứa của bà, đám người hầu của bà, và cả gã kỹ sư A-ni-xi-mốp đang hờn dỗi tôi. Còn với cha nàng, với đôi ủng tự đóng và nụ cười dịu dàng giống nàng, lúc ấy tôi cảm thấy một tình cảm âu yếm đến say sưa.
Điệu ma-dua-ca kết thúc, ông bà chủ mời khách vào ăn tối, nhưng đại tá B. từ chối, nói rằng sáng mai ông phải dậy sớm, rồi chào ông bà chủ ra về. Tôi đã sợ người ta đưa cả nàng về, nhưng nàng ở lại với mẹ.
Sau bữa tối, tôi nhảy với nàng điệu ca-đri đã hẹn. Tưởng như tôi đã hạnh phúc vô bờ, thế mà hạnh phúc của tôi cứ lớn lên mãi, lớn lên mãi. Chúng tôi không nói gì về tình yêu. Tôi không hỏi nàng, mà cũng chẳng tự hỏi mình xem nàng có yêu tôi không. Chỉ cần tôi yêu nàng là đủ rồi. Và tôi chỉ sợ mỗi một điều, là có gì đó làm hỏng hạnh phúc của tôi.
Khi về đến nhà, cởi áo ra và nghĩ đến chuyện đi ngủ, tôi thấy điều đó hoàn toàn không thể được. Trong tay tôi là chiếc lông nhỏ từ quạt của nàng và nguyên một chiếc găng tay nàng đưa cho tôi lúc ra về, khi lên xe, lúc tôi đỡ mẹ nàng rồi đỡ nàng lên. Tôi nhìn những vật ấy, và không cần nhắm mắt, tôi cũng thấy nàng trước mặt mình. Khi thì đúng lúc nàng phải chọn giữa hai chàng trai, đoán ra phẩm chất của tôi, và tôi nghe giọng nói dễ thương của nàng: "Kiêu hãnh? phải không anh?", rồi nàng vui vẻ đưa tay cho tôi. Khi thì lúc nàng nhấp ngụm sâm banh trong bữa tối, rồi ngước mắt lên nhìn tôi âu yếm. Nhưng nhiều nhất là tôi thấy nàng nhảy với cha, lướt nhẹ nhàng quanh ông, rồi tự hào và vui sướng, cho cả mình lẫn cho cha, đưa mắt nhìn những người đang ngắm họ. Và bất giác, tôi gắn ông với nàng trong cùng một tình cảm dịu dàng, cảm động.
Hồi ấy, tôi sống riêng với người anh trai nay đã mất. Anh tôi vốn không ưa giới thượng lưu, chẳng bao giờ đi dự khiêu vũ, mà dạo ấy lại đang chuẩn bị thi lấy bằng, sống rất nề nếp. Anh đang ngủ. Tôi nhìn cái đầu anh vùi vào gối, chiếc chăn dạ đắp đến nửa đầu, và tôi thấy thương anh, thương vì anh không biết và không được chia sẻ cái hạnh phúc mà tôi đang có. Anh người hầu nông nô của chúng tôi là Pê-tơ-ru-sa cầm nến ra đón tôi, định giúp tôi thay áo, nhưng tôi cho anh đi ngủ. Khuôn mặt ngái ngủ và mái tóc rối bù của anh trông cảm động đến lạ. Cố không gây tiếng động, tôi rón rén về phòng mình, ngồi xuống giường. Không, tôi hạnh phúc quá, tôi không thể ngủ được. Vả lại trong mấy căn phòng đốt lò ấm sực tôi thấy nóng, nên tôi cứ để nguyên bộ đồng phục, khẽ khàng ra gian ngoài, khoác áo choàng, mở cửa, đi ra phố.
Tôi rời buổi khiêu vũ lúc hơn bốn giờ sáng, về đến nhà, ngồi ở nhà một lúc, lại thêm chừng hai tiếng nữa, nên khi tôi ra khỏi nhà thì trời đã sáng. Đúng là tiết trời của tuần lễ hội tiễn đông. Sương mù dày đặc, tuyết sũng nước tan trên mặt đường, mái nhà nào cũng nhỏ giọt. Hồi ấy nhà B. ở cuối thành phố, cạnh một cánh đồng lớn, một đầu cánh đồng là chỗ dạo chơi, đầu kia là một trường nữ sinh. Tôi đi qua con ngõ vắng của chúng tôi, ra đến phố lớn, bắt đầu gặp người đi bộ và những bác phu xe chở củi trên xe trượt, thanh trượt sát cả xuống mặt đường lát đá. Những con ngựa đều đều lắc lư cái đầu ướt đẫm dưới những chiếc vòng ách bóng loáng, những bác phu xe khoác bao cói, lép nhép đôi ủng to tướng đi cạnh xe, những ngôi nhà bên đường trông cao vút trong sương mù, tất cả đều đặc biệt thân thương và có ý nghĩa đối với tôi.
Khi ra đến cánh đồng có nhà nàng, tôi thấy ở cuối cánh đồng, về phía chỗ dạo chơi, có một khối gì đen đen, to lớn, và nghe vọng lại tiếng sáo và tiếng trống. Trong lòng tôi lúc nào cũng có tiếng hát, thỉnh thoảng lại vang lên khúc ma-dua-ca. Nhưng đây là một thứ nhạc khác, một thứ nhạc khắc nghiệt, chẳng lành.
"Cái gì thế nhỉ?" tôi nghĩ, rồi theo con đường trơn trượt do xe đi lại giữa cánh đồng, tôi đi về phía có tiếng nhạc. Đi được chừng trăm bước, qua làn sương mù, tôi bắt đầu nhận ra nhiều bóng người đen đen. Rõ ràng là lính. "Chắc là đang tập luyện," tôi nghĩ, rồi cùng với một bác thợ rèn mặc áo lông ngắn cũ bóng mỡ, đeo tạp dề, đang mang gì đó đi trước tôi, tôi lại gần hơn. Những người lính mặc quân phục đen đứng thành hai hàng đối diện nhau, súng chống xuống đất, đứng im không động đậy. Đằng sau họ, một người đánh trống và một người thổi sáo cứ lặp đi lặp lại mãi cái điệu nhạc the thé khó chịu ấy.
— Họ làm gì thế bác? tôi hỏi bác thợ rèn đang dừng lại bên cạnh tôi.
— Họ đánh đòn một anh lính Tác-ta tội đào ngũ, bác thợ rèn giận dữ nói, đưa mắt nhìn về phía đầu kia của hai hàng lính.
Tôi cũng nhìn về phía ấy, và giữa hai hàng lính, tôi thấy một cái gì khủng khiếp đang tiến lại gần tôi. Cái đang tiến lại gần tôi là một người đàn ông cởi trần đến thắt lưng, bị trói vào súng của hai người lính đang dẫn anh ta đi. Đi cạnh anh ta là một quân nhân cao lớn, mặc áo choàng, đội mũ lưỡi trai, dáng người trông quen quen. Toàn thân giật nảy, hai chân lép nhép trên tuyết tan, người bị phạt dưới những đòn roi trút xuống từ hai phía, cứ tiến dần về phía tôi. Khi thì anh ta ngã ngửa ra sau, thế là hai viên hạ sĩ quan đang dẫn anh ta bằng hai khẩu súng đẩy anh ta tới trước. Khi thì anh ta chúi người về phía trước, thế là hai viên hạ sĩ quan lại giật anh ta lại cho khỏi ngã. Và không rời anh ta một bước, người quân nhân cao lớn bước đi với dáng vững chãi, hơi rung rung. Đó là cha nàng, với khuôn mặt hồng hào, bộ ria và hai chòm tóc mai trắng.
Mỗi lần bị đánh, người bị phạt như ngạc nhiên, lại quay khuôn mặt nhăn nhúm vì đau đớn về phía đòn vừa giáng xuống, nhe hàm răng trắng, lặp đi lặp lại mãi mấy lời. Chỉ đến khi anh ta lại thật gần, tôi mới nghe ra những lời ấy. Anh ta không nói, mà nức nở: "Anh em ơi, thương tôi với. Anh em ơi, thương tôi với." Nhưng anh em không thương, và khi đoàn người đến ngang chỗ tôi, tôi thấy người lính đứng trước mặt tôi dứt khoát bước lên một bước, vung gậy rít lên trong không khí, quất mạnh vào lưng người lính Tác-ta. Người Tác-ta chúi về phía trước, nhưng mấy viên hạ sĩ quan giữ anh ta lại, và một đòn giống hệt thế giáng xuống anh ta từ phía bên kia, rồi lại từ phía bên này, rồi lại phía bên kia. Ông đại tá đi bên cạnh, khi thì nhìn xuống chân mình, khi thì nhìn người bị phạt, hít một hơi dài, phồng má lên, rồi từ từ thở ra qua đôi môi chu lên. Khi đoàn người đi qua chỗ tôi đứng, tôi thoáng thấy giữa hai hàng lính tấm lưng của người bị phạt. Đó là một cái gì loang lổ, ướt đẫm, đỏ lòm, kỳ dị đến nỗi tôi không tin đó là thân thể của con người.
— Ôi lạy Chúa, bác thợ rèn đứng cạnh tôi thốt lên.
Đoàn người đi xa dần, những đòn roi vẫn trút xuống từ hai phía lên con người đang vấp ngã, quằn quại, tiếng trống vẫn đánh, tiếng sáo vẫn rít, và dáng người cao lớn, đường bệ của ông đại tá vẫn bước những bước vững chãi bên cạnh người bị phạt. Bỗng ông đại tá dừng lại, nhanh nhẹn bước tới một người lính.
— Tao cho mày biết tay, tôi nghe giọng ông giận dữ. Còn đánh nhẹ tay nữa không? Còn nữa không?
Và tôi thấy ông lấy bàn tay khoẻ mạnh đeo găng da hoẵng tát vào mặt một người lính thấp bé, yếu ớt, đang sợ hãi, chỉ vì anh ta đã không giáng gậy đủ mạnh xuống tấm lưng đỏ lòm của người Tác-ta.
— Đưa roi mới ra đây! ông quát, nhìn quanh, và trông thấy tôi. Làm như không quen biết tôi, ông cau mày dữ tợn, giận dữ, vội vàng quay đi. Tôi xấu hổ đến mức không biết nhìn vào đâu, như thể chính tôi vừa bị bắt quả tang làm một việc nhục nhã nhất, tôi cúi gằm mặt và vội vã đi về nhà. Suốt dọc đường, bên tai tôi khi thì tiếng trống dồn dập và tiếng sáo rít lên, khi thì những lời "Anh em ơi, thương tôi với", khi thì giọng nói tự tin, giận dữ của ông đại tá quát: "Còn đánh nhẹ tay nữa không? Còn nữa không?" Còn trong lòng tôi là một nỗi buồn nặng nề gần như thể xác, đến buồn nôn, đến nỗi mấy lần tôi phải dừng lại, và tưởng như sắp nôn ra tất cả nỗi kinh hoàng đã ngấm vào người mình từ cảnh tượng ấy. Tôi không nhớ mình đã về đến nhà và nằm xuống như thế nào. Nhưng vừa thiu thiu ngủ, tôi lại nghe thấy và nhìn thấy tất cả, và tôi bật dậy.
"Hẳn là ông ấy biết một điều gì mà mình không biết, tôi nghĩ về ông đại tá. Giá mình biết điều ông ấy biết, thì mình sẽ hiểu được cái mình đã thấy, và nó sẽ không làm mình đau khổ thế này." Nhưng nghĩ mãi, tôi vẫn không hiểu được cái điều ông đại tá biết, và mãi đến chiều tôi mới ngủ được, mà cũng chỉ sau khi đến nhà một người bạn và uống với anh ta say mèm.
Thế các vị nghĩ là hồi ấy tôi đã kết luận rằng điều tôi thấy là một việc xấu xa ư? Không hề. "Nếu việc ấy được làm với một niềm tin vững vàng như thế, và mọi người đều cho là cần thiết, thì hẳn họ phải biết một điều gì đó mà mình không biết," tôi nghĩ vậy, và cố tìm hiểu điều ấy. Nhưng cố mấy cũng không, mà cả về sau tôi cũng không biết được. Mà không biết được điều ấy thì tôi không thể vào quân đội như trước kia tôi vẫn muốn. Và tôi chẳng những không làm trong quân đội, mà chẳng làm ở đâu cả, và như các vị thấy đấy, chẳng được việc gì.
— Thôi, chúng tôi biết ông chẳng được việc gì thế nào rồi, một người trong chúng tôi nói. Ông nói xem thì hơn, giá không có ông thì bao nhiêu người sẽ chẳng được việc gì.
— Thôi, thế thì đúng là nói nhảm rồi, I-van Va-xi-li-ê-vích nói, vẻ bực bội thật lòng.
— Thế còn tình yêu thì sao? chúng tôi hỏi.
— Tình yêu ư? Từ hôm ấy, tình yêu cứ nhạt dần. Khi nàng, như vẫn thường thế, mỉm cười mà nghĩ ngợi điều gì, là tôi lại nhớ ngay đến ông đại tá trên quảng trường, và tôi thấy ngượng ngùng, khó chịu thế nào ấy, rồi tôi gặp nàng thưa dần. Và tình yêu cứ thế mà tàn lụi. Đấy, những chuyện như thế đấy, và cả cuộc đời con người đã thay đổi, đã rẽ hướng chỉ vì những chuyện như thế. Thế mà các vị lại bảo… ông kết thúc câu chuyện.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn