Chuyện là thế này, tôi kể anh nghe, chúc anh mạnh khoẻ. Anh đừng chấp nhé, nói cho có chuyện, cũng như anh với tôi đang ngồi tán gẫu đây, ngày xưa có hai bác nông dân trong bọn chúng tôi, nghèo xác nghèo xơ, cãi nhau một trận.
Một người thì sống được chăng hay chớ, xoay xở bằng đủ trò gian dối. Anh biết đấy, bác ta giỏi lừa lọc lắm, chẳng ai qua mặt được. Còn người kia, nghe này, thì sống ngay thẳng, chỉ mong cả đời được sống bằng công sức của mình. Thế là hai người cãi nhau về chuyện ấy. Người thứ nhất bảo: sống gian thì hơn. Người thứ hai bảo: sống gian thì chẳng sống được cả đời đâu, thà sống thế nào cũng được, miễn là sống ngay. Hai người cãi mãi, cãi mãi, anh biết đấy, chẳng ai cãi thắng được ai.
Thế là, anh bạn của tôi ạ, hai người cùng ra đường. Ra đường rồi, họ giao hẹn hỏi đủ ba lần: gặp ai thì hỏi người ấy, xem người ta nói thế nào.
Đi mãi, đi mãi, anh bạn ạ, họ thấy một bác nông dân của nhà quan đang cày ruộng. Họ đến gần, rồi nói:
"Chúa phù hộ cho bác, bác ơi. Bác phân xử giúp chúng tôi một chuyện: sống trên đời này thế nào thì hơn, sống ngay hay sống gian?"
"Không đâu, các anh ạ! Sống ngay thì chẳng sống nổi cả đời đâu, sống gian thì dễ thở hơn. Như chúng tôi đây này: nhà quan cứ bắt làm xâu suốt, chẳng còn ngày nào làm cho mình. Bị ép quá thì ta giả vờ kêu ốm, rồi nhân lúc ấy đánh xe vào rừng kiếm ít củi, ngày không được thì đêm, dù có lệnh cấm đi nữa."
"Đấy, nghe chưa, tôi đúng nhé," kẻ gian bảo người ngay.
Hai người lại đi tiếp, xem người thứ hai nói gì. Đi mãi, đi mãi, họ thấy một ông lái buôn đang ngồi trên cỗ xe có mui, kéo bởi đôi ngựa. Họ đến gần, rồi hỏi:
"Ông dừng lại một lát, ông đừng chấp, chúng tôi hỏi ông một chuyện. Ông phân xử giúp chúng tôi: sống trên đời này thế nào thì hơn, sống ngay hay sống gian?"
"Không đâu, các chú ạ! Sống ngay thì khó sống lắm, sống gian thì hơn. Người ta lừa mình, thì mình cũng lừa lại người ta."
"Đấy, nghe chưa, tôi đúng nhé," kẻ gian lại bảo người ngay.
Hai người lại đi tiếp, xem người thứ ba nói gì. Đi mãi, đi mãi, họ thấy một ông cha xứ đi ngược chiều. Họ đến gần, rồi hỏi:
"Thưa cha, xin cha dừng lại một lát, phân xử giúp chúng con: sống trên đời này thế nào thì hơn, sống ngay hay sống gian?"
"Hỏi gì mà lạ thế. Ai mà chẳng biết là sống gian. Thời buổi này còn ngay thẳng gì nữa? Cứ ngay thẳng là bị đày đi Xi-bia, người ta bảo mình là đồ hay kiện cáo. Như ta đây này, nói thật chẳng giấu gì các con, trong giáo xứ của ta, chưa được một phần mười người đến xưng tội, thế mà bọn ta vẫn cứ ghi tên đủ cả, ai chẳng biết. Thế là bọn ta cũng được dễ thở hơn. Có hôm làm một buổi cầu nguyện ngắn thay cho thánh lễ cũng xong."
"Đấy, nghe chưa," kẻ gian bảo người ngay, "ai cũng bảo sống gian thì hơn."
"Không, anh nghe này! Phải sống theo đạo Chúa, theo lời Chúa dạy. Chuyện gì đến thì cứ đến, chứ tôi không muốn sống gian," người ngay bảo kẻ gian.
Hai người lại cùng nhau đi tiếp, đi mãi, đi mãi. Kẻ gian thì khéo luồn lách với ai cũng được, đến đâu cũng được người ta cho ăn, trong bị lúc nào cũng có bánh mì trắng. Còn người ngay thì chỗ này xin hớp nước, chỗ kia làm thuê một chút, người ta mới cho ăn. Kẻ gian thì cứ chế giễu bác ta mãi.
Một lần, người ngay xin kẻ gian một mẩu bánh mì:
"Anh cho tôi xin một mẩu bánh mì!"
"Thế anh trả tôi cái gì?" kẻ gian hỏi.
"Anh muốn gì thì cứ lấy, tôi có gì thì anh lấy nấy," người ngay đáp.
"Thế thì cho tôi móc một con mắt của anh!"
"Thì anh móc đi," bác ta đáp.
Thế là kẻ gian móc một con mắt của người ngay. Móc xong, hắn đưa cho bác một mẩu bánh mì nhỏ. Bác ta cắn răng chịu đựng, cầm mẩu bánh ăn hết, rồi hai người lại đi tiếp.
Đi mãi, đi mãi, người ngay lại xin kẻ gian một mẩu bánh mì. Hắn lại chế giễu bác đủ điều:
"Cho tôi móc nốt con mắt kia, rồi tôi cho một mẩu."
"Ôi, anh ơi, thương tôi với, tôi sẽ mù mất," người ngay van xin.
"Không, anh nghe này, anh là người ngay thẳng cơ mà, còn tôi thì sống gian," kẻ gian đáp.
Biết làm sao bây giờ? Thôi thì đành vậy.
"Đây, móc nốt con mắt kia đi, nếu anh không sợ tội," người ngay bảo kẻ gian.
Thế là, anh bạn của tôi ạ, hắn móc nốt con mắt thứ hai của bác. Móc xong, hắn đưa cho bác một mẩu bánh mì nhỏ, rồi bỏ mặc bác ở lại giữa đường:
"Chẳng lẽ tôi lại phải dắt anh đi à?"
Biết làm sao bây giờ. Người mù ăn hết mẩu bánh, rồi chống gậy dò dẫm đi từng bước một.
Đi mãi, đi mãi, bác lạc đường, chẳng biết phải đi lối nào nữa. Bác bắt đầu cầu Chúa:
"Lạy Chúa! Xin đừng bỏ con, kẻ tôi tớ tội lỗi của Ngài!"
Bác cầu nguyện mãi, cầu nguyện mãi, rồi nghe thấy một tiếng nói. Có ai đó bảo bác:
"Ngươi hãy rẽ sang phải. Rẽ sang phải, ngươi sẽ đến một khu rừng. Đến khu rừng, ngươi hãy dò dẫm tìm một con đường mòn. Tìm được đường mòn rồi thì đi theo nó. Đi theo đường mòn, ngươi sẽ đến một dòng suối chảy róc rách. Đến dòng suối ấy, ngươi hãy vốc nước rửa mặt, uống nước ấy, rồi thấm nước vào mắt. Thấm nước vào mắt xong, ngươi sẽ sáng mắt ra! Sáng mắt rồi, ngươi hãy đi ngược lên đầu nguồn, sẽ thấy một cây sồi lớn. Thấy cây sồi thì đến gần mà trèo lên. Trèo lên rồi thì chờ đến đêm. Đến đêm, ngươi hãy nghe xem bầy quỷ dữ nói gì dưới gốc sồi ấy. Đấy là nơi chúng bay về họp."
Bác lần mò mãi mới đến được khu rừng. Đến khu rừng rồi, bác bò lê khắp nơi, mãi mới tìm ra con đường mòn. Bác đi theo con đường mòn, đến được dòng suối chảy róc rách. Đến dòng suối, bác vốc nước rửa mặt. Rửa mặt xong, bác uống nước, rồi thấm nước vào mắt. Vừa thấm nước vào mắt, bỗng bác lại thấy được ánh sáng của Chúa, bác đã sáng mắt rồi!
Sáng mắt rồi, bác đi ngược lên đầu nguồn. Đi mãi, đi mãi, bác thấy một cây sồi lớn. Đất dưới gốc cây bị giẫm nện bằng phẳng. Bác trèo lên cây sồi. Trèo lên rồi, bác chờ đến đêm.
Rồi bầy quỷ từ khắp bốn phương bắt đầu bay về gốc sồi ấy. Bay về đông đủ rồi, chúng bắt đầu kể cho nhau nghe ai đã đi những đâu. Có một con quỷ nói:
"Tao thì ở chỗ nàng công chúa kia. Tao hành hạ nàng đã mười năm nay. Người ta tìm đủ cách đuổi tao ra khỏi người nàng, mà chẳng ai đuổi được. Chỉ có kẻ nào lấy được bức thánh tượng Đức Mẹ thành Xmô-len-xcơ, gắn trong khám thờ trên cổng nhà ông lái buôn giàu có kia, thì mới đuổi được tao."
Sáng hôm sau, khi bầy quỷ đã bay đi hết, người ngay mới trèo xuống khỏi cây sồi. Trèo xuống rồi, bác đi tìm ông lái buôn ấy. Bác tìm mãi, tìm mãi, mãi mới thấy. Tìm thấy rồi, bác xin vào làm thuê cho ông ta.
"Tôi xin làm cho ông một năm, chẳng cần gì cả, chỉ xin ông cho tôi bức thánh tượng Đức Mẹ trên cổng."
Ông lái buôn bằng lòng, nhận bác vào làm thuê. Bác làm cho ông ta hết sức mình suốt một năm tròn. Làm đủ một năm, bác xin bức thánh tượng. Ông lái buôn bảo:
"Này anh, tôi rất hài lòng với công việc của anh, nhưng tôi tiếc bức thánh tượng lắm. Anh lấy tiền thì hơn."
"Không, tôi chẳng cần tiền, ông cứ cho tôi bức tượng như đã giao hẹn."
"Không, tôi không cho bức tượng đâu. Anh làm thêm một năm nữa, thôi thì lúc ấy tôi sẽ cho anh."
Thế là bác nông dân ngay thẳng làm thêm một năm nữa. Bác chẳng biết ngày, chẳng biết đêm, cứ làm quần quật, chăm chỉ đến thế cơ đấy.
Làm đủ năm thứ hai, bác lại xin bức thánh tượng Đức Mẹ trên cổng. Ông lái buôn lại tiếc, vừa tiếc phải để bác đi, vừa tiếc bức tượng.
"Không, tôi thưởng cho anh tiền bạc thì hơn. Còn nếu anh muốn thì làm thêm một năm nữa, rồi tôi cho anh bức tượng."
Thôi thì đành vậy, bác lại làm thêm một năm. Lần này bác làm còn hăng hơn trước, ai thấy cũng phải lạ, chăm chỉ đến thế là cùng! Làm đủ năm thứ ba, bác lại xin bức thánh tượng. Ông lái buôn chẳng còn cách nào khác, bèn tháo bức thánh tượng khỏi cổng, đưa cho bác.
"Đây, cầm lấy bức tượng mà đi, Chúa phù hộ cho anh."
Ông cho bác ăn uống no nê, lại thưởng cho bác một ít tiền.
Bác nhận bức thánh tượng Đức Mẹ thành Xmô-len-xcơ, đeo lên người, rồi lên đường đến chỗ nhà vua để chữa bệnh cho nàng công chúa đang bị con quỷ hành hạ. Đi mãi, đi mãi, bác đến chỗ nhà vua. Đến nơi, bác tâu:
"Tôi có thể chữa khỏi bệnh cho công chúa của bệ hạ."
Thế là người ta cho bác vào cung, đưa bác đến chỗ nàng công chúa đang đau khổ. Thấy công chúa rồi, bác xin một bát nước. Người ta mang nước đến. Bác làm dấu thánh, quỳ xuống lạy sát đất ba lần, cầu nguyện với Chúa. Cầu nguyện xong, bác tháo bức thánh tượng Đức Mẹ ra, vừa đọc kinh vừa nhúng bức tượng vào nước ba lần, rồi đeo bức tượng lên cổ công chúa, bảo nàng lấy nước ấy mà rửa mặt.
Thế là, nàng vừa đeo bức tượng, vừa rửa mặt bằng nước ấy, thì bỗng con quỷ hành hạ nàng bay vụt ra khỏi người nàng thành một đám khói. Nó bay ra rồi, nàng lại khoẻ mạnh như xưa.
Cả cung điện mừng rỡ không sao kể xiết, chẳng biết lấy gì mà thưởng cho bác nông dân. Nào là cho đất, nào là hứa ban cả thái ấp, nào là trả lương bổng thật hậu.
"Không, tôi chẳng cần gì cả!"
Bấy giờ công chúa mới thưa với vua:
"Con sẽ lấy người này làm chồng."
"Được," nhà vua nói.
Thế là hai người làm lễ cưới. Cưới xong, bác nông dân của chúng ta mặc quần áo của nhà vua, sống trong cung điện của nhà vua, ăn chung mâm với họ. Sống mãi rồi cũng quen. Khi đã quen rồi, bác nói:
"Cho tôi về quê một chuyến. Tôi còn có mẹ, một bà cụ nghèo khổ."
"Được," công chúa, tức là vợ bác, nói. "Ta cùng đi."
Thế là hai vợ chồng cùng đi. Ngựa, quần áo, xe, yên cương, thứ gì cũng là của nhà vua cả. Đi mãi, đi mãi, họ về gần đến quê bác. Về gần đến quê thì gặp ngay kẻ gian, cái người ngày trước cãi với bác rằng sống gian thì hơn sống ngay. Hắn đang đi ngược chiều. Người ngay, giờ đã là con rể nhà vua, bèn gọi:
"Chào anh!"
Bác gọi đúng cả tên hắn. Hắn lấy làm lạ, sao một ông lớn sang trọng ngồi trên xe như thế mà lại biết mình. Hắn chẳng nhận ra bác.
"Anh còn nhớ không, anh đã cãi với tôi rằng sống gian thì hơn sống ngay, rồi anh móc mắt tôi? Chính là tôi đây!"
Kẻ gian sợ cuống, chẳng biết làm sao.
"Không, anh đừng sợ, tôi chẳng giận gì anh đâu, tôi còn mong anh cũng được hạnh phúc như tôi. Anh hãy vào khu rừng kia," rồi bác dạy hắn y như Chúa đã dạy bác. "Trong khu rừng ấy, anh sẽ thấy một con đường mòn. Anh đi theo con đường mòn ấy, sẽ đến một dòng suối chảy róc rách. Anh uống nước suối ấy, rồi rửa mặt. Rửa mặt xong, anh đi ngược lên đầu nguồn. Ở đấy anh sẽ thấy một cây sồi lớn. Anh trèo lên mà ngồi suốt đêm. Dưới gốc cây ấy là nơi bầy quỷ dữ họp nhau. Anh cứ nghe, rồi sẽ nghe ra vận may của mình."
Kẻ gian làm đúng như lời bác dặn, không sai một li. Hắn tìm được khu rừng và con đường mòn. Đi theo đường mòn, hắn đến dòng suối chảy róc rách. Hắn uống nước, rửa mặt. Rửa mặt xong, hắn đi ngược lên đầu nguồn. Hắn thấy một cây sồi lớn, đất dưới gốc bị giẫm nện bằng phẳng. Hắn trèo lên cây sồi, rồi chờ đến đêm. Đến đêm, hắn nghe thấy bầy quỷ từ khắp bốn phương bay về chỗ họp. Bay về đông đủ rồi, chúng đánh hơi thấy hắn đang ở trên cây. Đánh hơi thấy rồi, chúng xé hắn ra từng mảnh nhỏ.
Thế là chuyện kết thúc như vậy đấy: người ngay thì thành con rể nhà vua, còn kẻ gian thì bị bầy quỷ cắn xé.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích