Đầu tháng Tám, trời thường nóng không sao chịu nổi. Mùa ấy, từ mười hai giờ trưa đến ba giờ chiều, người đi săn quyết tâm và hăng hái nhất cũng chẳng săn nổi, còn con chó tận tụy nhất cũng bắt đầu "đánh bóng gót giày cho chủ", nghĩa là lẽo đẽo theo sát gót, mắt nheo nheo khổ sở, lưỡi thè ra dài quá cỡ. Bị chủ trách, nó cúi đầu vẫy đuôi, mặt mũi bối rối, nhưng nhất định không chạy lên phía trước.
Tôi tình cờ đi săn đúng vào một ngày như thế. Đã lâu tôi cố cưỡng lại ý muốn nằm xuống một chỗ râm mát nào đó, dù chỉ một lát. Con chó không biết mỏi của tôi vẫn chạy lùng sục trong bụi rậm hồi lâu, tuy rõ ràng chính nó cũng chẳng mong gì nhiều ở cái hăng hái như lên cơn sốt của mình. Cái nóng ngột ngạt cuối cùng buộc tôi phải nghĩ đến chuyện giữ gìn sức lực. Tôi lần được tới con sông nhỏ I-xta mà bạn đọc rộng lượng đã biết, xuống bờ dốc, rồi men theo bãi cát vàng ẩm ướt đi về phía con suối mà cả vùng quanh đấy gọi là Suối Mâm Xôi. Con suối ấy vọt ra từ một khe nứt trên bờ, dần dần mở rộng thành một cái lạch nhỏ nhưng sâu, rồi hai chục bước xa hơn thì đổ vào sông, róc rách vui tai. Quanh mạch nước, cỏ mọc thấp và mượt như nhung, xanh rờn. Ánh nắng hầu như chẳng bao giờ chạm tới làn nước lạnh, ánh bạc của nó.
Tôi đến bên suối. Trên cỏ có một cái gáo gỗ bạch dương, ai đó đi qua để lại cho mọi người dùng chung. Tôi uống cho đã khát, nằm xuống chỗ bóng râm, rồi nhìn quanh. Trong cái hõm do dòng nước đổ ra sông khoét thành, mãi mãi in dấu những gợn sóng, có hai ông già đang ngồi quay lưng về phía tôi. Một ông khá to cao, mặc áo choàng màu xanh thẫm gọn gàng, đội mũ có lót, đang câu cá. Ông kia gầy và nhỏ, mặc áo vải thô vá víu, đầu để trần. Ông đặt trên đầu gối một cái hũ nhỏ đầy giun, thỉnh thoảng lại đưa tay lên cái đầu nhỏ tóc lốm đốm bạc, như muốn che nắng cho nó. Tôi nhìn kỹ hơn và nhận ra ông là Xtê-pu-sca ở làng Su-mi-khi-nô. Xin phép bạn đọc cho tôi giới thiệu con người này.
Cách nhà tôi vài dặm có một làng lớn tên là Su-mi-khi-nô, với ngôi nhà thờ bằng đá dựng lên để thờ thánh Cô-xma và thánh Đa-mi-an. Trước mặt nhà thờ ngày xưa từng có một tòa trang viên lớn, bề thế, xung quanh là đủ thứ nhà phụ: nhà làm việc, xưởng thợ, chuồng ngựa, nhà xe, nhà tắm, bếp tạm, dãy nhà cho khách và cho quản lý, nhà kính trồng hoa, đu quay cho dân làng chơi, và nhiều công trình khác ít nhiều hữu ích. Trong tòa trang viên ấy có một gia đình địa chủ giàu có sinh sống, mọi sự đều êm đẹp, cho tới một buổi sáng nọ, bỗng dưng tất cả cơ ngơi phồn thịnh ấy cháy rụi thành tro. Chủ nhân dọn đi nơi khác. Chốn này bỏ hoang. Nền đất cháy đen của tòa nhà mênh mông biến thành vườn rau, chỗ này chỗ kia ngổn ngang những đống gạch, tàn tích của móng nhà cũ. Người ta vội vàng ghép một túp nhà nhỏ từ những cây xà còn sót lại sau đám cháy, lợp bằng gỗ mua từ mười năm trước để dựng một cái đình nghỉ mát kiểu Gô-tích, rồi cho bác làm vườn Mi-tơ-rô-phan cùng vợ là Ác-xi-nhi-a và bảy đứa con đến ở. Mi-tơ-rô-phan nhận lệnh gửi rau xanh và hoa trái trong vườn lên bàn ăn của chủ, cách đó một trăm năm mươi dặm. Ác-xi-nhi-a được giao trông một con bò giống Ti-rôn, mua ở Mát-xcơ-va với giá đắt, nhưng từ ngày mua về chưa cho được một giọt sữa nào. Chị còn được giao giữ một con vịt đực có mào lông màu khói, con chim "của chủ" duy nhất còn lại. Còn lũ trẻ, vì còn bé bỏng nên không được giao việc gì riêng, điều đó tuy vậy cũng chẳng ngăn chúng lớn lên lười chảy thây.
Đã hai lần tôi tình cờ ngủ lại nhà bác làm vườn này, và mỗi lần đi ngang qua tôi thường mua dưa chuột của bác. Chẳng hiểu vì sao, ngay giữa mùa hè, dưa chuột ở đấy vẫn to khác thường, nhạt toẹt, nhiều nước, vỏ vàng và dày. Chính ở đấy tôi gặp Xtê-pu-sca lần đầu. Ngoài Mi-tơ-rô-phan và gia đình, cùng với ông giữ nhà thờ già điếc tên Ghê-ra-xim được người ta thương tình cho ở một gian buồng nhỏ nhà bà góa một người lính chột, thì ở Su-mi-khi-nô không còn sót lại một người gia nô nào. Bởi Xtê-pu-sca, người mà tôi định giới thiệu với bạn đọc, không thể xếp vào hạng gia nô, mà cũng khó lòng xếp vào loài người.
Người nào cũng có một chỗ đứng nào đó trong xã hội, ít ra cũng có vài mối dây liên hệ. Người gia nô nào cũng được nhận, nếu không phải tiền công, thì ít ra cũng là cái gọi là "khẩu phần". Xtê-pu-sca thì tuyệt nhiên không có kế sinh nhai nào, không họ hàng với ai, chẳng ai biết đến sự có mặt của ông. Con người ấy thậm chí không có cả quá khứ. Chẳng ai kể chuyện gì về ông. Có lẽ ông chưa bao giờ có tên trong sổ kiểm tra nhân khẩu. Có những lời đồn mơ hồ rằng ông từng làm hầu phòng cho ai đó. Nhưng ông là ai, từ đâu đến, cha là ai, làm sao lại thành người của Su-mi-khi-nô, kiếm đâu ra cái áo vải thô ông mặc từ thuở nào chẳng ai nhớ, ông sống ở đâu, sống bằng gì, về tất cả những câu hỏi ấy không ai có lấy một chút ý niệm. Mà nói cho thật, cũng chẳng ai quan tâm. Ông nội Tơ-rô-phi-mứt, người thuộc gia phả của mọi gia nô theo dòng trực hệ đến đời thứ tư, đã có lần nói rằng ông nhớ Xtê-pu-sca có họ với một người đàn bà Thổ Nhĩ Kỳ, mà ông chủ cũ, quan lữ đoàn trưởng A-lếch-xây Rô-ma-nứt, đã chở về trong toa hành lý sau một chiến dịch.
Ngay cả những ngày lễ, những ngày phát tiền, ăn bánh hấp kiều mạch và uống rượu vốt-ca theo lối Nga xưa, ngay cả những ngày ấy Xtê-pu-sca cũng không ló mặt đến bên những bàn kê ngoài sân hay bên những thùng rượu. Ông không cúi chào, không hôn tay chủ, không nốc cạn mừng sức khỏe chủ, ngay trước mắt chủ, một ly rượu do bàn tay béo núc của lão quản lý rót cho. Họa chăng có người tốt bụng nào đi ngang chia cho kẻ ăn mày khốn khổ một mẩu bánh ăn dở. Lễ Phục Sinh, người ta có nói với ông câu "Chúa đã sống lại!", nhưng ông không vén ống tay áo bóng mỡ lên, không lôi từ đáy túi ra một quả trứng tô màu để thở hổn hển, mắt chớp chớp, dâng lên các cô cậu chủ hay chính bà chủ. Mùa hè ông ở trong một cái lán nhỏ sau chuồng gà, mùa đông ở gian ngoài nhà tắm. Những đêm rét buốt, ông ngủ trên gác cỏ khô. Đám gia nô đã quen trông thấy ông. Đôi khi có người đá cho ông một cái, nhưng chẳng ai nói với ông một lời. Còn ông, hình như từ thuở lọt lòng chưa từng mở miệng.
Sau đám cháy, cái sinh vật bị bỏ rơi ấy tìm chốn nương thân ở nhà bác làm vườn Mi-tơ-rô-phan. Bác làm vườn để mặc ông. Bác không bảo "Ở với tôi", nhưng cũng không đuổi đi. Mà Xtê-pu-sca cũng không ở nhà bác làm vườn. Chỗ ở của ông là khu vườn. Ông đi lại không một tiếng động. Ông hắt hơi, ho đều đưa tay che miệng, không khỏi có phần sợ sệt. Lúc nào ông cũng bận rộn, lén lút đi đi lại lại như con kiến. Mà tất cả chỉ để kiếm cái ăn, đơn giản là cái để bỏ vào miệng. Thật vậy, nếu không vất vả từ sáng đến tối để kiếm sống thì người bạn đáng thương của chúng ta hẳn đã chết đói. Buồn thay cái số buổi sáng không biết đến tối sẽ tìm được gì mà ăn!
Có khi Xtê-pu-sca ngồi dưới bờ rào gặm một củ cải, mút một củ cà rốt, hay xé vụn mấy cái lõi bắp cải bẩn thỉu. Có khi ông xách một thùng nước đi đâu đó, vừa đi vừa rên. Có khi ông nhóm lửa dưới một cái nồi nhỏ, rồi bỏ vào đó mấy mẩu đen đen lấy từ trong ngực áo ra. Có khi ông gõ gõ đục đục trong cái ổ gỗ nhỏ của mình, đóng một cái đinh, đóng một cái giá để bánh mì. Mà làm gì ông cũng lặng lẽ, như thể làm vụng trộm. Bạn chưa kịp quay lại nhìn thì ông đã lẩn đi rồi. Có khi ông bỗng biến mất vài hôm, nhưng dĩ nhiên chẳng ai để ý ông vắng mặt. Rồi bỗng đâu ông lại ở đấy, dưới một bờ rào nào đó, lén lút nhóm một đống lửa cành khô dưới cái ấm. Ông có khuôn mặt nhỏ, đôi mắt vàng vàng, tóc rủ xuống tận lông mày, cái mũi nhọn, đôi tai to mỏng gần như trong suốt như tai dơi, và bộ râu trông như mọc đã hai tuần, chẳng bao giờ dài thêm mà cũng chẳng ngắn đi. Đó là Xtê-pu-sca, người tôi gặp trên bờ sông I-xta cùng với một ông già khác.
Tôi lại gần, chào ông, rồi ngồi xuống bên cạnh. Người bạn của Xtê-pu-sca tôi cũng nhận ra là người quen. Đó là một gia nô được bá tước Pi-ốt-tơ I-lích cho tự do, tên là Mi-khai-lô Xa-vê-li-ích, biệt danh Tu-man, nghĩa là Sương Mù. Ông ở nhờ nhà một người ho lao quê Bôn-khốp, chủ một quán trọ mà tôi đã mấy lần ghé nghỉ. Những viên chức trẻ và những kẻ nhàn rỗi khác đi trên đường cái lớn Ô-ri-ôn, còn lái buôn thì vùi mình trong những tấm chăn kẻ sọc nên có việc khác để làm, vẫn còn có thể thấy, không xa làng lớn Trô-i-xcai-a là mấy, gần như sát đường cái, một tòa nhà gỗ hai tầng đồ sộ, bỏ hoang hoàn toàn, mái sập, cửa sổ bịt kín. Giữa trưa nắng đẹp, chẳng có gì buồn hơn đống hoang tàn ấy. Nơi đây xưa kia bá tước Pi-ốt-tơ I-lích từng sống, một vị đại quý tộc giàu có thời trước, nổi tiếng hiếu khách. Có thời cả tỉnh kéo đến nhà ông, nhảy múa vui chơi thỏa thích trong tiếng nhạc inh tai của dàn nhạc gia nô tự rèn lấy, giữa tiếng pháo hoa nổ đì đùng. Hẳn chẳng phải chỉ một bà lão thở dài khi đi xe qua tòa lâu đài bỏ hoang của vị quý tộc, nhớ lại ngày xưa và tuổi xuân đã mất. Bá tước còn mở dạ hội lâu lắm, còn đi lại tươi cười nhã nhặn giữa đám khách khứa xu nịnh. Nhưng chẳng may, gia sản của ông không đủ dùng cho hết đời. Khi đã khánh kiệt hoàn toàn, ông lên Pê-téc-bua xin một chức vụ, rồi chết trong một căn phòng khách sạn, chẳng được gì sau bao cố gắng. Tu-man từng làm quản gia cho ông và đã được trả tự do ngay khi bá tước còn sống. Ông chừng bảy mươi tuổi, mặt mũi cân đối, dễ coi. Ông gần như lúc nào cũng mỉm cười, cái cười mà chỉ người thời nữ hoàng Ca-tê-ri-na mới có, vừa đường bệ vừa bao dung. Khi nói, ông chậm rãi mở môi khép môi, nheo mắt hiền hậu, giọng hơi ngân trong mũi. Ông hỉ mũi và hít thuốc lá bột cũng thong thả, như đang làm một việc hệ trọng.
- Thế nào, ông Mi-khai-lô Xa-vê-li-ích, - tôi bắt chuyện, - câu được cá chưa?
- Đây, xin ông hạ cố nhìn vào giỏ. Tôi câu được hai con cá rô và năm con cá đầu bạc. Đưa ông xem đi, Xtê-pca.
Xtê-pu-sca chìa cái giỏ ra cho tôi.
- Ông khỏe không, Xtê-pca? - tôi hỏi.
- Ơ... ơ... cũng... cũng... cũng chẳng đến nỗi, thưa ông, - Xtê-pu-sca đáp, lắp bắp như có vật gì nặng đè trên lưỡi.
- Thế bác Mi-tơ-rô-phan có khỏe không?
- Khỏe... vâng, vâng... thưa ông.
Người đàn ông tội nghiệp quay mặt đi.
- Mà cá không cắn mấy, - Tu-man nhận xét. - Trời nóng ghê quá. Cá mệt lả cả dưới gốc bụi rồi, chúng nó ngủ cả. Mắc giun vào đi, Xtê-pca.
Xtê-pu-sca lấy ra một con giun, đặt lên lòng bàn tay, đập hai ba cái, mắc vào lưỡi câu, nhổ nước bọt vào, rồi đưa cho Tu-man.
- Cảm ơn Xtê-pca. Còn ông, thưa ông, - ông quay sang tôi, - ông đi săn đấy ạ?
- Như ông thấy đấy.
- À, thế con chó của ông giống Anh hay giống Đức ạ?
Ông già thích khoe khoang khi có dịp, như muốn bảo: "Tôi đây cũng từng sống ở đời chứ bộ!"
- Tôi không biết nó giống gì, nhưng là chó tốt.
- À! Thế ông có đi săn với chó săn đàn không ạ?
- Có, tôi có hai cặp chó săn đàn.
Tu-man mỉm cười, lắc đầu.
- Chính thế đấy. Người thì mê chó, người lại chẳng cần chó để làm gì. Theo cái hiểu biết đơn sơ của tôi, chó nuôi là để cho có thể diện. Mà cái gì cũng phải ra phong cách. Ngựa cũng phải ra phong cách, người đi săn cũng phải ra phong cách, ra cho đúng phép, mọi thứ đều thế. Ông bá tước quá cố, cầu Chúa ban ơn cho ngài, phải thú thật là chưa bao giờ ham săn lắm, nhưng ngài vẫn nuôi chó, và mỗi năm hai lần ngài hạ cố đi săn. Bọn đi săn tề tựu ngoài sân, mặc áo cáp-tan đỏ viền kim tuyến, thổi tù và. Ngài bá tước hạ cố bước ra, người ta dắt ngựa của ngài đến. Ngài lên ngựa, còn người trưởng toán đi săn thì đặt chân ngài vào bàn đạp, bỏ mũ ra, đặt dây cương vào trong mũ để dâng lên ngài. Ngài hạ cố quất roi đánh chát một cái thế này, bọn đi săn reo hò, thế là cả đoàn ra khỏi cổng. Một người đi săn cưỡi ngựa sau bá tước, dắt bằng dây lụa hai con chó cưng của chủ, ông cứ tưởng tượng xem anh ta trông nom chúng cẩn thận đến đâu. Mà anh ta cũng ngồi cao chót vót trên cái yên kiểu Cô-dắc. Má đỏ au, mắt cứ đảo thế này này. Dĩ nhiên những dịp ấy cũng có khách khứa, tiệc tùng, nghi lễ đủ cả. À, nó chuồn mất rồi, cái thằng châu Á này!
Ông bỗng tự ngắt lời, kéo dây câu lên.
- Nghe nói thời ấy bá tước sống phóng túng lắm phải không? - tôi hỏi.
Ông già nhổ nước bọt vào con giun rồi lại thả dây câu xuống.
- Ngài là bậc đại quý tộc, ai chả biết. Có những lúc, có thể nói, các bậc hàng đầu ở Pê-téc-bua cũng đến thăm ngài. Ngực đeo băng đủ màu, các vị ngồi vào bàn mà ăn. Mà ngài biết cách thết đãi họ lắm. Thỉnh thoảng ngài gọi tôi: "Tu-man này, mai ta cần mấy con cá tầm còn sống, liệu mà có, nghe chưa?" "Vâng, bẩm ngài." Áo thêu, tóc giả, gậy chống, nước hoa, nước thơm Cô-lô-nhơ loại hảo hạng, hộp thuốc lá, những bức tranh to tướng, ngài đặt mua tất tận Pa-ri cơ đấy! Mỗi khi ngài mở tiệc, lạy Chúa lòng lành, Chúa tể của đời tôi! Nào pháo hoa, nào xe ngựa nối nhau kéo đến! Có lúc còn bắn cả đại bác. Chỉ riêng dàn nhạc đã có bốn mươi người. Ngài nuôi một ông người Đức làm nhạc trưởng, nhưng ông Đức ấy làm bộ làm tịch ghê lắm, đòi ăn cùng bàn với chủ, thế là ngài ra lệnh tống cổ đi! Ngài bảo: "Nhạc công của ta không có nhạc trưởng cũng làm tốt việc của chúng." Dĩ nhiên ngài là chủ mà. Rồi người ta nhảy múa, nhảy đến sáng, nhất là điệu ê-cốt. A... a... mắc rồi đây!
Ông già kéo từ dưới nước lên một con cá rô nhỏ.
- Này, cầm lấy, Xtê-pca! Ông chủ thật đúng là một ông chủ, - ông già vừa thả dây câu xuống lại vừa nói tiếp, - mà lòng ngài cũng tốt nữa. Có khi ngài cho mình một cái tát, nhưng mình chưa kịp quay đi thì ngài đã quên rồi. Chỉ có mỗi một điều: ngài nuôi nhân tình. Ôi chao, mấy cô nhân tình ấy! Cầu Chúa tha thứ cho họ! Chính họ đã làm ngài khánh kiệt. Mà ông biết đấy, ngài toàn chọn họ từ chỗ thấp hèn. Ông tưởng họ chẳng cần gì nhiều phải không? Đâu có, cái gì cũng phải đắt nhất châu Âu cơ! Người ta bảo: "Sao ngài lại không được sống theo ý mình, đó là việc của chủ." Nhưng đâu cần phải đến nỗi tán gia bại sản. Đặc biệt có một cô, tên là A-cu-li-na. Giờ cô ấy chết rồi, cầu Chúa cho linh hồn cô ấy được yên nghỉ! Con gái lão gác điếm ở Xi-tô-va, mà ghê gớm lắm! Có khi cô ấy tát vào mặt bá tước. Cô ấy bỏ bùa mê ngài hoàn toàn. Thằng cháu tôi bị cô ấy tống đi lính chỉ vì nó làm đổ sô-cô-la lên cái áo mới của cô ấy. Mà đâu phải chỉ mình nó bị như thế. Ôi chao, dù sao thì thời ấy cũng là thời đẹp!
Ông già thở dài một hơi thật sâu. Đầu ông gục xuống, và ông im lặng.
- Vậy là ông chủ của ông nghiêm khắc lắm nhỉ? - tôi lên tiếng sau một lúc im lặng.
- Thời ấy nó là thế, thưa ông, - ông lắc đầu đáp.
- Bây giờ thì không còn thế nữa nhỉ? - tôi nói, mắt không rời ông.
Ông liếc xéo tôi một cái.
- Bây giờ, hẳn là tốt hơn, - ông lẩm bẩm, rồi thả dây câu ra xa hơn.
Chúng tôi ngồi trong bóng râm, nhưng ngay trong bóng râm cũng ngột ngạt. Không khí oi nồng, uể oải và nặng trĩu. Người ta khó chịu ngẩng khuôn mặt nóng rực lên, tìm một hơi gió, nhưng chẳng có gió. Mặt trời từ bầu trời xanh sẫm lại rọi thẳng xuống. Ngay trước mặt chúng tôi, bên kia bờ, là một ruộng yến mạch vàng, lác đác ngải cứu mọc xen. Không một bông yến mạch nào lay động. Phía dưới một chút, con ngựa của một nông dân đứng dưới sông, nước ngập tới đầu gối, chậm rãi phẩy cái đuôi ướt. Thỉnh thoảng, dưới một bụi cây rủ xuống mặt nước, một con cá lớn vọt lên, đẩy bọt nổi lên mặt nước, rồi nhẹ nhàng chìm xuống đáy, để lại một gợn sóng lăn tăn. Châu chấu kêu ri ri trong đám cỏ cháy nắng. Tiếng chim cút kêu uể oải, miễn cưỡng. Những con diều hâu êm ả lượn trên đồng cỏ, nhiều lúc dừng lại một chỗ, đôi cánh rung rung thật nhanh, cái đuôi xòe ra như nan quạt. Chúng tôi ngồi bất động, mệt lả vì nóng.
Bỗng có tiếng động sau lưng chúng tôi, trong lạch nước. Có người xuống suối. Tôi quay lại, thấy một người nông dân chừng năm mươi tuổi, bụi bám đầy người, mặc áo sơ mi dài, đi giày vỏ cây, trên vai đeo một cái sọt đan và một tấm áo choàng. Ông xuống suối, uống nước ừng ực như người khát lắm, rồi đứng dậy.
- A, Vla-xơ! - Tu-man nhìn chằm chằm vào ông, kêu lên. - Chào ông bạn! Chúa đưa ông từ đâu đến thế?
- Chào ông Mi-khai-lô Xa-vê-li-ích! - người nông dân vừa nói vừa lại gần chúng tôi. - Từ xa lắm.
- Ông đi đâu về thế? - Tu-man hỏi.
- Tôi lên Mát-xcơ-va, gặp ông chủ.
- Để làm gì?
- Tôi lên xin ông chủ một ơn.
- Ơn gì?
- Thì xin giảm tô cho tôi, hay cho tôi đi làm xâu thay tô, hay cho tôi đổi sang mảnh đất khác, đại loại thế. Con trai tôi chết rồi, giờ một mình tôi không kham nổi.
- Con trai ông chết rồi à?
- Chết rồi. Con trai tôi, - người nông dân nói thêm, sau một lúc ngừng, - lên Mát-xcơ-va đánh xe ngựa thuê. Thú thật, nó nộp tô thay cho tôi.
- Thế giờ nhà ông đóng tô à?
- Vâng, chúng tôi đóng tô.
- Ông chủ bảo sao?
- Ông chủ bảo sao à! Ông ấy đuổi tôi ra! Ông ấy bảo: "Sao mày dám đến thẳng chỗ tao? Việc ấy đã có quản lý. Mày phải đến xin quản lý trước đã. Mà tao lấy đâu ra đất khác cho mày? Mày cứ mang tiền nợ đến nộp đã." Ông ấy giận lắm.
- Thế rồi sao, ông về à?
- Tôi về. Tôi muốn dò xem con tôi có để lại của cải gì không, nhưng chẳng ai nói cho ra nhẽ. Tôi bảo với chủ nó: "Tôi là bố thằng Phi-líp." Ông ta bảo: "Tôi biết gì chuyện đó? Mà con ông chẳng để lại gì cả, nó còn nợ tôi nữa kia." Thế là tôi về.
Người nông dân kể tất cả những chuyện ấy với một nụ cười, như đang nói chuyện của ai khác. Nhưng nước mắt cứ trào lên đôi mắt nhỏ nheo nheo của ông, và đôi môi ông run run.
- Thế giờ ông về nhà à?
- Còn đi đâu được nữa? Dĩ nhiên là về nhà. Chắc vợ tôi giờ đói lả rồi.
- Ông nên... thì... - Xtê-pu-sca bỗng nói.
Ông lúng túng, im bặt, rồi cúi xuống lục lọi trong hũ giun.
- Thế ông có đến gặp quản lý không? - Tu-man nói tiếp, hơi ngạc nhiên nhìn Xtê-pca.
- Tôi đến gặp ông ta làm gì? Tôi đã nợ đọng sẵn rồi. Con tôi ốm cả năm trước khi chết, đến tô của chính nó nó còn chẳng nộp nổi. Nhưng chẳng sao, họ chẳng lấy được gì của tôi đâu. Phải, ông bạn ơi, có khôn ranh đến mấy cũng vậy thôi, tôi sạch trơn rồi!
Người nông dân bật cười.
- Ông Quin-ti-li-an Xê-mê-nứt có giỏi đến đâu thì...
Vla-xơ lại cười.
- Chà! Gay go quá, anh Vla-xơ ạ, - Tu-man thong thả thốt lên.
- Gay go à! Đâu có!
Giọng Vla-xơ nghẹn lại.
- Trời nóng quá! - ông nói tiếp, đưa ống tay áo lau mặt.
- Chủ của ông là ai? - tôi hỏi.
- Bá tước Va-lê-ri-an Pê-tơ-rô-vích.
- Con trai ông Pi-ốt-tơ I-lích à?
- Con trai ông Pi-ốt-tơ I-lích, - Tu-man đáp. - Ông Pi-ốt-tơ I-lích đã cho cậu ấy cái làng của Vla-xơ từ khi ông còn sống.
- Ông ấy có khỏe không?
- Khỏe, nhờ ơn Chúa! - Vla-xơ đáp. - Ông ấy đỏ au lên, mặt cứ như được độn bông.
- Ông thấy đấy, thưa ông, - Tu-man quay sang tôi nói tiếp, - ở gần Mát-xcơ-va thì đã đành, chứ đóng tô ở đây thì lại là chuyện khác.
- Thế tính hết thì tô của ông bao nhiêu?
- Chín mươi lăm rúp, - Vla-xơ lẩm bẩm.
- Ông thấy chưa. Mà đất thì có tí ti. Có gì đâu ngoài rừng của chủ.
- Mà rừng ấy, nghe nói, cũng bán mất rồi, - người nông dân nói.
- Ông thấy chưa. Xtê-pca, đưa tôi con giun. Kìa, Xtê-pca, ông ngủ rồi à?
Xtê-pu-sca giật mình. Người nông dân ngồi xuống bên chúng tôi. Chúng tôi lại chìm vào im lặng. Bên kia sông có ai đang hát một bài, mà buồn biết mấy. Anh Vla-xơ tội nghiệp của chúng tôi buồn rũ rượi.
Nửa giờ sau, chúng tôi chia tay nhau.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn