Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Sóng gió

của Lỗ Tấn

⏱ 14 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 14.640 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:03Trên bãi đất bên sông, mặt trời dần dần…
  2. 2:09Bà lại nói thế rồi. Con Sáu Cân lúc…
  3. 3:42Anh Bảy Cân lại thở dài, nói:
  4. 5:43Chị Bảy Cân nhớ hai năm trước anh Bảy…
  5. 7:08Bọn Trường Mao bây giờ chỉ biết cắt đuôi…
  6. 8:51Chị Bảy Cân, thôi đi mà. Người chứ có…
  7. 10:12Giận cá chém thớt thì đã là gì. Đại…
  8. 13:07Ở trong thành anh có nghe thấy gì không?

Trên bãi đất bên sông, mặt trời dần dần thu lại những tia nắng vàng rực của nó. Lá cây ô cữu bên bãi sát bờ sông, khô khốc, mới bắt đầu thở lại được, mấy con muỗi chân vằn vo ve bay lượn bên dưới. Khói bếp trong ống khói những nhà nông nhìn ra sông thưa dần. Đàn bà trẻ con đều té nước lên bãi đất trước cửa nhà mình, đặt xuống chiếc bàn nhỏ với mấy chiếc ghế đẩu thấp. Ai cũng biết đã tới giờ cơm tối.

Người già, đàn ông ngồi trên ghế thấp, phe phẩy quạt lá chuối to mà nói chuyện phiếm. Trẻ con chạy như bay, hoặc ngồi xổm dưới gốc ô cữu chơi ăn sỏi. Đàn bà bưng ra rau khô hấp đen sì với cơm vàng màu phấn thông, bốc hơi nghi ngút. Dưới sông có thuyền rượu của văn nhân đi qua, các văn hào thấy cảnh ấy, thi hứng dạt dào, nói: Chẳng nghĩ chẳng lo, thật là cái thú nhà nông đây!

Nhưng lời các văn hào có phần không khớp với sự thật, chính vì họ không nghe thấy lời cụ Chín Cân. Lúc ấy, cụ Chín Cân đang nổi giận đùng đùng. Cụ cầm cái quạt lá chuối rách gõ vào chân ghế mà nói:

— Tôi sống tới bảy mươi chín tuổi rồi, sống đủ rồi, chẳng muốn nhìn thấy cái cảnh phá gia chi tử này nữa, chết quách đi cho xong. Sắp ăn cơm tới nơi rồi, còn ăn đậu rang, ăn cho sạt nghiệp cả nhà!

Đứa chắt gái của cụ là con Sáu Cân, tay nắm một nắm đậu, đang từ phía trước chạy lại. Thấy thế, nó chạy thẳng ra bờ sông, nấp sau gốc ô cữu, thò cái đầu tết hai chỏm ra, nói to:

— Cái bà già không chết này!

Cụ Chín Cân tuy thọ cao, tai vẫn chưa điếc lắm, nhưng cũng không nghe thấy lời đứa bé, vẫn cứ nói một mình:

— Đúng là đời sau chẳng bằng đời trước!

Làng này có cái tục hơi đặc biệt, đàn bà sinh con, phần nhiều thích lấy cân cân xem nặng nhẹ, rồi lấy số cân làm tên tục. Cụ Chín Cân từ khi ăn mừng thọ năm mươi trở đi, dần dần thành người hay bất bình, thường bảo hồi cụ còn trẻ, trời không nóng như bây giờ, đậu cũng không cứng như bây giờ. Tóm lại thời thế bây giờ là không ra gì. Huống hồ con Sáu Cân so với cụ cố nó kém ba cân, so với bố nó là Bảy Cân lại kém một cân, đó thật là một chứng cớ không ai bác được. Cho nên cụ lại gắng sức mà nói:

— Đúng là đời sau chẳng bằng đời trước!

Con dâu cụ là chị Bảy Cân đang bưng rổ cơm tới bên bàn, bèn đập mạnh rổ cơm xuống bàn, tức tối nói:

— Bà lại nói thế rồi. Con Sáu Cân lúc đẻ ra chẳng phải sáu cân năm lạng đấy ư? Cân nhà bà lại là cân riêng, cân nặng tay, cân mười tám lạng. Mà dùng cân đúng mười sáu lạng thì con Sáu Cân nhà ta phải hơn bảy cân ấy chứ. Tôi nghĩ ngay ông cố với ông nội cũng chưa chắc đã đủ chín cân tám cân đâu, có khi cân dùng hồi ấy là cân mười bốn lạng…

— Đời sau chẳng bằng đời trước!

Chị Bảy Cân chưa kịp đáp, bỗng thấy anh Bảy Cân từ đầu ngõ hẻm rẽ ra, bèn đổi hướng, quát anh:

— Cái đồ thây ma này sao giờ mới về, chết dí ở đâu thế! Chẳng thèm biết người ta đang chờ ăn cơm!

Anh Bảy Cân tuy ở nông thôn, nhưng từ lâu đã có chí muốn làm nên. Từ đời ông nội tới anh, ba đời không cầm cán cuốc. Anh cũng theo lệ chèo đò thuê cho người ta, ngày một chuyến, sáng sớm từ Lỗ Trấn lên thành, chập tối lại về Lỗ Trấn, cho nên biết khá nhiều chuyện thời sự. Chẳng hạn chỗ nào đó, thần sấm đánh chết yêu tinh rết. Chỗ nào đó, có cô gái đẻ ra một con quỷ dạ xoa. Trong đám dân làng, anh quả đã là một nhân vật có máu mặt. Nhưng mùa hè ăn cơm không thắp đèn, vẫn còn giữ thói quen nhà nông, cho nên về muộn quá thì đáng bị mắng.

Anh Bảy Cân một tay cầm cái tẩu trúc tương phi dài hơn sáu thước, đầu tẩu bằng đồng trắng, miệng tẩu bằng ngà, cúi đầu, thong thả đi tới, ngồi xuống chiếc ghế thấp. Con Sáu Cân cũng nhân dịp lẻn ra, ngồi cạnh anh, gọi bố. Anh Bảy Cân không đáp.

— Đời sau chẳng bằng đời trước! — Cụ Chín Cân nói.

Anh Bảy Cân thong thả ngẩng đầu lên, thở dài nói:

— Hoàng đế lại lên ngai rồng rồi.

Chị Bảy Cân ngẩn ra một lúc, rồi bỗng như hiểu ra, nói:

— Thế thì hay quá, thế chẳng phải lại sắp có ơn vua đại xá đấy ư!

Anh Bảy Cân lại thở dài, nói:

— Tôi không có đuôi sam.

— Hoàng đế cần đuôi sam à?

— Hoàng đế cần đuôi sam.

— Sao anh biết?

Chị Bảy Cân hơi cuống, vội vàng hỏi.

— Người trong quán rượu Hàm Hanh đều bảo là cần.

Lúc ấy chị Bảy Cân bằng linh cảm thấy hình như có chuyện chẳng lành, vì quán rượu Hàm Hanh là chỗ tin tức nhanh nhạy. Chị đưa mắt liếc cái đầu trọc của anh Bảy Cân, bèn không nén được cơn giận, trách anh, giận anh, oán anh. Rồi bỗng lại tuyệt vọng, xới một bát cơm, dúi trước mặt anh Bảy Cân:

— Thôi mau ăn cơm đi! Mặt mày đưa đám thế, thì đuôi sam mọc ra được à?

Mặt trời đã thu hết những tia nắng cuối cùng của nó, mặt nước dần dần trở lại hơi mát. Trên bãi đất vang lên một loạt tiếng bát đũa, sống lưng ai nấy lại rịn mồ hôi. Chị Bảy Cân ăn xong ba bát cơm, tình cờ ngẩng đầu lên, tim bỗng đập thình thịch không sao nén được. Qua những tán lá ô cữu, chị thấy ông Bảy Triệu vừa lùn vừa béo đang đi qua chiếc cầu độc mộc, lại còn mặc chiếc áo dài vải trúc màu lam ngọc.

Ông Bảy Triệu là chủ quán rượu Mậu Nguyên ở làng bên, lại là nhân vật xuất sắc kiêm nhà học vấn duy nhất trong vòng ba mươi dặm quanh đây. Vì có học vấn, nên cũng có chút mùi hôi của bọn di lão triều cũ. Ông có hơn mười cuốn Tam Quốc chí có lời bình của Kim Thánh Thán, thường ngồi đọc từng chữ một. Ông không những nói được họ tên Ngũ hổ tướng, mà thậm chí còn biết Hoàng Trung tên chữ là Hán Thăng, Mã Siêu tên chữ là Mạnh Khởi. Sau cách mạng, ông cuộn đuôi sam lên đỉnh đầu, như đạo sĩ. Ông thường thở dài bảo: nếu Triệu Tử Long còn sống, thì thiên hạ đâu đến nỗi loạn tới mức này. Chị Bảy Cân mắt tinh, từ xa đã thấy hôm nay ông Bảy Triệu không còn là đạo sĩ nữa, mà đã thành da đầu nhẵn bóng, chỏm tóc đen nhánh. Chị bèn biết chắc chắn là Hoàng đế đã lên ngai rồng, mà chắc chắn phải có đuôi sam, mà anh Bảy Cân chắc chắn nguy to rồi. Vì chiếc áo dài vải trúc này của ông Bảy Triệu, chẳng mấy khi ông mặc. Ba năm nay, chỉ mặc có hai lần. Một lần là khi A Tứ rỗ, người cãi nhau với ông, bị ốm. Một lần là khi ông cả họ Lỗ, người từng đập phá quán rượu của ông, chết. Bây giờ là lần thứ ba, ắt hẳn lại là ông có chuyện mừng, kẻ thù của ông gặp tai vạ.

Chị Bảy Cân nhớ hai năm trước anh Bảy Cân say rượu, từng chửi ông Bảy Triệu là đồ hèn mạt. Cho nên lúc ấy chị lập tức linh cảm anh Bảy Cân sắp gặp nguy, tim đập thình thịch.

Ông Bảy Triệu đi tới đâu, người đang ngồi ăn cơm đều đứng dậy, cầm đũa chỉ vào bát cơm mình, nói: Mời ông Bảy xơi cơm với nhà cháu! Ông Bảy cũng vừa đi vừa gật đầu, nói mời mời, mà đi thẳng tới bàn cơm nhà anh Bảy Cân. Nhà anh Bảy Cân vội vàng chào mời, ông Bảy cũng mỉm cười nói mời mời, vừa xem xét kỹ càng cơm canh nhà họ.

— Rau khô thơm quá. Đã nghe phong thanh gì chưa?

Ông Bảy Triệu đứng sau lưng anh Bảy Cân, đối diện chị Bảy Cân mà nói.

— Hoàng đế lên ngai rồng rồi. — Anh Bảy Cân nói.

Chị Bảy Cân nhìn mặt ông Bảy, cố gượng cười nói:

— Hoàng đế đã lên ngai rồng rồi, bao giờ thì có ơn vua đại xá ạ?

— Ơn vua đại xá à? Đại xá thì rồi dần dần thế nào cũng có đại xá. — Ông Bảy nói tới đó, giọng nói nét mặt bỗng nghiêm khắc hẳn lên. — Nhưng cái đuôi sam của anh Bảy Cân nhà chị đâu, đuôi sam? Đó mới là chuyện hệ trọng. Các người biết đấy, thời quân Trường Mao, giữ tóc thì không giữ đầu, giữ đầu thì không giữ tóc…

Anh Bảy Cân với vợ không được đi học, không hiểu lắm cái điển cố sâu xa ấy. Nhưng thấy ông Bảy có học nói thế, thì chuyện tự nhiên hệ trọng vô cùng, không cứu vãn được nữa, bèn như vừa bị tuyên án tử hình, tai ù đi một tiếng, chẳng nói thêm được câu nào.

— Đời sau chẳng bằng đời trước…

Cụ Chín Cân đang bất bình, nhân dịp ấy bèn nói với ông Bảy Triệu:

— Bọn Trường Mao bây giờ chỉ biết cắt đuôi sam người ta, chẳng ra sư chẳng ra đạo. Bọn Trường Mao ngày xưa có thế đâu? Tôi sống tới bảy mươi chín tuổi rồi, sống đủ rồi. Bọn Trường Mao ngày xưa ấy à, lấy cả tấm đoạn đỏ quấn đầu, thả dài xuống, thả dài xuống, thả dài tới tận gót chân. Ông vương thì đoạn vàng, thả dài xuống, đoạn vàng. Đoạn đỏ, đoạn vàng… Tôi sống đủ rồi, bảy mươi chín tuổi rồi.

Chị Bảy Cân đứng dậy, nói một mình:

— Thế thì làm sao bây giờ? Cả một lũ già trẻ thế này, đều trông vào anh ấy nuôi…

Ông Bảy Triệu lắc đầu nói:

— Thế thì cũng đành chịu. Không có đuôi sam thì mắc tội gì, sách đều viết rõ ràng từng điều một. Chẳng cần biết nhà nó có những ai.

Nghe nói sách có viết, chị Bảy Cân mới thật hoàn toàn tuyệt vọng. Mình cuống cuồng chẳng biết làm sao, chị bỗng lại quay ra căm anh Bảy Cân. Chị lấy đũa chỉ vào chóp mũi anh mà nói:

— Cái đồ thây ma này tự làm tự chịu! Hồi làm loạn, tôi đã bảo đừng chèo đò nữa, đừng lên thành nữa. Nó cứ nhất định chết vào thành, lăn vào thành, vào thành là bị người ta cắt mất đuôi sam. Trước kia đuôi sam đen nhánh óng như lụa, bây giờ làm cho chẳng ra sư chẳng ra đạo. Cái đồ tù tội này tự làm tự chịu, còn làm liên luỵ tới chúng tôi thì nói sao đây? Cái đồ thây ma sống tù tội này…

Dân làng thấy ông Bảy Triệu tới làng, đều vội vàng ăn cơm cho xong, xúm quanh bàn cơm nhà anh Bảy Cân. Anh Bảy Cân tự biết mình là nhân vật có máu mặt, bị vợ chửi bới trước mặt mọi người như thế, chẳng nhã nhặn chút nào, bèn đành ngẩng đầu lên, thong thả nói:

— Hôm nay mày nói dễ thế, hồi ấy mày…

— Cái đồ thây ma sống tù tội này…

Trong đám người xem, chị Tám Một là người tốt bụng nhất, đang bế đứa con mồ côi cha hai tuổi, đứng cạnh chị Bảy Cân xem náo nhiệt. Lúc ấy chị thấy áy náy, vội vàng khuyên giải:

— Chị Bảy Cân, thôi đi mà. Người chứ có phải thần tiên đâu, ai biết được chuyện sau này? Ngay chị Bảy Cân hồi ấy chẳng cũng bảo không có đuôi sam cũng chẳng xấu gì đấy thôi? Huống hồ ông quan lớn trong nha môn cũng chưa có cáo thị…

Chị Bảy Cân chưa nghe hết, hai tai đã đỏ lựng. Chị bèn quay đũa lại, chỉ vào mũi chị Tám Một, nói:

— Ối giời, thế là cái lời gì thế! Chị Tám Một ơi, tôi tự thấy mình cũng còn là người, lại nói ra được cái lời hồ đồ lẩm cẩm như thế à? Hồi ấy tôi khóc ròng rã ba ngày, ai cũng thấy. Đến cả con quỷ con Sáu Cân này cũng khóc…

Con Sáu Cân vừa ăn hết một bát cơm to, cầm cái bát không, chìa tay ra đòi xới thêm. Chị Bảy Cân đang bực, bèn lấy đũa dí thẳng vào giữa hai chỏm tóc nó, quát to:

— Ai khiến mày lắm mồm! Đồ goá non theo trai!

Choang một tiếng, cái bát không trong tay con Sáu Cân rơi xuống đất, lại vừa khéo va vào một góc gạch, lập tức sứt một miếng to. Anh Bảy Cân nhảy dựng lên, nhặt cái bát vỡ, ghép lại xem xét một lượt, cũng quát:

— Mẹ kiếp!

Rồi tát cho con Sáu Cân một cái ngã lăn ra. Con Sáu Cân nằm khóc, cụ Chín Cân kéo tay nó, miệng nói luôn đời sau chẳng bằng đời trước, cùng đi mất.

Chị Tám Một cũng nổi giận, nói to:

— Chị Bảy Cân, chị giận cá chém thớt…

Ông Bảy Triệu vốn đứng cười xem. Nhưng từ khi chị Tám Một nói câu ông quan lớn trong nha môn chưa có cáo thị, thì ông đã hơi bực. Lúc ấy ông đã vòng ra khỏi bàn, nói tiếp:

— Giận cá chém thớt thì đã là gì. Đại binh sắp tới nơi rồi. Các người có biết không, lần này hộ giá là Trương đại soái, Trương đại soái chính là hậu duệ của Trương Dực Đức người đất Yên. Một ngọn xà mâu dài trượng tám của ông, có cái dũng muôn người không địch nổi, ai mà chống lại được?

Hai tay ông cùng lúc nắm lại thành nắm đấm rỗng, như đang cầm cây xà mâu vô hình, xông tới mấy bước về phía chị Tám Một:

— Mày chống lại nổi không!

Chị Tám Một đang tức tới mức bế con mà run, bỗng thấy ông Bảy Triệu mặt đầy mồ hôi dầu, trợn mắt, nhằm thẳng mình xông tới, bèn sợ quá, không dám nói hết câu, quay người đi mất. Ông Bảy Triệu cũng đi theo. Mọi người vừa trách chị Tám Một lắm chuyện, vừa dạt ra nhường đường. Mấy người đã từng cắt đuôi sam rồi lại để dài lại vội vàng nấp sau đám đông, sợ ông trông thấy. Ông Bảy Triệu cũng không xem xét kỹ, đi qua đám đông, bỗng rẽ vào sau gốc ô cữu, nói: Mày chống lại nổi không! Rồi bước lên cầu độc mộc, nghênh ngang bỏ đi.

Dân làng đứng ngẩn ra, trong lòng tính toán, ai cũng thấy mình quả thật không chống nổi Trương Dực Đức, vì thế cũng kết luận anh Bảy Cân sắp mất mạng. Anh Bảy Cân đã phạm phép vua, lại nhớ tới những lúc anh kể chuyện mới trong thành cho người ta nghe, đáng lẽ không nên ngậm cái tẩu dài mà tỏ ra kiêu ngạo như thế. Cho nên đối với chuyện anh Bảy Cân phạm pháp, họ cũng thấy hơi hả dạ. Họ cũng như muốn bàn tán dăm câu, nhưng lại thấy chẳng có gì mà bàn. Một hồi ồn ào vo ve, muỗi đều đâm sầm qua những tấm lưng trần, kéo nhau tới dưới gốc ô cữu họp chợ. Họ cũng dần dần tản đi về nhà, đóng cửa đi ngủ. Chị Bảy Cân lầu bầu, cũng dọn đồ đạc với bàn ghế về nhà, đóng cửa đi ngủ.

Anh Bảy Cân mang cái bát vỡ vào nhà, ngồi trên bậc cửa hút thuốc. Nhưng anh lo lắng quá, quên cả rít, ánh lửa trong cái đầu tẩu bằng đồng trắng của cái tẩu trúc tương phi dài hơn sáu thước, miệng bằng ngà, dần dần đen lại. Trong lòng anh chỉ thấy chuyện dường như nguy cấp lắm, cũng muốn nghĩ cách gì đó, nghĩ kế hoạch gì đó, nhưng lúc nào cũng mơ hồ vô cùng, không xâu chuỗi lại được: Đuôi sam đâu, đuôi sam? Xà mâu trượng tám. Đời sau chẳng bằng đời trước! Hoàng đế lên ngai rồng. Cái bát vỡ phải lên thành mà đóng đinh lại. Ai mà chống lại được? Sách viết từng điều một. Mẹ kiếp!

Sáng sớm hôm sau, anh Bảy Cân vẫn chèo đò từ Lỗ Trấn lên thành như cũ, chập tối về Lỗ Trấn, lại cầm cái tẩu trúc tương phi dài hơn sáu thước với một cái bát cơm về làng. Trong bữa cơm tối, anh bảo cụ Chín Cân rằng cái bát này đóng đinh liền lại ở trong thành, vì chỗ sứt to quá, nên phải mười sáu cái đinh đồng, ba đồng một cái, tổng cộng hết bốn mươi tám đồng tiền nhỏ.

Cụ Chín Cân không vui lắm, nói:

— Đời sau chẳng bằng đời trước, tôi sống đủ rồi. Ba đồng một cái đinh. Đinh ngày xưa có thế đâu? Đinh ngày xưa ấy à… Tôi sống bảy mươi chín tuổi rồi…

Từ đó về sau, anh Bảy Cân tuy vẫn theo lệ ngày nào cũng lên thành, nhưng cảnh nhà cứ có phần ảm đạm, dân làng phần nhiều tránh mặt, không tới nghe anh kể chuyện mới trong thành nữa. Chị Bảy Cân cũng chẳng nói năng tử tế, thường xuyên gọi anh là đồ tù tội.

Hơn mười ngày sau, anh Bảy Cân từ thành về, thấy vợ vui vẻ lạ thường, hỏi anh:

— Ở trong thành anh có nghe thấy gì không?

— Không nghe thấy gì cả.

— Hoàng đế lên ngai rồng chưa?

— Họ không nói.

— Trong quán rượu Hàm Hanh cũng không ai nói à?

— Cũng không ai nói.

— Em nghĩ chắc chắn Hoàng đế không lên ngai rồng nữa rồi. Hôm nay em đi ngang qua quán ông Bảy Triệu, thấy ông lại ngồi đọc sách, đuôi sam lại cuộn lên đỉnh đầu, cũng không mặc áo dài nữa.

Anh Bảy Cân không đáp.

— Anh nghĩ xem, không lên ngai rồng nữa chứ?

— Anh nghĩ là không lên nữa rồi.

Anh Bảy Cân bây giờ, lại được chị Bảy Cân với dân làng tôn trọng kha khá, đối đãi kha khá từ lâu rồi. Tới mùa hè, họ vẫn ăn cơm trên bãi đất trước cửa nhà mình. Mọi người gặp nhau, đều cười tươi chào hỏi. Cụ Chín Cân đã ăn mừng thọ tám mươi từ lâu, vẫn bất bình mà vẫn khoẻ mạnh. Hai chỏm tóc của con Sáu Cân đã thành một cái đuôi sam to. Tuy nó mới bó chân, nhưng vẫn giúp được chị Bảy Cân làm việc, bưng cái bát cơm mười tám cái đinh đồng, khập khiễng đi lại trên bãi đất.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLỗ Tấn (1881 – 1936)
Năm mất1936
Xuất bản lần đầu1920
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: 風波, Lỗ Tấn, tạp chí Tân Thanh Niên, 1920, in trong tập Gào thét
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →