Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Thành phố chịu thua

của O. Henry

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 13.321 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Rô-bớt Oam-xli đổ bộ xuống thành phố, và cuộc…
  2. 3:16Một hôm, A-li-xi-a tìm thấy một lá thư mẹ…
  3. 4:20Em sẽ tự viết thư cho mẹ, — A-li-xi-a…
  4. 5:28A-li-xi-a, mát lạnh giữa cái nóng mùa hè như…
  5. 7:37Đêm ấy, chào hỏi và ăn tối xong, cả…
  6. 9:29Đám nhà quê chậm chạp các người, anh xử…
  7. 10:59Sau đó cuộc vui lắng xuống. Họ chuyện trò…
  8. 12:12Em cứ ngỡ em đã lấy một quý ông,…

Rô-bớt Oam-xli đổ bộ xuống thành phố, và cuộc giằng co diễn ra quyết liệt như chuyện hai con mèo trong truyện cổ cắn xé nhau tới mức chỉ còn lại hai cái đuôi. Anh ra khỏi trận đánh với tư cách kẻ thắng, có cả một gia tài lẫn danh tiếng. Mặt khác, anh cũng bị thành phố nuốt chửng. Thành phố cho anh những gì anh đòi, rồi đóng lên người anh dấu sắt nung của nó. Nó sửa sang, cắt gọt, tỉa tót, rập anh theo đúng cái khuôn mà nó ưng. Nó mở cổng giới thượng lưu cho anh vào, rồi nhốt anh trên một bãi cỏ cắt xén phẳng phiu cùng bầy gia súc nhai lại được tuyển chọn. Từ cách ăn mặc, thói quen, phong thái, tính địa phương, nếp sinh hoạt cho tới sự hẹp hòi, anh đã có được cái vẻ xấc xược duyên dáng, cái sự hoàn hảo đến phát bực, cái thô thiển đã được tinh chế, cái điềm tĩnh thái quá, những thứ làm cho một quý ông Man-hát-tan nhỏ bé một cách thú vị trong chính sự vĩ đại của mình.

Một quận nông thôn ở miệt trên tự hào chỉ vào chàng luật sư trẻ thành đạt chốn đô hội như một sản vật của đất mình. Sáu năm trước, cũng quận này đã rút cọng rơm lúa mì khỏi hàm răng nhuộm tím nước quả việt quất, cười một tràng chế giễu kiểu nhà quê khi thằng "Bóp" mặt tàn nhang, con lão Oam-xli, bỏ ba bữa ăn chắc chắn mỗi ngày ở trang trại một ngựa để đi theo những quầy ăn vội lúc có lúc không của chốn đô thành ba vòng xiếc. Sáu năm sau, chẳng phiên toà án mạng nào, cuộc dạo chơi xe ngựa nào, vụ tai nạn ô-tô nào hay buổi khiêu vũ nào được coi là trọn vẹn nếu thiếu cái tên Rô-bớt Oam-xli. Thợ may chặn anh ngoài phố để học một nếp mới từ đường cắt của chiếc quần không một nếp nhăn. Những quý ông họ kép ở các câu lạc bộ, những người thuộc các dòng họ lâu đời nhất từng nhận trát hầu toà, đều vui lòng vỗ lưng anh và gọi anh gọn lỏn bằng ba chữ cái đầu tên.

Nhưng đỉnh Mát-tơ-hoóc của thành công đời Rô-bớt Oam-xli chưa được chinh phục cho tới khi anh cưới A-li-xi-a Van Đơ Pun. Tôi nói đỉnh Mát-tơ-hoóc, vì cô con gái của dòng thị dân lâu đời này cao vời, lạnh lùng, trắng muốt và khó với tới đúng như ngọn núi ấy. Những rặng An-pơ của giới thượng lưu chạy quanh cô, nơi cả nghìn người leo núi vật lộn qua những đèo heo hút, chỉ cao tới đầu gối cô. Cô sừng sững trong bầu không khí của riêng mình, thanh thản, trong trắng, kiêu kỳ. Cô không lội xuống đài phun nước trong tiệc tùng, không mở tiệc chiêu đãi khỉ, không nuôi chó đi thi. Cô là một Van Đơ Pun. Đài phun nước sinh ra là để phun cho cô ngắm. Khỉ sinh ra là để làm tổ tiên cho người khác. Còn chó, theo cô hiểu, được tạo ra để làm bạn với người mù và với những kẻ khó ưa hút tẩu.

Đó là đỉnh Mát-tơ-hoóc mà Rô-bớt Oam-xli đã chinh phục. Nếu anh có nhận ra, như nhà thơ tốt bụng chân khập khiễng tóc uốn quăn nhân tạo kia từng nói, rằng ai trèo lên đỉnh núi sẽ thấy những ngọn cao nhất bị mây và tuyết phủ kín nhất, thì anh cũng giấu những vết cước của mình sau một bề ngoài can đảm và tươi cười. Anh là người may mắn và anh biết thế, dù có khi anh giống như cậu bé thành Xpác-ta, chỉ khác là thứ giấu trong áo không phải con cáo mà là một thùng làm kem, ướp lạnh cả vùng quanh tim.

Sau một chuyến trăng mật ngắn ở nước ngoài, đôi vợ chồng trở về và tạo một gợn sóng rõ rệt trong cái bể nước phẳng lặng của giới thượng lưu, cái bể êm ả, mát lạnh và không chút ánh mặt trời. Họ mở tiệc tiếp khách trong ngôi nhà gạch đỏ, lăng mộ của một thời vàng son, ở một quảng trường cũ vốn là nghĩa địa của vinh quang tàn lụi. Rô-bớt Oam-xli tự hào về vợ, dù trong khi một tay bắt tay khách, tay kia anh vẫn nắm chặt cây gậy leo núi và cái nhiệt kế.

Một hôm, A-li-xi-a tìm thấy một lá thư mẹ Rô-bớt viết cho anh. Đó là một lá thư chân chất, đầy chuyện mùa màng, tình mẹ và việc đồng áng. Nó kể sức khoẻ của con lợn và con bê đỏ mới đẻ, rồi hỏi han sức khoẻ của Rô-bớt. Đó là lá thư đi thẳng từ đất, từ nhà, đầy tiểu sử của bầy ong, chuyện kể về củ cải, những khúc ca ngợi trứng mới đẻ, về cha mẹ bị lãng quên và giá táo khô đang rớt.

— Sao không bao giờ anh cho em xem thư mẹ anh? — A-li-xi-a hỏi.

Trong giọng cô lúc nào cũng có cái gì đó làm người ta nghĩ tới cặp kính cầm tay, tới những tài khoản ở hiệu kim hoàn sang trọng, tới những chiếc xe trượt tuyết êm êm lướt trên đường mòn xứ tuyết, tới tiếng leng keng của những lăng kính pha lê trên đèn chùm nhà bà nội, tới tuyết phủ trên mái tu viện, tới một viên trung sĩ cảnh sát từ chối cho tại ngoại.

— Mẹ anh, — A-li-xi-a nói tiếp, — mời chúng ta về chơi trang trại. Em chưa thấy trang trại bao giờ. Chúng ta sẽ về đó một hai tuần, Rô-bớt.

— Chúng ta sẽ về, — Rô-bớt nói, với vẻ trịnh trọng của một thẩm phán toà tối cao tán thành một phán quyết. — Anh không đưa lời mời cho em xem, vì anh nghĩ em chẳng thích đi. Em quyết định thế anh rất mừng.

— Em sẽ tự viết thư cho mẹ, — A-li-xi-a đáp, thoáng một chút hào hứng báo trước. — Phê-lít sẽ xếp va-li cho em ngay. Bảy chiếc chắc là đủ. Em đoán mẹ anh cũng không tiếp khách nhiều. Mẹ có hay mở tiệc ở nhà không anh?

Rô-bớt đứng dậy, và với tư cách luật sư cho chốn thôn quê, anh đệ đơn phản đối sáu trong bảy chiếc va-li. Anh cố định nghĩa, vẽ ra, làm sáng tỏ, trình bày và mô tả một trang trại. Chính lời của anh nghe lạ tai anh. Anh chưa từng nhận ra mình đã bị thành phố hoá triệt để đến thế.

Một tuần sau, họ xuống tàu ở ga xép nhỏ, cách thành phố năm giờ đi đường. Một thằng nhóc toe toét, giọng sang sảng, mồm mép châm chọc, đánh một con la kéo chiếc xe lò xo, gọi Rô-bớt như quát.

— Chào ông Oam-xli. Cuối cùng cũng tìm được đường về rồi hả? Tiếc là không mang ô-tô ra đón ông được, vì hôm nay bố đang dùng nó để cày mảnh cỏ ba lá mười mẫu rồi. Chắc ông bỏ qua cho việc tôi không mặc lễ phục ra đón nhé, chưa tới sáu giờ tối mà.

— Anh mừng được gặp em, Tôm, — Rô-bớt nói, nắm chặt tay em trai. — Ừ, cuối cùng anh cũng tìm được đường về. Em có quyền nói "cuối cùng". Từ lần về trước đã hơn hai năm rồi. Nhưng từ giờ anh sẽ về thường hơn, chú em ạ.

A-li-xi-a, mát lạnh giữa cái nóng mùa hè như một bóng ma Bắc Cực, trắng như nàng tiên tuyết xứ Bắc Âu trong chiếc áo vải mỏng và chiếc dù ren phấp phới, bước vòng qua góc nhà ga. Thế là Tôm mất sạch cái vẻ tự tin. Cậu chỉ còn là một đôi mắt khoác chiếc quần vải xanh, và trên đường về, cậu chỉ dám thổ lộ tâm sự bằng lời với mỗi con la.

Họ đánh xe về nhà. Mặt trời xuống thấp, đổ một dòng vàng hoang phí xuống những cánh đồng lúa mì may mắn. Thành phố đã ở thật xa. Con đường uốn lượn quanh rừng, quanh thung, quanh đồi, như dải ruy-băng tuột khỏi tà áo của mùa hè vô tư. Gió chạy theo như chú ngựa non hí vang theo dấu cỗ xe mặt trời.

Dần dần ngôi nhà trang trại màu xám ló ra khỏi lùm cây trung thành của nó. Họ thấy con đường làng dài, hai bên là hàng óc chó hộ tống, chạy từ đường lớn vào tận nhà. Họ ngửi thấy mùi hồng dại và hơi thở mát lạnh, ẩm ướt của hàng liễu dưới lòng suối. Rồi tất cả tiếng nói của đất cùng cất lên một khúc ca gửi đến tâm hồn Rô-bớt Oam-xli. Chúng vọng ra âm âm từ những lối đi nghiêng nghiêng của khu rừng mờ tối. Chúng rúc rích, vo ve trong đám cỏ khô. Chúng láy lên từ những gợn nước chỗ khúc suối cạn. Chúng bay lên như tiếng sáo trong trẻo từ những đồng cỏ đang tối dần. Lũ chim cú muỗi cũng góp giọng trong khi đuổi bắt muỗi mắt trên cao. Tiếng mõ bò chậm rãi đệm theo một điệu quê mùa. Và tất cả đều nói cùng một câu: "Cuối cùng cũng tìm được đường về rồi hả?"

Những tiếng nói cũ của đất nói với anh. Lá, nụ và hoa trò chuyện với anh bằng thứ ngôn ngữ của tuổi trẻ vô tư thuở trước. Những vật vô tri, những hòn đá quen, những thanh rào, những cánh cổng, luống cày, mái nhà và khúc quanh trên đường cũng có tiếng nói hùng hồn và sức mạnh biến đổi. Đồng quê đã mỉm cười, anh đã cảm thấy hơi thở của nó, và tim anh như bị kéo phăng trong một khoảnh khắc trở về với mối tình cũ. Thành phố đã ở thật xa.

Cơn hồi tổ đồng quê ấy chụp lấy Rô-bớt Oam-xli và nhập vào anh. Có một điều lạ anh nhận ra cùng lúc: A-li-xi-a ngồi ngay bên cạnh bỗng như một người xa lạ. Cô không thuộc về cái giai đoạn đang trở lại này. Chưa bao giờ cô có vẻ xa xôi, nhợt nhạt và cao vời đến thế, khó chạm tới và không thật đến thế. Vậy mà chưa bao giờ anh ngưỡng mộ cô bằng lúc cô ngồi bên anh trên chiếc xe lò xo ọp ẹp ấy, chẳng hoà hợp với tâm trạng anh và với cảnh vật quanh mình hơn đỉnh Mát-tơ-hoóc hoà hợp với vườn bắp cải của một nông dân.

Đêm ấy, chào hỏi và ăn tối xong, cả nhà, kể cả Bắp, con chó vàng, bày la liệt ra hàng hiên trước. A-li-xi-a không kiêu kỳ nhưng lặng lẽ, ngồi trong bóng tối, mặc chiếc áo dài trà xám nhạt tuyệt đẹp. Mẹ Rô-bớt vui vẻ giảng giải cho cô về mứt cam và bệnh đau lưng. Tôm ngồi ở bậc trên cùng. Hai cô em Mi-li và Pam ngồi bậc dưới cùng để bắt đom đóm. Mẹ ngồi chiếc ghế đu bằng liễu. Bố ngồi chiếc ghế bành to đã gãy một bên tay vịn. Con Bắp nằm dài giữa hiên, vướng chân tất cả mọi người. Những tiểu yêu, tiểu quỷ của hoàng hôn lặng lẽ kéo ra không ai thấy, cắm thêm những mũi tên kỷ niệm nhói buốt vào tim Rô-bớt. Một cơn điên đồng quê nhập vào hồn anh. Thành phố đã ở thật xa.

Bố ngồi đó không có tẩu, đôi ủng nặng làm ông vặn vẹo khổ sở, chịu hi sinh vì phép lịch sự cứng nhắc. Rô-bớt hét lên: "Không được thế đâu bố!" Anh đi lấy tẩu, châm lửa cho bố, rồi túm lấy đôi ủng của ông già mà giật ra. Chiếc thứ hai tuột bất ngờ, và ngài Rô-bớt Oam-xli ở quảng trường Oa-sinh-tơn ngã ngửa khỏi hiên, con Bắp đè lên trên tru tréo kinh khủng. Tôm cười mỉa.

Rô-bớt giật phăng áo khoác và áo gi-lê ném vào bụi tử đinh hương.

— Ra đây, thằng nhà quê! — anh gọi Tôm. — Anh sẽ gieo hạt cỏ lên lưng chú. Hình như lúc nãy chú gọi anh là "công tử bột" thì phải. Ra đây mà múa may coi.

Tôm hiểu lời mời và vui sướng nhận lời. Họ vật nhau ba keo trên bãi cỏ, kiểu ôm sườn, như mấy ông khổng lồ trên sàn đấu vật. Hai lần Tôm bị ngài luật sư lừng danh bắt gặm cỏ. Đầu tóc rối bù, thở hổn hển, đứa nào cũng còn khoe tài mình, hai anh em lảo đảo quay lại hiên. Mi-li buông một câu láu lỉnh về phẩm chất của ông anh thành phố. Chỉ trong nháy mắt, Rô-bớt đã tóm được một con châu chấu voi ghê ghê trong tay và xông tới. Cô bé hét toáng lên, chạy thục mạng ra đường làng, còn ông anh, kẻ vốn là tấm gương phong nhã của giới thượng lưu, đuổi sát sau để trả thù. Được bốn trăm mét, hai anh em quay về, cô em rối rít xin lỗi ngài "công tử bột" chiến thắng. Cơn điên đồng quê vẫn ám anh không hề nguôi.

— Đám nhà quê chậm chạp các người, anh xử gọn cả một chuồng bò! — anh khoác lác tuyên bố. — Mang hết chó dữ, người làm thuê với dân lăn gỗ ra đây!

Anh lộn mấy vòng chống tay trên bãi cỏ khiến Tôm phải buông lời mỉa mai vì ghen tị. Rồi anh hú lên một tiếng, chạy rầm rầm ra sau nhà, lôi về bác Ai-kơ, người làm già lâu năm của gia đình, cùng cây đàn băng-giô của bác. Anh rắc cát lên sàn hiên và nhảy điệu "Con gà trong thúng bánh", rồi làm những màn nhảy gõ gót thần sầu suốt nửa tiếng nữa. Anh làm những trò hoang dã, ầm ĩ không thể tin nổi. Anh hát, anh kể những chuyện khiến tất cả mọi người, trừ một người, cười ré lên. Anh đóng vai gã nhà quê, gã cày ruộng ngớ ngẩn khôi hài. Anh điên, điên vì cuộc sống ngày xưa đang hồi sinh trong máu.

Anh quá đà tới mức có lúc mẹ anh phải nhẹ nhàng nhắc nhở. Lúc ấy A-li-xi-a nhúc nhích như định nói gì, nhưng rồi cô không nói. Suốt cả buổi cô ngồi bất động, một linh hồn trắng mảnh mai trong bóng chiều, không ai dám hỏi, không ai đọc được.

Một lúc sau, cô xin phép lên phòng vì thấy mệt. Lúc đi, cô đi ngang Rô-bớt. Anh đang đứng ở cửa, một hình ảnh của hài kịch thô thiển, tóc rối bù, mặt đỏ gay, quần áo xộc xệch không thể tha thứ. Không còn chút dấu vết nào của một Rô-bớt Oam-xli chỉn chu, hội viên câu lạc bộ được săn đón, vật trang sức của các giới thượng lưu. Anh đang làm trò ảo thuật với mấy món đồ dùng trong nhà, và cả gia đình, giờ đã bị anh chinh phục không trừ một ai, đang nhìn anh say mê như tôn thờ.

Khi A-li-xi-a lách qua vào nhà, Rô-bớt chợt giật mình. Anh đã quên mất trong giây lát rằng có cô ở đây. Không liếc anh lấy một cái, cô đi thẳng lên lầu.

Sau đó cuộc vui lắng xuống. Họ chuyện trò thêm một tiếng, rồi Rô-bớt cũng lên lầu.

Khi anh bước vào phòng, cô đang đứng bên cửa sổ. Cô vẫn mặc nguyên bộ áo lúc ngồi ngoài hiên. Bên ngoài, sát rạt vào khung cửa sổ, là một cây táo khổng lồ đang nở hoa trắng xoá.

Rô-bớt thở dài, đi lại gần cửa sổ. Anh đã sẵn sàng đón nhận số phận. Một kẻ thô lậu đã tự thú, anh thấy trước bản án công lý trong hình hài người mặc áo trắng kia. Anh biết những ranh giới cứng nhắc mà một Van Đơ Pun sẽ vạch ra. Anh là gã nông dân nhảy nhót khiếm nhã dưới thung lũng, còn đỉnh Mát-tơ-hoóc tinh khiết, lạnh lùng, trắng muốt, không bao giờ tan băng kia không thể không cau mày nhìn anh. Chính hành động của anh đã lột mặt nạ anh. Tất cả nước bóng, vẻ điềm tĩnh, phong cách mà thành phố đã ban cho anh đã rơi khỏi người anh như tấm áo choàng không vừa, ngay từ làn gió quê đầu tiên. Anh thẫn thờ chờ lời kết án sắp tới.

— Rô-bớt, — giọng nói điềm tĩnh, lạnh lùng của quan toà cất lên, — em cứ ngỡ em đã lấy một quý ông.

Phải, nó đang tới. Vậy mà, ngay trước bản án, Rô-bớt Oam-xli lại đang háo hức ngắm một cành táo, cái cành mà ngày xưa anh vẫn trèo ra từ chính khung cửa sổ này. Anh tin bây giờ anh vẫn trèo được. Anh tự hỏi cây có bao nhiêu bông hoa, chục triệu chăng? Nhưng có người lại đang nói:

— Em cứ ngỡ em đã lấy một quý ông, — giọng nói tiếp tục, — nhưng...

Sao cô lại tới đứng sát bên anh thế này?

— Nhưng em thấy em đã lấy được, — có phải A-li-xi-a đang nói đấy không? — một thứ tốt hơn, một người đàn ông. Bóp, anh yêu, hôn em đi, được không anh?

Thành phố đã ở thật xa.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1908
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Defeat of the City, O. Henry, in trong tuyển tập The Voice of the City
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →