Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Toà nhà bên đầm nước đen

Sự sụp đổ của nhà A-sơ · Chương 1/2 · của Edgar Allan Poe

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 22.540 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trái tim chàng là cây đàn treo lơ lửng,…
  2. 2:59Dù hồi bé chúng tôi từng thân nhau, thật…
  3. 6:58Căn phòng tôi bước vào rất rộng và rất…
  4. 10:46Tôi thấy anh hoàn toàn làm nô lệ cho…
  5. 12:29Trong khi anh nói, tiểu thư Mát-đơ-lin, tên cô…
  6. 15:22Có một trong những hình dung kỳ ảo của…
  7. 17:32Cánh cổng lâu đài đẹp đẽ Rực rỡ ngọc…
  8. 19:39Sách vở của chúng tôi, những cuốn sách suốt…

Chương 1: Toà nhà bên đầm nước đen

Trái tim chàng là cây đàn treo lơ lửng, hễ ai chạm vào là ngân lên.

Suốt một ngày thu ảm đạm, tối tăm và lặng ngắt, khi mây trĩu nặng sà thấp trên bầu trời, tôi một mình cưỡi ngựa băng qua một vùng quê hoang vắng lạ lùng. Và khi bóng chiều buông xuống, tôi đã ở trong tầm nhìn của toà nhà u sầu của dòng họ A-sơ. Tôi không biết vì sao, nhưng vừa thoáng thấy toà nhà, một nỗi u ám không sao chịu nổi đã tràn ngập tâm hồn tôi. Tôi nói không sao chịu nổi, vì cảm giác ấy không hề được xoa dịu bởi chút cảm xúc nửa thích thú, nửa thơ mộng, mà lòng người thường vẫn có ngay cả trước những cảnh thiên nhiên hoang vu hay khủng khiếp nhất.

Tôi nhìn cảnh vật trước mặt. Chỉ là một ngôi nhà, những nét giản dị của khu đất quanh đó, những bức tường lạnh lẽo, những ô cửa sổ trống rỗng như những con mắt, mấy bụi cói um tùm, mấy thân cây chết trắng bệch. Tôi nhìn tất cả với một nỗi chán chường tột độ trong tâm hồn, mà tôi không biết so sánh với cảm giác nào trên đời cho đúng hơn là cảm giác của kẻ nghiện thuốc phiện vừa tỉnh cơn mơ, khi rơi tõm trở lại cuộc sống thường ngày cay đắng, khi tấm màn mộng ảo rơi xuống một cách ghê tởm. Trái tim tôi giá buốt, chùng xuống, nôn nao. Đầu óc tôi chìm trong một nỗi ảm đạm không gì cứu vãn, mà dù có thúc ép trí tưởng tượng đến đâu cũng chẳng biến nó thành cái gì cao cả được.

Điều gì vậy, tôi dừng lại tự hỏi, điều gì đã làm tôi rã rời đến thế khi ngắm nhìn toà nhà A-sơ? Đó là một bí ẩn không sao giải nổi. Tôi cũng không đối phó được với những ý nghĩ mơ hồ cứ dồn dập kéo đến trong khi tôi suy ngẫm. Tôi đành phải chấp nhận một kết luận chẳng mấy thoả đáng: hẳn là có những sự kết hợp của các vật hết sức bình thường trong tự nhiên có sức tác động đến ta như vậy, nhưng phân tích sức mạnh ấy thì vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta. Tôi nghĩ, có lẽ chỉ cần sắp xếp lại các chi tiết trong khung cảnh, các nét trong bức tranh, một cách khác đi, là đủ làm thay đổi, hay có khi xoá hẳn sức gợi buồn của nó. Theo ý nghĩ ấy, tôi giục ngựa tới sát mép dốc của một cái đầm nước đen ngòm, lờ mờ ánh sáng, nằm phẳng lặng bên toà nhà. Tôi nhìn xuống những hình ảnh in ngược trong nước của đám cói xám, của những thân cây ghê rợn và những ô cửa sổ trống rỗng như mắt người. Nhưng tôi lại rùng mình, còn ớn lạnh hơn lúc trước.

Dẫu vậy, tôi đã định ở lại toà nhà u ám này vài tuần. Chủ nhân của nó, Rô-đơ-rích A-sơ, là một trong những người bạn chơi thân của tôi thời niên thiếu, nhưng đã nhiều năm trôi qua kể từ lần cuối chúng tôi gặp nhau. Ấy vậy mà mới đây, ở một vùng xa xôi của đất nước, tôi nhận được một lá thư của anh. Lá thư khẩn khoản một cách điên cuồng, khiến tôi chẳng còn cách nào khác hơn là phải đích thân đến trả lời. Nét chữ cho thấy người viết đang bị kích động thần kinh. Anh kể về một chứng bệnh thể xác nặng nề, về một cơn rối loạn tinh thần đang đè nặng lên anh, và về ước muốn tha thiết được gặp tôi, người bạn tốt nhất, thật ra là người bạn thân duy nhất của anh, mong rằng sự có mặt vui vẻ của tôi sẽ phần nào làm dịu bệnh tình. Chính cách anh nói những điều ấy, và nhiều điều khác nữa, chính tấm lòng hiện rõ trong lời khẩn cầu, đã không cho tôi chút đắn đo nào. Thế là tôi lập tức đáp lại lời mời mà đến giờ tôi vẫn cho là hết sức kỳ lạ.

Dù hồi bé chúng tôi từng thân nhau, thật ra tôi biết rất ít về bạn mình. Anh vốn kín đáo quá mức, và lúc nào cũng thế. Tuy vậy, tôi biết rằng dòng họ rất lâu đời của anh từ xưa đã nổi tiếng về một tính khí nhạy cảm khác thường. Tính khí ấy suốt bao đời đã thể hiện ra trong nhiều tác phẩm nghệ thuật cao quý, và gần đây là trong những việc từ thiện hào phóng mà kín đáo, cũng như trong một niềm say mê với những gì rắc rối, phức tạp của âm nhạc, có lẽ còn hơn cả những vẻ đẹp chính thống, dễ nhận ra. Tôi cũng được biết một điều rất đáng chú ý: cái thân cây dòng họ A-sơ, dù lâu đời và đáng kính đến đâu, chưa bao giờ đâm ra được một nhánh phụ nào bền vững. Nói cách khác, cả dòng họ chỉ truyền thẳng một mạch từ cha sang con, và xưa nay vẫn thế, chỉ trừ vài trường hợp rất nhỏ, rất ngắn ngủi.

Khi ngẫm nghĩ về sự tương hợp hoàn toàn giữa tính cách của ngôi nhà với tính cách vốn được biết của những con người sống trong đó, và tự hỏi qua bao thế kỷ, cái này có thể đã ảnh hưởng đến cái kia ra sao, tôi cho rằng chính sự thiếu vắng các nhánh phụ ấy, cùng với việc gia sản và dòng họ cứ thế truyền nguyên vẹn từ cha sang con, đã khiến hai thứ cuối cùng hoà làm một. Đến nỗi cái tên gốc của điền trang đã bị lẫn vào trong cái tên gọi cổ quái và nước đôi là nhà A-sơ. Trong đầu những người nông dân quen gọi như thế, cái tên ấy dường như vừa chỉ dòng họ, vừa chỉ toà nhà của dòng họ.

Tôi đã nói rằng thí nghiệm có phần trẻ con của tôi, tức là nhìn xuống đầm nước, chỉ có mỗi tác dụng làm cho ấn tượng kỳ lạ ban đầu sâu đậm thêm. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc tôi ý thức được nỗi mê tín của mình, mà sao lại không gọi nó như thế được, đang tăng lên nhanh chóng, lại càng khiến nó tăng nhanh hơn. Tôi biết từ lâu, đó là quy luật nghịch lý của mọi cảm xúc lấy nỗi sợ làm nền. Có lẽ chỉ vì thế mà khi tôi rời mắt khỏi bóng toà nhà dưới nước, ngẩng lên nhìn chính toà nhà, trong đầu tôi nảy ra một ý nghĩ lạ lùng. Một ý nghĩ thật lố bịch, tôi kể ra đây chỉ để cho thấy sức mạnh của những cảm giác đang đè nặng lên tôi. Tôi đã để trí tưởng tượng chi phối đến mức thật sự tin rằng quanh toàn bộ toà nhà và khu đất có một bầu không khí riêng, chỉ có ở chúng và vùng sát quanh chúng. Một bầu không khí chẳng dính dáng gì tới khí trời, mà bốc lên từ những thân cây mục, bức tường xám và đầm nước lặng câm. Một thứ hơi độc hại và huyền bí, đục mờ, ì ạch, khó nhận ra, màu xám chì.

Rũ khỏi tâm trí điều chắc hẳn chỉ là một giấc mơ, tôi xem xét kỹ hơn diện mạo thật của toà nhà. Đặc điểm chính của nó hình như là vẻ cổ xưa quá đỗi. Màu sắc đã phai bạc nhiều qua năm tháng. Những cây nấm li ti phủ kín khắp mặt ngoài, rủ xuống từ mái hiên như một tấm mạng rối nhằng mịn màng. Thế nhưng toà nhà không hề đổ nát bất thường. Không mảng tường nào bị sập. Có một sự trái ngược kỳ quặc giữa các bộ phận vẫn khớp với nhau hoàn hảo và tình trạng mục rữa của từng viên đá riêng lẻ. Điều đó làm tôi nhớ tới những món đồ gỗ cũ trông vẫn nguyên vẹn bề ngoài, nhưng đã mục suốt bao năm trong một căn hầm bỏ quên nào đó, không hề bị luồng gió bên ngoài lọt tới. Ngoài dấu hiệu mục nát lan khắp ấy, toà nhà ít có vẻ gì là sắp đổ. Có lẽ chỉ con mắt của một người quan sát thật tỉ mỉ mới phát hiện ra một vết nứt khó thấy, chạy từ mái nhà phía trước xuống tường theo hình chữ chi, cho đến khi mất hút trong làn nước âm u của đầm.

Ghi nhận những điều ấy xong, tôi cưỡi ngựa qua một con đường đắp ngắn để tới ngôi nhà. Một người hầu đứng chờ sẵn dắt ngựa đi, còn tôi bước vào gian sảnh qua một vòm cửa kiểu Gô-tích. Từ đó, một người hầu phòng có bước chân rón rén lặng lẽ dẫn tôi qua nhiều hành lang tối tăm, chằng chịt, tới phòng làm việc của chủ nhân. Nhiều thứ tôi gặp trên đường, chẳng hiểu sao, càng làm tăng những cảm giác mơ hồ mà tôi vừa kể. Những đồ vật quanh tôi, những hình chạm trên trần, những tấm thảm treo tường tối sẫm, sàn nhà đen như gỗ mun, những bộ khí giới huy hiệu kỳ ảo kêu lách cách mỗi khi tôi bước qua, đều là những thứ mà tôi đã quen thuộc từ thuở nhỏ, hay quen với những thứ tương tự. Tôi không ngần ngại thừa nhận rằng tất cả đều quen thuộc, vậy mà vẫn ngạc nhiên thấy những ý nghĩ do những hình ảnh bình thường ấy khơi lên lại xa lạ đến thế. Trên một cầu thang, tôi gặp vị bác sĩ của gia đình. Tôi thấy nét mặt ông ta pha trộn vẻ ranh mãnh tầm thường và vẻ bối rối. Ông ta chào tôi, giọng run run, rồi đi tiếp. Lúc ấy người hầu phòng mở toang một cánh cửa và đưa tôi vào gặp chủ nhân.

Căn phòng tôi bước vào rất rộng và rất cao. Cửa sổ dài, hẹp, đỉnh nhọn, ở cao tít so với sàn gỗ sồi đen đến mức đứng bên trong không thể nào với tới. Những tia sáng đỏ yếu ớt lọt qua các ô kính có song mắt cáo, đủ làm rõ những đồ vật nổi bật xung quanh. Nhưng mắt tôi cố mấy cũng không nhìn tới được những góc xa của căn phòng, hay những hốc sâu trên trần vòm chạm trổ. Trên tường treo những tấm màn tối màu. Đồ đạc nói chung thì nhiều, khó ngồi, cổ lỗ và sờn rách. Sách vở và nhạc cụ nằm rải rác khắp nơi, nhưng chẳng đem lại chút sinh khí nào cho khung cảnh. Tôi cảm thấy mình đang hít thở một bầu không khí sầu muộn. Một vẻ u uất nghiêm khắc, sâu thẳm, không gì cứu vãn trùm lên và thấm vào mọi thứ.

Khi tôi bước vào, A-sơ đứng dậy khỏi chiếc tràng kỷ anh đang nằm duỗi dài, và chào tôi với một sự nồng nhiệt sôi nổi. Thoạt tiên tôi nghĩ sự nồng nhiệt ấy có phần thái quá, như cái cố gắng gượng gạo của một người lịch lãm đã chán chường mọi sự. Nhưng chỉ cần liếc nhìn gương mặt anh, tôi tin ngay là anh hoàn toàn thành thật. Chúng tôi ngồi xuống. Trong mấy phút anh không nói gì, và tôi nhìn anh với một cảm giác nửa thương hại, nửa kinh sợ. Chắc chắn chưa có ai lại thay đổi khủng khiếp đến thế trong một thời gian ngắn như Rô-đơ-rích A-sơ! Tôi phải khó khăn lắm mới chịu tin được rằng con người xanh xao trước mặt mình chính là người bạn thuở ấu thơ.

Dù vậy, khuôn mặt anh lúc nào cũng khác thường. Nước da tái nhợt như xác chết. Đôi mắt to, long lanh, sáng không gì sánh nổi. Đôi môi hơi mỏng, rất nhợt nhạt, nhưng có một đường cong đẹp tuyệt vời. Chiếc mũi thanh tú, cánh mũi lại rộng hơn thường thấy ở những chiếc mũi như thế. Chiếc cằm thanh, không nhô ra, như nói lên sự thiếu nghị lực. Mái tóc mềm và mảnh còn hơn tơ nhện. Những nét ấy, cùng với vầng trán nở rộng quá mức phía trên thái dương, hợp thành một gương mặt không dễ gì quên được. Còn bây giờ, chỉ riêng việc những nét chính ấy và vẻ mặt chúng thường biểu lộ bị cường điệu lên, cũng đã đủ tạo ra sự thay đổi lớn đến nỗi tôi không chắc mình đang nói chuyện với ai. Nước da giờ đây trắng bệch đến ghê người, đôi mắt giờ đây sáng long lanh đến lạ lùng, những thứ ấy hơn hết thảy làm tôi giật mình, thậm chí kinh sợ. Mái tóc mượt như tơ cũng bị bỏ mặc cho mọc dài, và vì nó cứ bồng bềnh quanh mặt như tơ nhện bay chứ không rủ xuống, tôi dù cố mấy cũng không thể liên hệ cái vẻ kỳ quái ấy với bất cứ ý niệm nào về một con người bình thường.

Trong cử chỉ của bạn tôi, tôi lập tức nhận thấy một sự rời rạc, không nhất quán. Tôi sớm hiểu ra rằng đó là do một loạt những cố gắng yếu ớt và vô ích nhằm chế ngự một chứng run rẩy đã thành thói quen, một sự kích động thần kinh quá mức. Thật ra tôi đã chuẩn bị tinh thần cho một điều như thế, qua lá thư của anh, qua những ký ức về vài nét tính cách hồi nhỏ, và qua những gì suy ra được từ thể trạng và tính khí đặc biệt của anh. Cử chỉ của anh lúc thì sôi nổi, lúc lại ủ rũ. Giọng anh thay đổi rất nhanh, từ chỗ run rẩy ngập ngừng, khi sinh lực dường như hoàn toàn tắt lịm, sang một kiểu nói gọn gàng mạnh mẽ, đột ngột, nặng nề, thong thả và vang rỗng, một giọng trầm đục nặng như chì, cân bằng và nhịp nhàng hoàn hảo, như ta vẫn thấy ở kẻ nghiện rượu hết thuốc chữa hay kẻ nghiện thuốc phiện vô phương cứu vãn, trong những lúc bị kích động mạnh nhất.

Chính bằng giọng ấy, anh nói về mục đích chuyến thăm của tôi, về nỗi khao khát được gặp tôi, và về niềm an ủi mà anh mong tôi đem lại. Anh nói khá dài về điều mà anh cho là bản chất căn bệnh của mình. Anh bảo đó là một chứng bệnh bẩm sinh, di truyền trong gia đình, và anh đã tuyệt vọng không mong tìm được thuốc chữa. Rồi anh vội nói thêm rằng đó chỉ là chứng bệnh thần kinh, chắc chắn sẽ sớm qua thôi. Nó biểu hiện ra bằng vô số cảm giác trái tự nhiên. Một vài cảm giác anh kể làm tôi vừa chú ý vừa bối rối, dù có lẽ cách dùng từ và lối kể chuyện của anh cũng góp phần không nhỏ. Anh khổ sở vì các giác quan nhạy bén đến mức bệnh hoạn. Anh chỉ chịu được những thức ăn nhạt nhẽo nhất. Anh chỉ mặc được quần áo may bằng vài loại vải nhất định. Hương hoa nào cũng làm anh ngột ngạt. Chỉ một tia sáng yếu cũng làm mắt anh đau nhức. Và chỉ có vài âm thanh đặc biệt, từ những nhạc cụ dây, là không làm anh khiếp sợ.

Tôi thấy anh hoàn toàn làm nô lệ cho một nỗi sợ hãi bất thường.

– Tôi sẽ chết, – anh nói, – tôi phải chết trong cơn điên đáng thương này. Đúng như thế, chính như thế chứ không khác, tôi sẽ tiêu vong. Tôi sợ những gì sẽ xảy đến trong tương lai, không phải vì bản thân chúng, mà vì hậu quả của chúng. Tôi rùng mình khi nghĩ tới bất cứ chuyện gì, dù là chuyện nhỏ nhặt nhất, có thể tác động lên tâm hồn đang bị giày vò không chịu nổi này. Thật ra tôi chẳng ghê sợ nguy hiểm, trừ cái kết quả tuyệt đối của nó, là nỗi khiếp sợ. Trong tình trạng rã rời, đáng thương này, tôi cảm thấy sớm hay muộn sẽ đến lúc tôi phải buông bỏ cả sự sống lẫn lý trí, trong cuộc vật lộn nào đó với bóng ma ghê rợn là Nỗi Sợ.

Thêm nữa, qua những lời bóng gió đứt quãng và mập mờ, thỉnh thoảng tôi lại biết thêm một nét kỳ lạ khác trong tình trạng tinh thần của anh. Anh bị trói buộc bởi những ấn tượng mê tín về chính toà nhà anh đang ở, nơi đã nhiều năm nay anh không dám bước chân ra ngoài. Anh tin vào một ảnh hưởng mà anh nói bằng những lời quá mơ hồ để có thể nhắc lại ở đây. Theo lời anh, đó là ảnh hưởng mà vài nét đặc biệt trong hình dáng và chất liệu của toà nhà dòng họ, qua bao năm chịu đựng, đã tác động lên tâm hồn anh. Hình hài của những bức tường xám, những ngọn tháp, và cái đầm nước mờ đục mà chúng soi bóng xuống, cuối cùng đã tác động đến tinh thần của cả cuộc đời anh.

Tuy vậy, anh cũng thừa nhận, dù ngập ngừng, rằng phần lớn nỗi u uất kỳ lạ đang dày vò anh có thể có một nguồn gốc tự nhiên hơn và rõ ràng hơn nhiều. Đó là bệnh tình nặng nề và kéo dài, thật ra là cái chết rõ ràng đang tới gần, của người em gái anh yêu thương dịu dàng. Cô là người bạn đồng hành duy nhất của anh suốt bao năm, người thân cuối cùng và duy nhất của anh trên đời.

– Nếu nó chết, – anh nói với một nỗi cay đắng mà tôi không bao giờ quên được, – thì tôi, một kẻ yếu ớt vô vọng, sẽ là người cuối cùng của dòng họ A-sơ lâu đời.

Trong khi anh nói, tiểu thư Mát-đơ-lin, tên cô là vậy, chậm rãi đi qua một góc xa của căn phòng, và biến mất mà không hề để ý thấy có tôi. Tôi nhìn cô, vô cùng sửng sốt, xen lẫn sợ hãi, vậy mà không sao giải thích được vì sao mình lại có những cảm giác ấy. Một cảm giác đờ đẫn đè nặng lên tôi trong khi mắt tôi dõi theo những bước chân đang xa dần của cô. Khi một cánh cửa cuối cùng khép lại sau lưng cô, tôi bất giác vội đưa mắt tìm gương mặt người anh. Nhưng anh đã vùi mặt vào hai bàn tay, và tôi chỉ thấy những ngón tay gầy guộc kia còn trắng bệch hơn thường lệ rất nhiều, nước mắt nóng hổi đang chảy ròng ròng qua kẽ tay.

Bệnh của tiểu thư Mát-đơ-lin từ lâu đã làm các thầy thuốc bó tay. Một sự thờ ơ thường trực, thân thể héo hon dần, và những cơn co cứng thường xuyên, dù ngắn, khiến cô bất động như người chết, đó là những triệu chứng khác thường của cô. Cho tới lúc ấy, cô vẫn kiên cường chống chọi với sức ép của căn bệnh, chưa chịu nằm liệt giường. Nhưng tối hôm tôi tới, như người anh kể lại với tôi lúc đêm khuya trong một nỗi xúc động không tả nổi, cô đã gục ngã trước sức mạnh tàn phá của bệnh tật. Tôi hiểu rằng cái nhìn thoáng qua vừa rồi có lẽ là lần cuối tôi được thấy cô, rằng chí ít là khi cô còn sống, tôi sẽ không được gặp cô nữa.

Trong mấy ngày sau đó, cả A-sơ lẫn tôi đều không nhắc tới tên cô, và trong thời gian ấy tôi hết lòng cố làm vơi nỗi u sầu của bạn. Chúng tôi cùng vẽ, cùng đọc sách. Hoặc tôi ngồi nghe, như trong mơ, những bản nhạc ứng tác cuồng nhiệt trên cây đàn ghi-ta biết nói của anh. Và cứ thế, sự thân mật mỗi lúc một gần gũi hơn cho phép tôi đi sâu hơn vào những ngóc ngách tâm hồn anh, thì tôi lại càng cay đắng nhận ra mọi cố gắng làm vui một tâm hồn như thế đều vô ích. Bóng tối từ tâm hồn ấy như một phẩm chất bẩm sinh cứ tuôn ra, toả lên mọi vật trong thế giới tinh thần lẫn vật chất một làn u ám không bao giờ dứt.

Tôi sẽ mãi mang theo ký ức về những giờ phút trang nghiêm tôi đã trải qua một mình với chủ nhân nhà A-sơ như thế. Thế nhưng tôi không sao diễn tả được chính xác những việc anh nghiên cứu, những công việc anh lôi kéo tôi vào hay dẫn đường cho tôi. Một trí tưởng tượng bị kích động và bệnh hoạn đã phủ lên mọi thứ một thứ ánh sáng như lửa diêm sinh. Những khúc nhạc tang ứng tác dài dằng dặc của anh sẽ còn vang mãi bên tai tôi. Tôi nhớ day dứt nhất là một lối biến tấu và kéo dài kỳ quặc giai điệu hoang dại của bản van-xơ cuối cùng của Vê-bơ.

Còn những bức tranh mà trí tưởng tượng cầu kỳ của anh ấp ủ, từng nét một trở thành những hình ảnh mơ hồ khiến tôi rùng mình càng dữ, vì tôi rùng mình mà không hiểu vì sao, thì dù hình ảnh của chúng đến giờ vẫn còn rõ mồn một trước mắt, tôi có cố mấy cũng chỉ diễn tả lại được một phần nhỏ bằng chữ viết. Bằng sự giản dị tuyệt đối, sự trần trụi trong cách vẽ, anh thu hút và chế ngự sự chú ý của người xem. Nếu có kẻ phàm trần nào vẽ ra được một ý tưởng, thì kẻ đó chính là Rô-đơ-rích A-sơ. Ít ra là với tôi, trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, những hình ảnh trừu tượng thuần tuý mà con người bệnh hoạn kia bày lên vải vẽ khơi dậy một nỗi kinh sợ mãnh liệt không chịu nổi, mà tôi chưa từng cảm thấy dù chỉ một chút khi ngắm những bức tranh mộng ảo rực rỡ nhưng quá cụ thể của Phu-dê-li.

Có một trong những hình dung kỳ ảo của bạn tôi không quá trừu tượng, nên có thể tả lại được, dù chỉ phảng phất, bằng lời. Đó là một bức tranh nhỏ vẽ bên trong một cái hầm, hay một đường hầm, dài vô tận, hình chữ nhật, tường thấp, nhẵn, trắng toát, không một chỗ gián đoạn hay một hình trang trí nào. Vài chi tiết phụ trong tranh khéo gợi cho người xem thấy rằng đường hầm này nằm ở rất sâu dưới mặt đất. Suốt chiều dài mênh mông của nó không thấy một lối ra nào, cũng không thấy ngọn đuốc hay bất cứ nguồn sáng nhân tạo nào. Vậy mà một luồng ánh sáng chói chang vẫn tràn khắp, tắm toàn cảnh trong một vẻ huy hoàng ghê rợn và lạc lõng.

Tôi vừa nói về tình trạng bệnh hoạn của thính giác khiến người bệnh không chịu nổi bất cứ thứ âm nhạc nào, trừ vài âm thanh của nhạc cụ dây. Có lẽ chính cái giới hạn chật hẹp mà anh tự đặt cho mình với cây đàn ghi-ta đã phần lớn sinh ra tính chất kỳ ảo trong lối chơi đàn của anh. Nhưng không thể giải thích như thế sự dễ dàng nồng nhiệt trong những bản ngẫu hứng của anh. Những nốt nhạc, cũng như những lời ca trong các khúc phóng túng ấy, vì anh thường tự đệm đàn và ứng khẩu hát những câu có vần, hẳn phải là, và quả thật là, kết quả của sự tập trung tinh thần cao độ mà tôi đã nói, chỉ thấy được vào những lúc bị kích động mạnh nhất. Tôi nhớ dễ dàng lời một khúc hát như thế. Có lẽ tôi bị nó gây ấn tượng mạnh hơn khi nghe anh hát, vì trong dòng ý nghĩa ngầm và huyền bí của nó, tôi tưởng như lần đầu tiên nhận ra rằng chính A-sơ cũng ý thức trọn vẹn được lý trí cao quý của mình đang lung lay trên ngai vàng. Bài thơ ấy tên là Lâu đài ma ám, lời gần như, nếu không phải là đúng hệt, như sau:

Trong thung lũng xanh tươi nhất của ta,
Nơi những thiên thần hiền lành cư ngụ,
Xưa có một lâu đài đẹp đẽ, uy nghi,
Lâu đài rực rỡ, ngẩng cao đầu.
Trong vương quốc của nhà vua Tư Tưởng,
Lâu đài đứng đó!
Chưa từng có thiên thần nào dang cánh
Trên một toà nhà đẹp được nửa như thế.

Những ngọn cờ vàng óng, huy hoàng,
Bay phấp phới trên mái ngói.
Tất cả những điều ấy là chuyện ngày xưa,
Một thời xa lắm rồi.
Và mỗi làn gió nhẹ đùa vờn
Trong những ngày êm ái ấy,
Dọc theo những bức tường thành trắng muốt,
Lại mang đi một làn hương có cánh.

Những lữ khách qua thung lũng hạnh phúc
Nhìn qua hai ô cửa sáng ngời,
Thấy những linh hồn nhịp nhàng chuyển động
Theo tiếng đàn luýt du dương,
Quanh một ngai vàng, nơi ngự toạ
Vị vua sinh ra trong nhung lụa,
Uy nghi xứng với vinh quang của mình,
Đấng cai trị cả vương quốc.

Cánh cổng lâu đài đẹp đẽ
Rực rỡ ngọc trai và hồng ngọc,
Qua đó tuôn chảy, tuôn chảy mãi,
Lấp lánh không ngừng,
Một đoàn Tiếng Vọng chỉ có một bổn phận ngọt ngào
Là cất tiếng hát,
Bằng những giọng tuyệt vời,
Ca ngợi trí tuệ và sự khôn ngoan của vua mình.

Nhưng những thứ tà ác khoác áo sầu bi
Đã tấn công ngôi báu cao sang của nhà vua.
Ôi, hãy khóc thương, vì sẽ chẳng bao giờ
Còn bình minh nào ló rạng trên người cô độc ấy!
Và quanh nơi ngài ở, vinh quang
Từng ửng hồng và nở hoa
Giờ chỉ là một câu chuyện nhớ mang máng
Về thời xưa đã bị chôn vùi.

Và giờ đây lữ khách đi qua thung lũng ấy
Nhìn qua những ô cửa đỏ lừ,
Thấy những hình thù khổng lồ chuyển động kỳ dị
Theo một khúc nhạc chói tai.
Trong khi như một dòng sông ghê rợn chảy xiết
Qua cánh cổng nhợt nhạt,
Một đám đông gớm guốc mãi mãi ùa ra,
Và cười vang, nhưng không bao giờ mỉm cười nữa.

Tôi còn nhớ rõ những ý tưởng gợi lên từ khúc hát ấy đã đưa chúng tôi vào một chuỗi suy nghĩ, trong đó lộ ra một quan điểm của A-sơ. Tôi nhắc đến nó không phải vì nó mới lạ, vì đã có những người khác từng nghĩ như vậy, mà vì anh khăng khăng giữ nó. Nói chung, quan điểm ấy cho rằng mọi loài cây cỏ đều có cảm giác. Nhưng trong trí tưởng tượng rối loạn của anh, ý tưởng ấy đã trở nên táo bạo hơn, và trong những điều kiện nào đó, lấn sang cả thế giới của vật vô tri. Tôi không đủ lời để diễn tả hết mức độ, hay sự say mê buông thả của anh trong niềm tin ấy. Tuy vậy, như tôi đã ngụ ý, niềm tin ấy gắn liền với những phiến đá xám của ngôi nhà tổ tiên anh. Anh tưởng tượng rằng những điều kiện để có cảm giác đã được đáp ứng ở đây, trong cách những phiến đá này được xếp đặt, trong trật tự của chúng, cũng như trong trật tự của những cây nấm phủ lên chúng và những thân cây mục đứng quanh đó, và trên hết, trong việc sự sắp đặt ấy đã tồn tại lâu đời không hề bị xáo trộn, và được nhân đôi trong làn nước tĩnh lặng của đầm.

Anh bảo, và tôi giật mình khi nghe anh nói thế, bằng chứng của cảm giác ấy có thể thấy được ở chỗ có một bầu không khí riêng của chúng đang từ từ mà chắc chắn đặc lại quanh mặt nước và những bức tường. Anh nói thêm, hậu quả của nó có thể nhận ra trong cái ảnh hưởng thầm lặng nhưng dai dẳng và khủng khiếp, đã nhào nặn số phận gia đình anh suốt bao thế kỷ, và đã biến anh thành con người như tôi đang thấy, như anh đang là. Những quan điểm như vậy chẳng cần bình luận, và tôi sẽ không bình luận gì.

Sách vở của chúng tôi, những cuốn sách suốt bao năm đã chiếm một phần không nhỏ trong đời sống tinh thần của người bệnh, đúng như người ta có thể đoán, hoàn toàn hợp với tính chất mộng ảo ấy. Chúng tôi cùng nghiền ngẫm những tác phẩm như Thiên đường và Địa ngục của Xvê-đen-boóc, Cuộc du hành dưới lòng đất của Ni-cô-la Klim, sách xem chỉ tay của nhiều tác giả xưa, Hành trình vào cõi xa xanh của Tích, và Thành phố Mặt Trời của Cam-pa-nê-la. Một cuốn anh rất ưa là cuốn sách nhỏ về phép xét xử của toà án dị giáo thời trung cổ. Và có những đoạn viết về các loài thần rừng mình người chân dê ở châu Phi thời xưa mà A-sơ có thể ngồi mơ màng hàng giờ. Nhưng niềm vui lớn nhất của anh là đọc một cuốn sách cực hiếm và kỳ lạ, in khổ lớn bằng chữ Gô-tích, cuốn kinh cầu của một giáo đoàn đã bị lãng quên, mang tên Canh thức cho người chết theo nghi lễ nhà thờ Mai-xơ.

— Hết chương 1 —

Mục lục Sự sụp đổ của nhà A-sơ

  1. 1Toà nhà bên đầm nước đen20 phút
  2. 2Đêm giông bãoĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảEdgar Allan Poe (1809 – 1849)
Năm mất1849
Xuất bản lần đầu1839
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Fall of the House of Usher, Edgar Allan Poe, 1839; bản in trong The Works of Edgar Allan Poe, tập 2 (Project Gutenberg số 2148)
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →