Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bọn buôn người

Sơn Tiêu Đại Phu · Chương 1/4 · của Mori Ōgai

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 16.462 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Trên con đường qua Ca-xư-ga xứ Ê-chi-gô, ra tới…
  2. 1:47Chị người làm cất tiếng gọi:
  3. 3:54Bọn buôn người đã lảng vảng thì cứ đi…
  4. 6:10Người đàn ông nói:
  5. 8:15Mẹ con gặp Y-a-ma-ô-ca Đai-u dưới gầm cầu Ô-kê,…
  6. 12:03Kẻ định qua mặt là mày đấy chứ.
  7. 13:34Thôi hết rồi. Thế là xa nhau rồi. An-giu,…
  8. 14:52Xa-đô túm tóc bà kéo ngã xuống:

Chương 1: Bọn buôn người

Trên con đường qua Ca-xư-ga xứ Ê-chi-gô, ra tới I-ma-dư, có một đoàn lữ khách hiếm thấy đang đi. Người mẹ vừa ngoài ba mươi, dắt theo hai đứa con. Chị mười bốn, em mười hai. Theo hầu còn có một chị người làm chừng bốn mươi tuổi, chị cứ động viên hai chị em đã mỏi mệt: "Sắp tới quán trọ rồi đấy ạ", để chúng gắng mà đi. Trong hai đứa, cô chị lê chân bước, nhưng vốn tính hiếu thắng, không muốn để mẹ và em biết mình mệt, nên thỉnh thoảng lại như sực nhớ ra, bước đi nhún nhảy cho ra vẻ còn khoẻ. Nếu đi lễ chùa ở chỗ gần thì đoàn người này trông cũng vừa vặn, nhưng ai nấy đều nón, đều gậy, ăn vận gọn gàng như đi xa, nên ai trông thấy cũng lấy làm lạ, lại thấy tội nghiệp.

Con đường chạy giữa những nhà nông lúc thưa lúc dày. Cát sỏi nhiều, nhưng nhờ trời thu hanh khô, lại lẫn đất sét nên nện chặt, không lún đến mắt cá làm khổ người như đường ven biển.

Đoàn người đi ngang một khu có mấy nóc nhà mái rạ quây quần, bao quanh là rừng sồi, nắng chiều rọi chói chang.

— Kìa các con xem, lá đỏ đẹp chưa.

Người mẹ đi trước chỉ tay, bảo các con.

Bọn trẻ nhìn theo tay mẹ chỉ mà chẳng nói gì, nên chị người làm đỡ lời:

— Lá cây đỏ được thế kia, thì sớm tối lạnh hơn cũng phải thôi.

Cô chị bỗng quay sang em, nói:

— Chị muốn mau tới chỗ cha quá.

— Chị ơi. Còn lâu mới tới được cơ.

Đứa em đáp ra vẻ khôn ngoan.

Người mẹ dịu dàng bảo:

— Phải đấy. Phải vượt bao nhiêu ngọn núi như những núi ta đã qua, lại phải bao lần đi thuyền qua sông qua biển, mới tới được. Ngày nào cũng phải gắng mà ngoan ngoãn đi cho đều chân.

— Nhưng con muốn mau tới cơ mà.

Cô chị nói.

Cả đoàn im lặng đi một lúc.

Từ phía trước có một người đàn bà gánh đôi thùng không đi tới. Đó là một chị gánh nước biển từ ruộng muối về.

Chị người làm cất tiếng gọi:

— Này chị ơi. Quanh đây có nhà nào cho khách trọ không?

Chị gánh nước dừng chân, nhìn khắp lượt bốn người chủ tớ. Rồi nói:

— Ôi, tội nghiệp chưa. Trời tối đúng chỗ chẳng ra sao. Ở vùng này không có lấy một nhà nào cho khách đi đường trọ cả.

Chị người làm nói:

— Thật thế ư? Sao lòng người ở đây lại tệ thế?

Hai đứa trẻ thấy câu chuyện mỗi lúc một gay, xán lại gần chị gánh nước, thành ra cùng chị người làm vây quanh chị ta.

Chị gánh nước nói:

— Không phải đâu. Vùng này nhiều người mộ đạo, lòng người tốt lắm, nhưng luật của quan trấn thủ thì biết làm sao. Kia kìa...

Nói dở chừng, chị chỉ về con đường mình vừa đi qua:

— Đã trông thấy kia rồi, các bà đi tới chiếc cầu kia thì có tấm bảng yết thị. Nghe nói trên đó viết rõ lắm, rằng dạo này có bọn buôn người độc ác lảng vảng quanh đây. Cho nên ai cho khách đi đường trọ lại sẽ bị bắt tội. Nghe đâu bảy nhà chung quanh cũng bị vạ lây.

— Thế thì khổ quá. Lại có cả trẻ con, chẳng đi xa thêm được nữa. Có cách nào chăng?

— Để xem. Nếu các bà đi tới chỗ ruộng muối tôi làm thì trời tối mất rồi. Chắc chỉ còn cách tìm chỗ nào tạm được quanh đây mà ngủ ngoài trời thôi. Theo tôi thì các bà nghỉ dưới gầm cầu đằng kia là hơn. Sát bờ kè đá, dưới bãi sông có dựng rất nhiều cây gỗ lớn. Gỗ thả từ thượng nguồn sông A-ra-ca-oa xuống. Ban ngày trẻ con chơi dưới đó, nhưng phía trong có chỗ nắng không lọt tới, tối om. Ở đó chắc gió không lùa. Tôi ở nhà ông chủ ruộng muối mà ngày nào tôi cũng tới làm đây. Ngay trong rừng sồi kia thôi. Tối đến tôi sẽ mang rơm với chiếu cói tới cho.

Người mẹ nãy giờ đứng riêng một mình nghe chuyện, lúc ấy bước lại gần chị gánh nước:

— Gặp được người tốt như chị là phúc của mẹ con tôi. Chúng tôi sẽ tới đó nghỉ. Xin chị cho mượn ít rơm với chiếu cói. Ít ra để các con tôi có cái mà lót, mà đắp.

Chị gánh nước nhận lời, quay về phía rừng sồi. Bốn người chủ tớ vội vã đi về phía chiếc cầu.

Đoàn người tới chân cầu Ô-kê bắc qua sông A-ra-ca-oa. Đúng như lời chị gánh nước, có một tấm bảng yết thị mới dựng. Luật của quan trấn thủ viết trên đó cũng chẳng sai lời chị.

Bọn buôn người đã lảng vảng thì cứ đi mà lùng bắt bọn buôn người. Cớ sao quan trấn thủ lại đặt ra cái luật ngăn khách đi đường dừng chân, khiến những người lỡ đường phải lang thang đầu đường xó chợ? Thật là một cách lo liệu vụng về. Nhưng trong mắt người xưa, luật là luật. Người mẹ chỉ than cho số phận mình lạc tới vùng đất có cái luật như thế, chứ chẳng nghĩ luật ấy hay hay dở.

Ở chân cầu có lối mòn cho người xuống bãi sông giặt giũ. Đoàn người theo lối ấy xuống bãi. Quả nhiên có những cây gỗ lớn dựng tựa vào bờ kè đá. Cả đoàn men theo bờ kè, chui vào dưới đống gỗ. Thằng bé thích thú, hăm hở chui vào trước.

Chui sâu vào trong, có một chỗ như cái hang. Bên dưới có cây gỗ lớn nằm ngang, chẳng khác gì lát sàn.

Thằng bé đi trước, leo lên cây gỗ nằm ngang, chui vào góc trong cùng, gọi:

— Chị ơi, vào mau đi.

Cô chị rụt rè lại gần em.

— Khoan đã nào.

Chị người làm nói, rồi đặt bọc hành lý trên lưng xuống. Chị lấy quần áo để thay, bảo bọn trẻ đứng sang bên, trải xuống góc. Rồi để mẹ con ngồi lên đó.

Người mẹ vừa ngồi, hai đứa con đã ôm lấy mẹ từ hai bên. Từ khi rời nhà ở quận Si-nô-bư xứ I-oa-si-rô tới đây, mẹ con đã có lần phải ngủ ở chỗ còn tệ hơn cái gầm gỗ này, dù là trong nhà. Dần dần đã quen với cảnh thiếu thốn, nên giờ cũng chẳng thấy khổ lắm.

Thứ chị người làm lấy trong bọc ra đâu chỉ có quần áo. Còn có ít đồ ăn mang theo phòng thân. Chị bày ra trước mặt mẹ con, rồi nói:

— Ở đây không đốt lửa được. Nhỡ kẻ xấu trông thấy thì nguy. Để tôi tới nhà ông chủ ruộng muối gì đó xin ít nước nóng. Rồi nhờ luôn chuyện rơm với chiếu cói.

Chị người làm tất tả đi. Bọn trẻ vui vẻ ăn cốm gạo, ăn trái cây phơi khô.

Một lúc sau, có tiếng chân người đi vào dưới gầm gỗ.

— U-ba-ta-kê đấy à?

Người mẹ cất tiếng hỏi. Nhưng trong bụng lại ngờ, đi tới rừng sồi rồi về thì sao nhanh thế. U-ba-ta-kê là tên chị người làm.

Người đi vào là một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi. Xương cốt chắc nịch, gầy đến nỗi đếm được từng thớ thịt dưới da, gương mặt như tượng ngà chạm đầy nụ cười, tay cầm tràng hạt. Ông ta bước đi quen thuộc như trong nhà mình, tiến lại chỗ mẹ con đang nấp. Rồi ngồi xuống đầu cây gỗ mẹ con đang ngồi.

Mẹ con chỉ biết ngỡ ngàng nhìn. Thấy ông ta chẳng có vẻ gì định làm hại, nên cũng chẳng thấy sợ.

Người đàn ông nói:

— Tôi là Y-a-ma-ô-ca Đai-u, người đi biển. Dạo này nghe nói có bọn buôn người lảng vảng vùng này, quan trấn thủ cấm cho khách trọ. Xem ra bắt bọn buôn người thì quan trấn thủ chịu. Tội nghiệp là khách đi đường. Vì thế tôi nảy ý cứu giúp khách đi đường. May nhà tôi xa đường cái, có lén cho người trọ cũng chẳng phải nể ai. Tôi đi khắp những khu rừng, những gầm cầu người ta hay ngủ ngoài trời mà tìm, đến nay đã đưa được khối người về nhà. Thấy các cháu đang ăn bánh trái, nhưng những thứ ấy chẳng no bụng, lại hại răng. Nhà tôi chẳng có gì thết đãi, nhưng cũng có bát cháo khoai. Xin bà đừng ngại mà tới.

Người đàn ông nói chẳng có vẻ gì là ép, mà như nói một mình.

Người mẹ chăm chú nghe, không khỏi cảm động trước tấm lòng quý hoá muốn cứu người, dù phải trái luật lệ của đời. Bèn nói:

— Nghe ông nói, tôi thấy tấm lòng ông thật đáng quý. Trọ nhờ chỗ có luật cấm cho trọ, nhỡ làm khổ chủ nhà, tôi cứ lo điều ấy. Nhưng tôi thì sao cũng được, chỉ cần các con tôi được ăn bát cháo nóng, được ngủ dưới mái nhà, thì ơn ấy tới đời sau tôi cũng không quên.

Y-a-ma-ô-ca Đai-u gật đầu:

— Chà chà, quả là một bà hiểu lẽ phải. Vậy tôi dẫn đường ngay.

Nói rồi ông ta làm như sắp đứng dậy.

Người mẹ áy náy nói:

— Xin ông chờ cho một chút. Ba mẹ con được nhờ cậy đã thấy ái ngại, nói điều này cũng chẳng nên, nhưng thật ra chúng tôi còn một người đi cùng nữa.

Y-a-ma-ô-ca Đai-u dỏng tai:

— Còn một người đi cùng ư? Đàn ông hay đàn bà?

— Là chị người làm theo hầu để trông các cháu. Chị ấy nói đi xin nước nóng, quay ngược đường cái mấy trăm thước. Chắc sắp về rồi.

— Chị người làm à. Thế thì tôi chờ.

Trên gương mặt điềm tĩnh, sâu không thấy đáy của Y-a-ma-ô-ca Đai-u, chẳng hiểu sao thoáng một bóng vui mừng.

Đây là vịnh Na-ô-ê. Mặt trời còn khuất sau núi Cô-mê-y-a-ma, trên mặt biển xanh thẫm phủ một làn sương mỏng.

Có người lái thuyền đang chở một đoàn khách lên thuyền rồi tháo dây neo. Người lái thuyền là Y-a-ma-ô-ca Đai-u, khách là bốn người chủ tớ đã trọ đêm qua ở nhà ông ta.

Mẹ con gặp Y-a-ma-ô-ca Đai-u dưới gầm cầu Ô-kê, đợi chị người làm U-ba-ta-kê xin được nước nóng đựng trong cái bình sứt mẻ về, rồi theo ông ta đi trọ. U-ba-ta-kê mặt mày lo lắng mà vẫn theo. Ông ta đưa bốn người về một ngôi nhà cỏ trong rừng thông, rẽ khỏi đường cái về phía nam, mời ăn cháo khoai. Rồi hỏi họ đi từ đâu tới đâu. Cho bọn trẻ mệt mỏi đi ngủ trước, người mẹ ngồi dưới ngọn đèn leo lét kể đại khái thân phận mình cho chủ nhà nghe.

Bà là người xứ I-oa-si-rô. Chồng đi xuống Tsư-cư-si không về, nên bà dắt hai con đi tìm. U-ba-ta-kê là chị người làm trông nom cô chị từ lúc mới lọt lòng, chị không có họ hàng thân thích, nên theo hầu chuyến đi xa xôi bấp bênh này. Bà kể như thế.

Tới được đây rồi, nhưng nghĩ tới chuyện phải đi tận cùng Tsư-cư-si, thì có thể nói chỉ vừa mới rời nhà. Từ đây nên đi đường bộ, hay đi đường thuỷ? Chủ nhà là người đi biển, hẳn biết rõ những miền xa. Xin ông chỉ giúp cho, người mẹ nhờ.

Đai-u như bị hỏi một điều ai cũng biết, chẳng ngần ngừ chút nào, khuyên đi đường thuỷ. Đi đường bộ thì ngay chỗ giáp xứ Ét-chu bên cạnh đã có đoạn hiểm "Cha không biết con, con không biết cha". Dưới chân vách đá dựng đứng như gọt, sóng dữ vỗ vào. Khách đi đường phải chui vào hang ngách chờ sóng rút, rồi chạy vụt qua con đường hẹp dưới vách đá. Lúc ấy cha mẹ chẳng kịp ngoảnh lại nhìn con, con cũng chẳng kịp ngoảnh lại nhìn cha mẹ. Ấy là đoạn hiểm ven biển. Còn vượt núi thì có những đường men vách núi nguy hiểm, giẫm phải hòn đá lung lay là rơi xuống đáy vực nghìn trượng. Tới được miền tây, không biết còn bao nhiêu đoạn hiểm. Còn đường thuỷ thì khác, an toàn lắm. Chỉ cần nhờ được người lái thuyền tin cẩn, thì ngồi yên một chỗ mà đi trăm dặm nghìn dặm cũng được. Bản thân ông không đi tới miền tây được, nhưng quen biết người lái thuyền các xứ, nên có thể chở họ ra khơi rồi cho đổi sang thuyền đi miền tây. Sáng mai sẽ chở ra ngay, Đai-u nói như chuyện chẳng có gì.

Trời vừa rạng, Đai-u giục bốn người chủ tớ ra khỏi nhà. Lúc ấy người mẹ lấy tiền trong túi nhỏ, định trả tiền trọ. Đai-u ngăn lại, bảo không lấy tiền trọ, nhưng cái túi đựng tiền quý giá thì để ông giữ cho. Ông bảo đồ quý, tới quán trọ thì gửi chủ trọ, lên thuyền thì gửi chủ thuyền.

Từ lúc nhận lời trọ nhờ, người mẹ đã thành ra phải nghe theo lời chủ nhà. Bà biết ơn ông đã phạm luật mà cho trọ, nhưng chẳng tin ông tới mức chuyện gì cũng răm rắp nghe theo. Thành ra thế, là vì lời ông có một sức mạnh đè ép người khác, bà không sao cưỡng lại được. Không cưỡng lại được, là vì ở ông có cái gì đó đáng sợ. Nhưng người mẹ không nghĩ là mình sợ ông. Chính bà cũng không hiểu rõ lòng mình.

Người mẹ lên thuyền với tâm trạng như làm một việc bất đắc dĩ. Bọn trẻ thấy mặt biển lặng như trải tấm thảm xanh, lòng háo hức vì lạ, hớn hở lên thuyền. Chỉ có gương mặt U-ba-ta-kê, từ lúc rời gầm cầu hôm qua cho tới lúc bước lên thuyền, vẫn chưa hết vẻ lo âu.

Y-a-ma-ô-ca Đai-u tháo dây neo. Ông lấy sào đẩy bờ một cái, thuyền chòng chành rời bến.

Y-a-ma-ô-ca Đai-u men theo bờ, chèo về phía nam, phía giáp xứ Ét-chu. Sương tan dần, sóng lấp lánh dưới nắng.

Ở một chỗ khuất sau mỏm đá, không có nhà cửa, sóng rửa cát, đánh dạt rong biển lên bờ, có hai chiếc thuyền đang đậu. Người lái thuyền thấy Đai-u liền gọi:

— Thế nào? Có không?

Đai-u giơ tay phải lên, gập ngón cái lại. Rồi cũng buộc thuyền ở đó. Gập ngón cái là hiệu cho biết có bốn người.

Một người lái thuyền đậu sẵn ở đó tên là Sa-bư-rô xứ Mi-y-a-da-ki, người Mi-y-a-da-ki đất Ét-chu. Hắn xoè nắm tay trái ra. Tay phải là hiệu chỉ hàng, thì tay trái là hiệu chỉ tiền. Thế là hắn trả năm quan.

— Ta trả hơn đấy.

Người lái thuyền kia nói, rồi vụt duỗi khuỷu tay trái ra, xoè nắm tay một lần, rồi dựng thêm ngón trỏ. Gã này là Gi-rô xứ Xa-đô, trả sáu quan.

— Đồ tham lam!

Mi-y-a-da-ki quát, chực đứng lên.

— Kẻ định qua mặt là mày đấy chứ.

Xa-đô thủ thế. Hai chiếc thuyền chao nghiêng, mạn thuyền quất xuống nước.

Đai-u lạnh lùng nhìn mặt hai gã lái thuyền:

— Đừng vội. Chẳng để đứa nào về tay không. Cho khách khỏi chật chội, ta chia mỗi bên hai người. Tiền thì tính theo giá đã trả.

Nói rồi, Đai-u quay lại phía khách:

— Nào, mời các vị chia hai người một sang thuyền kia. Thuyền nào cũng đi miền tây cả. Thuyền chở nặng quá thì chạy chậm.

Đai-u nắm tay đỡ hai đứa trẻ sang thuyền Mi-y-a-da-ki, người mẹ và U-ba-ta-kê sang thuyền Xa-đô. Lúc đỡ xong rụt tay về, cả Mi-y-a-da-ki lẫn Xa-đô đều dúi vào tay Đai-u mấy xâu tiền.

— Kìa, cái túi bà chủ gửi ông...

U-ba-ta-kê vừa níu tay áo chủ, thì Y-a-ma-ô-ca Đai-u đã đẩy vụt chiếc thuyền không ra.

— Tôi xin từ biệt ở đây. Việc của tôi là trao từ tay tin cẩn sang tay tin cẩn. Chúc các vị thượng lộ bình an.

Tiếng mái chèo khua gấp gáp, thuyền của Y-a-ma-ô-ca Đai-u xa dần trong chớp mắt.

Người mẹ nói với Xa-đô:

— Hai thuyền chèo cùng một đường, tới cùng một bến phải không ông?

Xa-đô và Mi-y-a-da-ki nhìn nhau, cười to thành tiếng. Rồi Xa-đô nói:

— Thuyền ngồi là thuyền cứu độ, tới là cùng một bờ bên kia, sư cụ chùa Liên Hoa Phong nói thế đấy.

Hai gã lái thuyền im bặt, cho thuyền đi. Gi-rô xứ Xa-đô chèo về phía bắc. Sa-bư-rô xứ Mi-y-a-da-ki chèo về phía nam. Mẹ con chủ tớ chỉ còn biết gọi nhau "Kìa, kìa", trong khi cứ xa nhau mãi.

Người mẹ như phát cuồng, bám tay vào mạn thuyền, nhướn người lên:

— Thôi hết rồi. Thế là xa nhau rồi. An-giu, con giữ gìn tượng Địa Tạng hộ mệnh nhé. Du-si-ô, con giữ gìn thanh đao hộ thân cha cho nhé. Hai đứa đừng bao giờ xa nhau nhé.

An-giu là tên cô chị, Du-si-ô là tên đứa em.

Bọn trẻ chỉ biết gọi: "Mẹ ơi, mẹ ơi."

Hai con thuyền xa nhau dần. Phía sau, chỉ còn thấy miệng hai đứa trẻ há ra như những con chim non chờ mồi, mà tiếng thì không còn nghe thấy nữa.

U-ba-ta-kê gọi Gi-rô xứ Xa-đô mãi: "Ông lái ơi, ông lái ơi", nhưng Xa-đô mặc kệ, rốt cuộc chị bám lấy cái chân như thân cây thông đỏ của hắn:

— Ông lái ơi. Thế này là thế nào? Xa cô chủ cậu chủ, sống mà đi đâu được. Bà chủ tôi cũng thế. Từ nay bà biết lấy gì mà nương tựa. Xin ông chèo theo hướng chiếc thuyền kia. Tôi lạy ông.

— Lắm chuyện.

Xa-đô đạp ngược ra sau. U-ba-ta-kê ngã lăn trên thuyền. Tóc rối xoã cả lên mạn thuyền.

U-ba-ta-kê nhỏm dậy:

— Thôi. Thế là hết. Bà ơi, tôi xin phép bà.

Nói rồi chị lao đầu xuống biển.

— Này!

Gã lái thuyền vươn tay ra, nhưng không kịp.

Người mẹ cởi chiếc áo khoác ngoài, đặt trước mặt Xa-đô:

— Đây là thứ xoàng xĩnh, nhưng xin tạ ông đã cất công. Tôi cũng xin từ biệt.

Nói rồi bà đặt tay lên mạn thuyền.

— Đồ ngu!

Xa-đô túm tóc bà kéo ngã xuống:

— Để cả mày chết nữa thì còn ra gì. Hàng quý đấy.

Gi-rô xứ Xa-đô lôi sợi dây thừng ra, trói người mẹ chằng chịt, quẳng nằm đó. Rồi chèo mãi về phía bắc.

Chở hai chị em cứ gọi mãi "Mẹ ơi, mẹ ơi", thuyền của Sa-bư-rô xứ Mi-y-a-da-ki men bờ chạy về phía nam.

— Thôi đừng gọi nữa.

Mi-y-a-da-ki quát:

— Tôm cá dưới đáy nước có nghe được, chứ mụ ấy không nghe được đâu. Bọn đàn bà ấy sang Xa-đô chắc bị bắt đi đuổi chim ruộng kê thôi.

Chị An-giu và em Du-si-ô ôm nhau mà khóc. Chúng tưởng rời quê hương, đi xa xôi, thì cũng là đi cùng mẹ, nay bất ngờ bị chia lìa, chẳng biết phải làm sao. Chỉ có nỗi buồn tràn ngập trong lòng, còn cuộc chia ly này sẽ đổi thay thân phận mình tới mức nào, thì chúng chưa thể hiểu nổi.

Trưa đến, Mi-y-a-da-ki lấy bánh ra ăn. Rồi cho An-giu và Du-si-ô mỗi đứa một cái. Hai đứa cầm bánh trong tay chẳng buồn ăn, nhìn nhau mà khóc. Đêm, nằm dưới tấm phên cói Mi-y-a-da-ki trùm cho, chúng khóc mãi rồi thiếp đi.

Cứ thế, hai chị em sống trên thuyền mấy ngày trời. Mi-y-a-da-ki đi rao bán khắp các bến các vịnh xứ Ét-chu, xứ Nô-tô, xứ Ê-chi-dên, xứ Oa-ca-xa.

Nhưng vì hai đứa còn nhỏ, người lại có vẻ yếu ớt, nên mãi chẳng có ai chịu mua. Thỉnh thoảng có người hỏi mua thì lại không ngã giá được. Mi-y-a-da-ki dần dần bực bội, bắt đầu đánh hai đứa: "Còn khóc mãi à?"

Thuyền Mi-y-a-da-ki đi vòng vèo, tới cảng Y-u-ra xứ Tan-gô. Ở đây, tại một nơi gọi là I-si-u-ra, có một nhà giàu tên là Sơn Tiêu Đại Phu, dựng một toà dinh lớn, sai người cấy lúa trồng mạch ngoài đồng, săn bắn trên núi, đánh cá ngoài biển, nuôi tằm, dệt vải, đồ kim khí, đồ gốm, đồ gỗ, thứ gì cũng thuê thợ từng nghề làm ra, người thì bao nhiêu ông cũng mua. Xưa nay Mi-y-a-da-ki hễ có món hàng nào chỗ khác không ai mua, thì lại đem tới cho Sơn Tiêu Đại Phu.

Viên cai nô của Đại Phu đang có mặt ở bến, mua ngay An-giu và Du-si-ô với giá bảy quan.

— Chà chà, tống được bọn nhãi đi, nhẹ cả người.

Sa-bư-rô xứ Mi-y-a-da-ki nói, rồi nhét tiền vào ngực áo. Rồi bước vào quán rượu bên bến.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sơn Tiêu Đại Phu

  1. 1Bọn buôn người17 phút
  2. 2Nhà Sơn Tiêu Đại PhuĐang thu âm
  3. 3Trốn khỏi dinhĐang thu âm
  4. 4Mẹ ơiĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảMori Ōgai (1862 – 1922)
Năm mất1922
Xuất bản lần đầu1915
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: 山椒大夫 (Sanshō Dayū), Mori Ōgai, tạp chí Chūō Kōron, tháng 1 năm 1915
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →