Ở một thành phố lớn, những điều bí ẩn nối tiếp nhau sát tới mức công chúng đọc báo và bạn bè của Giô-ni Ben-chêm-bơ đã thôi không còn ngạc nhiên về vụ anh mất tích đột ngột, không lời giải thích, gần một năm trước. Giờ đây điều bí ẩn đặc biệt này đã được làm sáng tỏ. Nhưng lời giải lạ lùng, khó tin tới mức với người bình thường, chỉ một số ít người từng gần gũi Ben-chêm-bơ mới tin trọn vẹn.
Ai cũng biết Giô-ni Ben-chêm-bơ thuộc vòng trong cùng của giới thượng lưu. Không hề phô trương như những kẻ ăn chơi tìm cách thu hút sự chú ý bằng lối khoe khoang tiền bạc lập dị, anh vẫn thông thạo mọi thứ làm nên ánh hào quang xứng đáng cho địa vị cao sang của anh trong xã hội.
Anh đặc biệt nổi bật trong chuyện ăn mặc. Ở khoản này anh là nỗi tuyệt vọng của những kẻ bắt chước. Lúc nào cũng chuẩn mực, chải chuốt tinh tế, với một tủ quần áo vô tận, anh được công nhận là người ăn mặc đẹp nhất New York, mà như thế tức là đẹp nhất nước Mỹ. Chẳng ông thợ may nào trong thành phố không coi là một ân huệ quý giá nếu được phép may đồ cho Ben-chêm-bơ mà không lấy một xu. Anh mà mặc vào thì đó là thứ quảng cáo vô giá. Quần là niềm đam mê đặc biệt của anh. Ở khoản này, anh chỉ chấp nhận sự hoàn hảo. Bắt anh bỏ qua một nếp nhăn thì cũng như bắt anh mặc một miếng vá. Trong căn hộ, anh thuê một người chỉ chuyên lo là ủi cả kho quần dồi dào của anh. Bạn bè anh bảo mỗi chiếc quần anh mặc tối đa ba tiếng là phải thay.
Ben-chêm-bơ biến mất rất đột ngột. Ba ngày đầu, việc anh vắng mặt chẳng làm bạn bè lo lắng gì. Rồi họ bắt đầu dùng những cách dò hỏi thông thường. Tất cả đều thất bại. Anh không để lại một dấu vết nào. Rồi người ta đi tìm động cơ, nhưng chẳng thấy gì. Anh không có kẻ thù, không nợ nần, không dính dáng tới đàn bà. Tài khoản ngân hàng của anh còn mấy nghìn đô-la. Anh chưa từng tỏ ra có chút lập dị nào trong đầu óc. Thật ra anh là người có tính khí đặc biệt điềm tĩnh, cân bằng. Người ta dùng mọi cách để lần theo dấu người mất tích, nhưng vô ích. Đó là một trong những trường hợp, mấy năm gần đây ngày càng nhiều, mà con người dường như tắt phụt đi như ngọn nến, chẳng để lại lấy một làn khói làm chứng.
Tháng Năm, Tôm Ê-ơ và Lan-xơ-lốt Ghi-li-am, hai người bạn cũ của Ben-chêm-bơ, đi một chuyến ngắn sang châu Âu. Trong lúc la cà ở Ý và Thuỵ Sĩ, một hôm họ tình cờ nghe nói về một tu viện trên dãy An-pơ ở Thuỵ Sĩ hứa hẹn những thứ khác hẳn những trò hấp dẫn thông thường dụ khách du lịch. Tu viện gần như nằm ngoài tầm với của dân ngắm cảnh bình thường, vì nó ở trên một nhánh núi cực kỳ hiểm trở, dốc đứng. Những thứ hấp dẫn nó có mà không quảng cáo là: thứ nhất, một loại rượu mùi tuyệt hảo, độc nhất vô nhị do các thầy tu làm, nghe nói còn hơn xa những loại rượu mùi trứ danh của các tu viện khác. Thứ hai, một quả chuông đồng khổng lồ được đúc tinh khiết, chuẩn xác tới mức từ lần đầu tiên được gióng lên ba trăm năm trước tới nay vẫn chưa dứt tiếng ngân. Cuối cùng, người ta khẳng định chưa từng có người Anh nào đặt chân vào trong tường tu viện. Ê-ơ và Ghi-li-am quyết định ba lời đồn ấy đáng được đi điều tra.
Phải mất hai ngày với hai người dẫn đường họ mới tới được tu viện Thánh Gông-đrô. Nó đứng trên một mỏm đá đóng băng, lộng gió, tuyết chất quanh thành những đống trôi dạt nguy hiểm. Họ được các thầy có nhiệm vụ tiếp đón những vị khách hiếm hoi đón tiếp nồng hậu. Họ uống thứ rượu quý, thấy nó mạnh và làm tỉnh người lạ thường. Họ nghe quả chuông lớn ngân vang mãi không dứt, và biết rằng trong những bức tường đá xám ấy, họ là những người lữ hành tiên phong, tới trước cả người Anh, giống người có đôi chân không biết mỏi đã giẫm lên gần như mọi xó xỉnh trên trái đất.
Ba giờ chiều hôm họ tới, hai chàng trai New York đứng cùng thầy Crít-xtô-phơ tốt bụng trong hành lang lớn lạnh lẽo của tu viện, xem các thầy tu đi ngang qua tới nhà ăn. Họ đi chậm rãi, từng đôi một, đầu cúi, bàn chân đi dép bước lặng lẽ trên những phiến đá lát gồ ghề. Khi đoàn người chầm chậm đi qua, Ê-ơ bỗng nắm chặt lấy cánh tay Ghi-li-am.
— Nhìn kìa, — anh thì thầm, giọng háo hức, — cái người đang đi ngang trước mặt cậu ấy, người phía bên này, tay đặt ở thắt lưng ấy. Nếu đó không phải Giô-ni Ben-chêm-bơ thì tớ chưa từng gặp cậu ta bao giờ!
Ghi-li-am nhìn và nhận ra tấm gương thời trang đã mất tích.
— Quỷ thần ơi, — anh ngạc nhiên nói, — lão Ben làm gì ở đây thế? Tôm-mi, chắc chắn không phải cậu ấy đâu! Có bao giờ nghe nói Ben có máu tu hành đâu. Thật ra tớ từng nghe cậu ta chửi những câu, khi cái cà vạt thắt mãi không vừa ý, đủ để bị bất cứ nhà thờ nào đưa ra xử tội.
— Đúng là Ben, không còn nghi ngờ gì nữa, — Ê-ơ quả quyết nói, — không thì tớ phải đi khám mắt gấp. Nhưng thử nghĩ xem, Giô-ni Ben-chêm-bơ, ngài tể tướng tối cao của làng quần áo sang trọng, bậc thánh sư của những buổi tiệc trà, lại lên đây nằm trong kho ướp lạnh mà sám hối trong cái áo choàng tắm màu thuốc lá! Tớ không sao hiểu nổi. Ta hỏi ông thầy vui tính đang tiếp khách xem.
Họ nhờ thầy Crít-xtô-phơ cho biết. Lúc ấy các thầy tu đã vào nhà ăn hết. Thầy không biết họ nói tới người nào. Ben-chêm-bơ ư? À, các thầy ở tu viện Thánh Gông-đrô bỏ tên tục khi khấn nguyện. Hai quý ông muốn nói chuyện với một thầy à? Nếu hai ông vào nhà ăn chỉ ra người muốn gặp, hẳn cha bề trên sẽ cho phép.
Ê-ơ và Ghi-li-am vào phòng ăn, chỉ cho thầy Crít-xtô-phơ người họ đã thấy. Phải, đúng là Giô-ni Ben-chêm-bơ. Giờ họ nhìn rõ mặt anh khi anh ngồi giữa các thầy tu áo xỉn màu, chẳng hề ngước lên, đang ăn cháo trong một cái bát nâu thô.
Cha bề trên cho phép hai vị khách lữ hành được nói chuyện với một thầy, và họ chờ anh tới ở phòng tiếp khách. Khi anh tới, bước khẽ khàng trong đôi dép, cả Ê-ơ lẫn Ghi-li-am đều nhìn anh, bối rối và sửng sốt. Đúng là Giô-ni Ben-chêm-bơ, nhưng anh có một vẻ khác hẳn. Trên gương mặt cạo nhẵn của anh là một vẻ bình yên không lời nào tả xiết, vẻ mãn nguyện ngây ngất của người đã đạt được điều mình mong, một niềm hạnh phúc trọn vẹn, hoàn hảo. Dáng anh thẳng, kiêu hãnh, mắt anh ánh lên một thứ ánh sáng thanh thản, nhân hậu. Anh vẫn gọn gàng, chải chuốt như những ngày ở New York, nhưng cách ăn mặc thì khác xa biết bao! Giờ đây hình như anh chỉ mặc mỗi một thứ, một chiếc áo choàng dài bằng vải nâu thô, thắt sợi dây ngang lưng, buông thẳng xuống thành những nếp rộng gần tới chân. Anh bắt tay hai vị khách với phong thái thoải mái, thanh lịch như xưa. Nếu cuộc gặp ấy có chút ngượng ngùng nào thì cũng không phải ở phía Giô-ni Ben-chêm-bơ. Trong phòng không có ghế, họ đứng nói chuyện.
— Gặp cậu mừng quá, bạn già, — Ê-ơ nói, hơi lúng túng. — Không ngờ lại gặp cậu ở tận đây. Mà xét cho cùng thì cũng không phải ý tồi. Giới thượng lưu là một trò giả dối kinh khủng. Rũ bỏ được cái vòng quay chóng mặt ấy, lui về... ờ... chiêm nghiệm, với... ờ... cầu nguyện, thánh ca, những thứ ấy, chắc nhẹ nhõm lắm.
— Ôi, thôi đi, Tôm-mi, — Ben-chêm-bơ vui vẻ nói. — Đừng sợ tớ chìa đĩa ra xin tiền quyên góp. Tớ làm mấy cái thủ tục này cùng mấy ông già kia vì đó là luật thôi. Ở đây tớ là thầy Am-brô-dơ, cậu biết đấy. Tớ chỉ được nói chuyện với các cậu mười phút. Cái gi-lê cậu đang mặc là kiểu mới phải không, Ghi-li-am? Bây giờ trên phố Brốt-uê người ta đang mặc kiểu ấy à?
— Vẫn đúng là Giô-ni ngày xưa, — Ghi-li-am mừng rỡ nói. — Quái quỷ gì... tớ muốn nói là tại sao... ôi, khỉ thật! Cậu làm thế để làm gì, bạn già?
— Cởi cái áo choàng tắm ấy ra, — Ê-ơ gần như sắp khóc mà van nài, — về với bọn tớ đi. Cả hội cũ mà gặp cậu thì phát cuồng mất. Cái này chẳng hợp với cậu đâu, Ben. Tớ biết nửa tá cô gái đã lặng lẽ khóc thầm khi cậu bỏ rơi bọn tớ một cách khó hiểu như thế. Nộp đơn xin thôi đi, hay xin miễn trừ, hay làm bất cứ cái gì phải làm để được thả khỏi cái xưởng làm đá này. Ở đây cậu sẽ bị sổ mũi mất, Giô-ni, rồi... Lạy Chúa tôi! Cậu không đi tất!
Ben-chêm-bơ nhìn xuống đôi bàn chân đi dép, mỉm cười.
— Các cậu không hiểu đâu, — anh nói, giọng vỗ về. — Các cậu muốn tớ quay về thì tớ cảm động lắm, nhưng đời sống cũ sẽ không bao giờ thấy lại tớ nữa. Ở đây tớ đã đạt tới đích của mọi hoài bão. Tớ hoàn toàn hạnh phúc và mãn nguyện. Tớ sẽ ở lại đây suốt quãng đời còn lại. Các cậu thấy cái áo choàng tớ đang mặc chứ?
Ben-chêm-bơ âu yếm vuốt ve tấm áo buông thẳng.
— Cuối cùng tớ đã tìm được một thứ đồ mặc chẳng bao giờ bị gồ lên ở đầu gối như cái quần. Tớ đã đạt tới...
Đúng lúc ấy, tiếng ngân trầm của quả chuông đồng lớn vang dội khắp tu viện. Hẳn đó là tiếng gọi tới giờ kinh ngay lập tức, vì thầy Am-brô-dơ cúi đầu, quay người rời khỏi phòng không nói thêm một lời. Một cái vẫy tay khẽ khi anh đi qua ngưỡng cửa đá dường như là lời từ biệt những người bạn cũ. Họ rời tu viện mà không gặp lại anh.
Và đó là câu chuyện mà Tôm Ê-ơ và Lan-xơ-lốt Ghi-li-am mang về sau chuyến du lịch châu Âu gần đây nhất của họ.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn