Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Người ngồi trong hang đá

Thảm kịch bên bờ biển · Chương 1/2 · của Honoré de Balzac

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Trang📖 21.058 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Kính tặng bà công chúa Ca-rô-lin Ga-lít-xin đờ Giăng-tốt,…
  2. 6:26Con tôm hùm người ta trả anh bao nhiêu?
  3. 7:00Mười hai quan.
  4. 8:18Anh có vợ hay có cô bạn nào không?
  5. 10:17Mỗi năm ba bốn lần ạ.
  6. 11:46Năm xu một ngày, nhưng được nuôi cơm.
  7. 14:00Em nghĩ em hiểu ra vì sao có những…
  8. 16:04Thế là kẻ cướp hay kẻ giết người à?

Chương 1: Người ngồi trong hang đá

Kính tặng bà công chúa Ca-rô-lin Ga-lít-xin đờ Giăng-tốt, nhũ danh bá tước tiểu thư Va-lép-xca. Để tỏ lòng kính trọng và tưởng nhớ của tác giả.

Gần như chàng trai trẻ nào cũng có một cái com-pa mà họ thích dùng để đo tương lai. Khi ý chí của họ hợp với độ táo bạo của cái góc họ mở ra, thì thế giới thuộc về họ. Nhưng hiện tượng ấy của đời sống tinh thần chỉ xảy ra ở một độ tuổi nhất định. Tuổi ấy, với mọi người, nằm trong khoảng hai mươi hai tới hai mươi tám, là tuổi của những tư tưởng lớn, tuổi của những ý tưởng ban đầu, vì đó là tuổi của những khát vọng mênh mông, tuổi người ta chẳng nghi ngờ gì cả. Mà đã nói nghi ngờ là nói bất lực. Sau cái tuổi chóng qua như mùa gieo hạt ấy là tuổi hành động. Có thể nói có hai tuổi trẻ: tuổi trẻ người ta tin, và tuổi trẻ người ta làm. Ở những người được trời phú, như Xê-da, Niu-tơn và Bô-na-pác, những bậc vĩ nhân nhất trong các vĩ nhân, hai tuổi trẻ ấy thường hoà làm một.

Tôi đang đo xem một tư tưởng cần bao nhiêu thời gian để phát triển. Com-pa trong tay, đứng trên một mỏm đá cao hơn trăm sải trên mặt biển cả, nơi những con sóng đùa giỡn giữa đám đá ngầm, tôi đo đạc tương lai của mình, bày biện nó bằng những tác phẩm, như một kỹ sư vạch những pháo đài và cung điện trên một khoảnh đất trống. Biển đẹp. Tôi vừa bơi xong và mặc lại quần áo, đang chờ Pô-lin, thiên thần hộ mệnh của tôi, nàng đang tắm trong một cái bồn đá hoa cương đầy cát mịn, cái bồn tắm duyên dáng nhất mà thiên nhiên từng vẽ ra cho những nàng tiên biển. Chúng tôi đang ở mũi tận cùng của Croa-dích, một bán đảo nhỏ xinh xắn của xứ Brơ-ta-nhơ. Chúng tôi ở xa cảng, tại một nơi mà sở thuế cho là khó tới tới mức lính hải quan hầu như chẳng bao giờ đi qua. Bơi trong không khí sau khi bơi dưới biển! Ôi, ai mà chẳng bơi trong tương lai? Vì sao tôi lại nghĩ ngợi? Vì sao một nỗi đau lại tới? Ai mà biết được? Ý nghĩ rơi vào tim hay vào đầu ta mà chẳng hỏi ý ta. Chẳng có ả kỹ nữ nào thất thường và hống hách hơn Cảm hứng đối với người nghệ sĩ. Phải nắm lấy nó như nắm lấy Vận may, túm cả mớ tóc, khi nó tới. Cưỡi lên ý nghĩ của mình như chàng hiệp sĩ trong truyện cưỡi con ngựa có cánh, tôi phi khắp thế gian, sắp đặt mọi thứ theo ý mình. Khi tôi muốn tìm quanh mình một điềm báo nào đó cho những công trình táo bạo mà trí tưởng tượng điên rồ khuyên tôi theo đuổi, thì một tiếng kêu xinh xắn, tiếng kêu của một người đàn bà gọi ta trong sự im lặng của chốn hoang vắng, tiếng kêu của một người đàn bà vừa tắm xong, tươi tỉnh, vui vẻ, vang trên tiếng rì rào của những đường viền sóng không ngừng lay động mà thuỷ triều lên xuống vẽ trên những khúc khuỷu của bờ biển. Nghe nốt nhạc vọt ra từ tâm hồn ấy, tôi tưởng như thấy giữa những tảng đá bàn chân của một thiên thần đang xoè cánh và kêu lên: "Ngươi sẽ thành công!" Tôi đi xuống, rạng rỡ, nhẹ bỗng. Tôi nhảy chân sáo xuống như một hòn sỏi ném xuống một con dốc đứng. Thấy tôi, nàng hỏi:

— Anh làm sao thế?

Tôi không đáp, mắt tôi rưng rưng. Hôm trước, Pô-lin đã hiểu những nỗi đau của tôi, cũng như lúc này nàng hiểu những niềm vui của tôi, với sự nhạy cảm thần kỳ của một cây đàn hạc tuân theo những biến đổi của khí trời. Đời người có những khoảnh khắc đẹp làm sao! Chúng tôi lặng lẽ đi dọc bãi cát. Trời không gợn mây, biển không gợn sóng. Người khác chỉ thấy ở đó hai thảo nguyên xanh chồng lên nhau. Nhưng chúng tôi, những người hiểu nhau không cần lời, những người có thể thả giữa hai tấm khăn vô tận ấy những ảo mộng mà tuổi trẻ vẫn nuôi mình, chúng tôi siết tay nhau mỗi khi mặt nước hay bầu trời đổi khác chút ít, vì chúng tôi coi những hiện tượng nhỏ nhặt ấy như hình bóng vật chất của ý nghĩ chung của hai người. Ai chưa từng nếm trong niềm vui cái khoảnh khắc hân hoan vô hạn, khi tâm hồn như đã thoát khỏi những ràng buộc của xác thịt và như được trả về với thế giới nó từ đó mà ra? Chẳng phải có những giờ phút mà tình cảm tự quấn lấy nhau và lao vào đó, như hai đứa trẻ nắm tay nhau chạy mà chẳng biết vì sao. Chúng tôi đi như thế.

Khi những mái nhà của thành phố hiện ra ở chân trời thành một đường xám xám, chúng tôi gặp một người dân chài nghèo đang trở về Croa-dích. Chân anh trần, chiếc quần vải rách tua ở gấu, thủng lỗ chỗ, vá víu vụng về. Anh mặc một chiếc áo sơ mi bằng vải buồm, dây đeo quần tồi tàn bằng vải viền, áo khoác là một mảnh giẻ. Cảnh nghèo ấy làm chúng tôi đau lòng, như một nốt nhạc chỏi giữa những hoà âm của chúng tôi. Chúng tôi nhìn nhau, như than thở với nhau rằng lúc này không có được phép màu để vốc lấy kho báu trong truyện cổ tích. Chúng tôi thấy một con tôm hùm tuyệt đẹp và một con cua nhện mắc trên sợi dây nhỏ người dân chài đung đưa trong tay phải, còn tay kia anh giữ đồ nghề. Chúng tôi lại gần, định mua mẻ cá của anh. Ý ấy đến với cả hai chúng tôi cùng lúc, hiện ra trong một nụ cười của nàng, và tôi đáp lại bằng cách khẽ siết cánh tay nàng đang khoác tay tôi, kéo nó sát vào tim mình. Chính những điều vụn vặt ấy về sau kỷ niệm biến thành thơ, khi ngồi bên lò sưởi ta nhớ lại cái giờ phút điều vụn vặt ấy làm ta xúc động, nơi nó xảy ra, và cái ảo ảnh chưa ai giải thích được, nhưng vẫn thường phủ lên những vật quanh ta vào những lúc đời nhẹ tênh và lòng ta đầy ắp. Những phong cảnh đẹp nhất cũng chỉ là cái mà ta làm cho chúng trở thành. Người nào có chút hồn thơ mà chẳng giữ trong kỷ niệm một mỏm đá chiếm nhiều chỗ hơn cả những thắng cảnh nổi tiếng nhất từng tốn kém tìm tới! Bên mỏm đá ấy là những ý nghĩ cuộn trào. Ở đó, cả một cuộc đời được định đoạt. Ở đó, những nỗi sợ tan biến. Ở đó, những tia hy vọng rọi xuống tâm hồn. Lúc ấy, mặt trời đồng cảm với những ý nghĩ về tình yêu và tương lai ấy, rọi lên sườn đá màu hung một ánh sáng rực rỡ. Vài bông hoa núi níu lấy ánh mắt. Sự yên tĩnh và im lặng làm lớn thêm cái hốc đá thật ra tối tăm ấy, được kẻ mơ mộng tô màu. Bấy giờ nó đẹp, với cây cỏ lơ thơ, những khóm cúc dại ấm áp, những bụi dương xỉ lá mượt như nhung. Một ngày hội kéo dài, một khung cảnh huy hoàng, một niềm hân hoan hạnh phúc của sức lực con người! Đã một lần, hồ Bi-en nhìn từ đảo Xanh Pi-e cũng nói với tôi như thế. Mỏm đá Croa-dích có lẽ sẽ là niềm vui cuối cùng như vậy! Nhưng khi ấy, Pô-lin sẽ ra sao?

Tôi hỏi người dân chài:

— Sáng nay anh được mẻ khá đấy nhỉ, anh bạn?

Anh dừng lại, đáp:

— Vâng, thưa ông.

Anh quay về phía chúng tôi khuôn mặt sạm màu của những người suốt hàng giờ phơi mình dưới nắng hắt từ mặt nước.

Khuôn mặt ấy cho thấy một sự nhẫn nhục lâu dài, sự kiên nhẫn và tính hiền lành của người dân chài. Người đàn ông ấy có giọng nói không thô ráp, đôi môi hiền, chẳng có tham vọng gì, có cái gì đó mảnh khảnh, yếu ớt. Bất kỳ một khuôn mặt nào khác hẳn đã làm chúng tôi khó chịu.

— Anh định bán chỗ ấy ở đâu?

— Ở thành phố ạ.

— Con tôm hùm người ta trả anh bao nhiêu?

— Mười lăm xu.

— Còn con cua?

— Hai mươi xu.

— Sao con tôm hùm với con cua lại chênh nhau thế?

— Thưa ông, con cua ngon hơn nhiều chứ! Mà nó lại ranh như khỉ, ít khi chịu để người ta bắt.

Pô-lin hỏi:

— Anh bán cả cho chúng tôi một trăm xu nhé?

Người đàn ông đứng sững như hoá đá.

Tôi cười bảo:

— Em không mua được đâu! Anh trả mười quan. Phải biết trả cho những xúc cảm đúng với giá của chúng.

Nàng đáp:

— Thế thì em sẽ mua được! Em trả mười quan hai xu.

— Mười quan mười xu.

— Mười hai quan.

— Mười lăm quan.

Nàng nói:

— Mười lăm quan năm mươi xăng-tim.

— Một trăm quan.

— Một trăm năm mươi.

Tôi cúi đầu chịu thua. Lúc ấy chúng tôi không đủ giàu để đẩy cuộc đấu giá lên cao hơn. Người dân chài tội nghiệp không biết nên giận vì bị đùa cợt hay nên mừng rỡ. Chúng tôi giải thoát anh khỏi bối rối bằng cách cho anh tên bà chủ nhà trọ, dặn anh mang tôm hùm và cua tới đó.

Tôi hỏi anh, để biết vì đâu anh nghèo túng thế:

— Anh có kiếm đủ sống không?

Anh đáp:

— Vất vả lắm ạ, chịu bao nhiêu là khổ sở. Đánh cá ven bờ, khi chẳng có thuyền có lưới, chỉ đặt bẫy hay câu, là cái nghề hên xui. Ông thấy đấy, phải ngồi chờ cá chờ sò, trong khi mấy người đánh cá lớn thì ra khơi mà tìm. Kiếm sống kiểu này khó tới mức chỉ còn mỗi mình tôi đánh cá ven bờ. Có những ngày trọn ngày chẳng được gì. Muốn bắt được cái gì, phải có con cua nào quên mình ngủ quên như con này, hay con tôm hùm nào lơ ngơ nằm lại trong đá. Thỉnh thoảng sau con nước lớn có cá vược vào, thì tôi tóm lấy.

— Rốt cuộc, tính bình quân, mỗi ngày anh kiếm được bao nhiêu?

— Mười một mười hai xu. Một mình thì tôi cũng xoay xở được, nhưng tôi còn bố phải nuôi, mà ông cụ chẳng giúp gì được, ông bị mù.

Nghe câu ấy, nói thật giản dị, Pô-lin và tôi nhìn nhau chẳng nói lời nào.

— Anh có vợ hay có cô bạn nào không?

Anh ném cho chúng tôi một trong những ánh mắt đáng thương nhất tôi từng thấy, rồi đáp:

— Có vợ thì phải bỏ bố tôi rồi. Tôi không nuôi nổi bố mà còn nuôi thêm vợ con.

— Thế sao anh bạn tội nghiệp không tìm cách kiếm thêm, như khuân muối ngoài cảng hay làm ở ruộng muối?

— Chao ôi, thưa ông, làm cái nghề ấy ba tháng là tôi không kham nổi. Tôi không đủ khoẻ, mà tôi có chết thì bố tôi phải đi ăn mày. Tôi cần một cái nghề chỉ đòi chút khéo tay và nhiều nhẫn nại.

— Thế hai người sống làm sao với mười hai xu một ngày?

— Ồ, thưa ông, chúng tôi ăn bánh kiều mạch với những con ốc tôi gỡ trên đá.

— Anh bao nhiêu tuổi rồi?

— Ba mươi bảy.

— Anh đã đi đâu khỏi đây bao giờ chưa?

— Tôi đi Ghê-răng một lần để rút thăm đi lính, rồi đi Xa-vơ-nê cho mấy ông ấy đo người. Cao thêm một tấc nữa là tôi thành lính rồi. Gặp vất vả lần đầu là tôi đã chết rồi, và bố tôi giờ phải đi xin.

Tôi đã nghĩ ra bao nhiêu tấn kịch. Pô-lin đã quen với những xúc động lớn, ở bên một người đau ốm như tôi. Vậy mà chưa bao giờ cả hai chúng tôi nghe những lời cảm động hơn những lời của người dân chài ấy. Chúng tôi lặng lẽ đi vài bước, cùng đo chiều sâu câm lặng của một cuộc đời không ai biết tới, thán phục sự cao quý của một tấm lòng hy sinh mà chẳng hề tự biết. Sức mạnh của sự yếu đuối ấy làm chúng tôi kinh ngạc. Sự hào phóng vô tư ấy khiến chúng tôi thấy mình nhỏ bé. Tôi thấy con người tội nghiệp chỉ sống bằng bản năng ấy bị đóng chặt vào mỏm đá như người tù khổ sai bị xích vào quả tạ, rình sò ốc ở đó suốt hai mươi năm để kiếm sống, và được nâng đỡ trong sự nhẫn nại ấy chỉ bởi một tình cảm duy nhất. Bao nhiêu giờ đã tiêu tan ở một góc bãi biển! Bao nhiêu hy vọng đã đổ nhào vì một cơn mưa giông, vì trời trở gió! Anh đứng treo mình bên mép một phiến đá hoa cương, cánh tay chìa ra như cánh tay một nhà tu khổ hạnh Ấn Độ, trong khi người cha ngồi trên chiếc ghế đẩu chờ đợi, trong im lặng và bóng tối, thứ sò ốc thô kệch nhất, và bánh mì, nếu biển muốn cho.

Tôi hỏi anh:

— Thỉnh thoảng anh có được uống rượu không?

— Mỗi năm ba bốn lần ạ.

— Thế thì hôm nay anh sẽ được uống, cả anh lẫn bố anh, và chúng tôi sẽ gửi cho anh một ổ bánh mì trắng.

— Ông tốt quá.

— Chúng tôi sẽ đãi anh bữa tối, nếu anh chịu dẫn chúng tôi theo bờ biển tới Ba, chúng tôi muốn xem ngọn tháp nhìn xuống vũng biển và bờ biển giữa Ba và Croa-dích.

Anh nói với chúng tôi:

— Sẵn lòng ạ. Ông bà cứ đi thẳng theo con đường này, tôi cất đồ nghề với mẻ cá xong sẽ đuổi kịp.

Chúng tôi cùng gật đầu đồng ý, và anh vui vẻ chạy về phía thành phố. Cuộc gặp gỡ ấy giữ chúng tôi trong tâm trạng cũ, nhưng đã làm nhạt đi niềm vui.

Pô-lin bảo tôi, bằng cái giọng khiến lòng thương của người đàn bà không còn chút gì làm người ta tổn thương:

— Tội nghiệp anh ấy! Thấy cảnh khốn cùng ấy mà mình còn hạnh phúc, anh có thấy xấu hổ không?

Tôi đáp:

— Chẳng gì tàn nhẫn hơn những ham muốn bất lực. Hai con người tội nghiệp ấy, người cha và người con, sẽ chẳng bao giờ biết chúng ta đã thương họ tới mức nào, cũng như thiên hạ chẳng biết đời họ đẹp tới mức nào, vì họ đang tích kho báu trên trời.

Nàng chỉ cho tôi dọc một thửa ruộng có tường đá khan bao quanh, những bãi phân bò dán ngay ngắn thành hàng, rồi nói:

— Xứ sở mới nghèo làm sao! Em hỏi cái này là gì. Một bà nông dân đang dán chúng bảo em là bà đang làm củi. Anh thử nghĩ xem, khi phân khô, những người nghèo ấy gom lại, chất đống, rồi đem sưởi. Mùa đông người ta đem bán như bán bánh vỏ thuộc da. Thế anh đoán xem cô thợ may được trả cao nhất ở đây kiếm được bao nhiêu?

Nàng ngừng một lát rồi nói:

— Năm xu một ngày, nhưng được nuôi cơm.

Tôi bảo nàng:

— Em xem, gió biển làm khô héo hay quật đổ mọi thứ, chẳng có cây cối gì. Mảnh vụn những con thuyền hư hỏng được bán cho người giàu, chắc vì tiền chuyên chở khiến họ không dùng được củi sưởi vốn rất nhiều ở Brơ-ta-nhơ. Xứ này chỉ đẹp với những tâm hồn lớn. Những kẻ không có trái tim không sống nổi ở đây. Chỉ có thi sĩ hay con ốc bám đá mới ở được. Phải có kho muối đặt trên mỏm đá này thì mới có người ở. Một bên là biển, đây là cát, trên kia là khoảng không.

Chúng tôi đã đi quá thành phố, và đang ở trong cái thứ sa mạc ngăn cách Croa-dích với làng Ba. Chú thử hình dung, chú thân mến, một vùng đất hoang dài hai dặm, đầy thứ cát lấp lánh ở bờ biển. Chỗ này chỗ kia vài tảng đá ngóc đầu lên, trông như những con thú khổng lồ nằm giữa đồi cát. Dọc bờ biển hiện ra vài dải đá ngầm, nước đùa giỡn quanh chúng, khiến chúng như những bông hồng trắng lớn trôi trên mặt nước rồi đậu vào bờ. Nhìn đồng cỏ hoang ấy, bên phải giáp đại dương, bên trái giáp cái hồ lớn do biển tràn vào giữa Croa-dích và những đồi cát ở Ghê-răng, dưới chân là những ruộng muối trơ trụi cây cỏ, tôi nhìn Pô-lin, hỏi nàng có đủ can đảm đương đầu với cái nắng gắt và đủ sức đi trên cát không.

Nàng chỉ cho tôi ngọn tháp Ba, chặn tầm nhìn bằng một công trình khổng lồ đặt ở đó như một kim tự tháp, nhưng là một kim tự tháp thon dài, chạm trổ, trang trí thơ mộng tới mức trí tưởng tượng có thể thấy ở đó phế tích đầu tiên của một thành phố lớn châu Á. Nàng bảo:

— Em đi ủng rồi, ta đi thôi.

Chúng tôi đi vài bước tới ngồi lên một mỏm đá còn chút bóng râm. Nhưng đã mười một giờ trưa, và cái bóng dừng ngay dưới chân chúng tôi ấy đang co lại rất nhanh.

Nàng nói với tôi:

— Sự im lặng này đẹp làm sao, và tiếng biển rì rào đều đặn trên bãi cát khiến nó càng thêm sâu thẳm!

Tôi đáp:

— Nếu em thả trí óc mình vào ba cái mênh mông đang bao quanh ta, nước, không khí và cát, mà chỉ lắng nghe tiếng sóng lên xuống lặp đi lặp lại, thì em sẽ không chịu nổi thứ ngôn ngữ của nó đâu. Em sẽ tưởng như nhận ra trong đó một tư tưởng đè bẹp mình. Chiều qua, lúc mặt trời lặn, anh đã có cảm giác ấy, nó làm anh tan nát.

Nàng im lặng hồi lâu rồi nói:

— Ồ, phải, ta nói chuyện đi. Chẳng nhà hùng biện nào đáng sợ hơn.

Rồi nàng nói tiếp:

— Em nghĩ em hiểu ra vì sao có những hài hoà quanh ta. Phong cảnh này chỉ có ba màu rõ rệt, màu vàng chói của cát, màu xanh của trời và màu xanh lục phẳng lặng của biển. Nó lớn lao mà không hoang dã. Nó mênh mông mà không hoang vắng. Nó đơn điệu mà không mệt mỏi. Nó chỉ có ba yếu tố, vậy mà muôn vẻ.

Tôi đáp:

— Chỉ đàn bà mới diễn tả được ấn tượng của mình như thế. Em làm thi sĩ phải tuyệt vọng mất thôi, tâm hồn yêu dấu mà anh đã đoán ra rõ đến thế!

Pô-lin cười, nói tiếp:

— Cái nóng gay gắt buổi trưa phủ lên ba biểu hiện của cái vô tận ấy một màu như thiêu đốt. Ở đây em hiểu được thơ ca và những đam mê của phương Đông.

— Còn anh, ở đây anh hiểu được nỗi tuyệt vọng.

Nàng nói:

— Phải, đồi cát này là một tu viện cao cả.

Chúng tôi nghe tiếng chân vội vã của người dẫn đường. Anh đã mặc quần áo ngày chủ nhật. Chúng tôi nói với anh vài câu chẳng đâu vào đâu. Anh tưởng như thấy tâm trạng chúng tôi đã đổi khác, và với sự dè dặt mà bất hạnh ban cho con người, anh giữ im lặng. Dù thỉnh thoảng chúng tôi siết tay nhau để báo cho nhau biết ý nghĩ và cảm xúc của mình cùng một nhịp, chúng tôi đi suốt nửa giờ trong im lặng, có lẽ vì bị cái nóng toả lên thành từng đợt lấp lánh từ giữa đồi cát đè nặng, có lẽ vì việc đi lại khó khăn chiếm hết sự chú ý. Chúng tôi nắm tay nhau mà đi, như hai đứa trẻ. Nếu khoác tay nhau, chúng tôi chẳng đi nổi mười hai bước. Con đường tới làng Ba không có lối mòn. Chỉ một cơn gió là xoá sạch những dấu chân ngựa hay vết bánh xe bò. Nhưng con mắt lão luyện của người dẫn đường nhận ra con đường ấy nhờ vài bãi phân gia súc, vài mẩu phân ngựa. Con đường lúc thì đổ xuống phía biển, lúc lại ngược lên phía đất liền, tuỳ theo những con dốc, hay để vòng qua những tảng đá. Giữa trưa chúng tôi mới đi được nửa đường.

Tôi chỉ một mũi đất gồm những tảng đá khá cao, có thể đoán ở đó có hang, và nói:

— Ta sẽ nghỉ ở đằng kia.

Nghe thấy thế, người dân chài nhìn theo ngón tay tôi, lắc đầu và nói:

— Ở đấy có người. Ai đi từ làng Ba sang Croa-dích, hay từ Croa-dích sang làng Ba, đều đi vòng cho khỏi qua đó.

Anh nói những lời ấy rất khẽ, như có điều gì bí ẩn.

— Thế là kẻ cướp hay kẻ giết người à?

Người dẫn đường chỉ đáp bằng một tiếng thở dài thăm thẳm, khiến chúng tôi càng tò mò gấp bội.

— Nhưng nếu chúng tôi đi qua đó, chúng tôi có gặp tai hoạ gì không?

— Ồ, không đâu.

— Anh có đi qua đó cùng chúng tôi không?

— Không, thưa ông.

— Thế thì chúng tôi sẽ đi, nếu anh cam đoan với chúng tôi là không có nguy hiểm gì.

Người dân chài vội đáp:

— Tôi đâu có nói thế. Tôi chỉ nói người ở đó sẽ chẳng nói gì với ông bà, cũng chẳng làm hại gì ông bà. Ôi lạy Chúa, ông ấy còn chẳng nhúc nhích khỏi chỗ ngồi nữa kia.

— Thế là ai?

— Một con người!

Chưa bao giờ hai tiếng ấy được nói ra một cách bi thảm đến thế. Lúc ấy chúng tôi chỉ còn cách dải đá ngầm sóng đang vỗ chừng hai chục bước. Người dẫn đường đi theo con đường vòng quanh những tảng đá. Chúng tôi cứ đi thẳng, nhưng Pô-lin khoác lấy tay tôi. Người dẫn đường rảo bước, để tới chỗ hai con đường gặp nhau cùng lúc với chúng tôi. Hẳn anh đoán rằng sau khi thấy người kia, chúng tôi sẽ đi rất vội. Điều ấy khơi lửa tò mò của chúng tôi, nó trở nên mạnh tới mức tim chúng tôi đập thình thịch như đang sợ hãi. Dù trời nóng và đi trên cát mệt, tâm hồn chúng tôi vẫn còn chìm trong sự mềm mại khôn tả của một cơn ngây ngất êm đềm. Chúng tôi đầy ắp niềm vui trong trẻo mà chỉ có thể tả bằng cách ví nó với niềm vui khi nghe một khúc nhạc tuyệt diệu của Mô-da. Hai tình cảm trong sáng hoà vào nhau chẳng phải như hai giọng hát đẹp cùng ngân lên sao? Muốn hiểu hết cơn xúc động sắp ập tới chúng tôi, phải cùng chia sẻ cái trạng thái nửa như mê say mà những sự việc buổi sáng hôm ấy đã nhấn chúng tôi vào. Chú hãy ngắm thật lâu một con chim gáy màu sắc xinh đẹp đậu trên một cành mềm bên dòng suối, rồi chú sẽ kêu lên đau đớn khi thấy một con diều hâu sà xuống, cắm những móng thép vào tận tim nó và mang nó đi với tốc độ chết chóc mà thuốc súng truyền cho viên đạn. Khi chúng tôi vừa bước một bước vào khoảng trống trước hang, một thứ bậc thềm cao hơn mặt biển trăm bộ, được một dãy đá dốc đứng che chắn khỏi cơn cuồng nộ của sóng, chúng tôi thấy một luồng rùng mình như điện giật, giống cái giật mình khi nghe một tiếng động đột ngột giữa đêm im lặng. Chúng tôi vừa thấy trên một tảng đá hoa cương một người đàn ông ngồi, nhìn chúng tôi. Ánh mắt ông, như lửa loé từ nòng đại bác, phóng ra từ hai con mắt đỏ ngầu, và sự bất động khắc kỷ của ông chỉ có thể sánh với dáng đứng không lay chuyển của những khối đá hoa cương bao quanh. Đôi mắt ông chuyển động chậm chạp, thân mình vẫn bất động như đã hoá đá. Rồi sau khi ném cho chúng tôi cái nhìn khiến chúng tôi chấn động dữ dội ấy, ông lại đưa mắt về phía biển cả mênh mông, và ngắm nó bất chấp ánh sáng loá mắt từ đó toả lên, như người ta bảo đại bàng ngắm mặt trời mà không cụp mi, và ông chẳng ngước lên nữa. Chú thân mến, chú hãy cố nhớ lại một trong những gốc sồi già, thân xù xì đầy mấu, vừa bị chặt hết cành hôm trước, đứng sừng sững kỳ quái bên một con đường vắng, chú sẽ có hình ảnh đúng về người đàn ông này. Đó là một thân hình lực sĩ đã tàn tạ, một khuôn mặt như thần Giu-pi-te trên đỉnh Ô-lim-pơ, nhưng bị huỷ hoại bởi tuổi tác, bởi công việc khắc nghiệt trên biển, bởi nỗi đau, bởi cái ăn thô kệch, và như bị một tia sét làm cháy đen. Nhìn đôi bàn tay đầy lông và chai cứng, tôi thấy những sợi gân như những mạch sắt. Vả lại, mọi thứ ở ông đều cho thấy một thể chất cường tráng. Tôi để ý trong một góc hang có khá nhiều rêu, và trên một cái kệ thô sơ do tình cờ đẽo ra giữa đá hoa cương, một ổ bánh mì tròn bẻ dở đậy trên miệng một cái vò sành. Chưa bao giờ trí tưởng tượng của tôi, khi đưa tôi về những sa mạc nơi các ẩn sĩ đầu tiên của đạo Ki-tô từng sống, vẽ ra cho tôi một khuôn mặt sùng đạo lớn lao hơn, ăn năn khủng khiếp hơn khuôn mặt người đàn ông này. Chú từng ngồi toà giải tội, chú thân mến, có lẽ chú cũng chưa bao giờ thấy một nỗi hối hận đẹp đến thế, nhưng nỗi hối hận ấy chìm trong những làn sóng của lời cầu nguyện, lời cầu nguyện không dứt của một nỗi tuyệt vọng câm lặng. Người dân chài ấy, người thuỷ thủ ấy, người Brơ-ta-nhơ thô mộc ấy trở nên cao cả bởi một tình cảm không ai biết. Nhưng đôi mắt ấy đã từng khóc chưa? Bàn tay như của pho tượng đẽo dở ấy đã từng đánh ai chưa? Vầng trán thô ráp in dấu một sự chính trực hoang dã, mà sức mạnh vẫn để lại trên đó dấu vết của nét dịu dàng vốn là đặc ân của mọi sức mạnh chân chính, vầng trán hằn nếp nhăn ấy có hợp với một trái tim lớn không? Vì sao người này lại ở trong đá hoa cương? Vì sao đá hoa cương lại ở trong người này? Đâu là người, đâu là đá? Cả một thế giới ý nghĩ ập vào đầu chúng tôi. Như người dẫn đường đã đoán, chúng tôi lặng lẽ đi qua thật nhanh, và anh thấy lại chúng tôi xúc động vì sợ hãi hay sững sờ vì kinh ngạc, nhưng anh không lấy chuyện lời tiên đoán của mình đã đúng mà làm cao với chúng tôi.

— Hết chương 1 —

Mục lục Thảm kịch bên bờ biển

  1. 1Người ngồi trong hang đá20 phút
  2. 2Lời thề của Pi-e Căm-brơ-meĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảHonoré de Balzac (1799 – 1850)
Năm mất1850
Xuất bản lần đầu1834
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Un drame au bord de la mer, Œuvres complètes de H. de Balzac, bản Wikisource tiếng Pháp
Giọng đọcBảo Trang — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →