Chương 1: Đoàn kỵ mã giữa mùa tử đinh hương
Có tiếng vó ngựa gõ trên sàn gỗ; người ta dắt ra khỏi chuồng trước tiên con ngựa ô Bá tước Nu-lin, rồi đến con ngựa trắng Khổng Lồ, rồi đến em gái nó là con Mai-ca. Toàn là những con ngựa tuyệt hảo và đắt tiền. Ông già Sê-lét-xtốp thắng yên cho con Khổng Lồ rồi nói với cô con gái Ma-sa:
— Nào, cô Ma-ri-a Gốt-phroa, lên ngựa đi. Hấp!
Ma-sa Sê-lét-xtốp-va là con út trong nhà; cô đã mười tám tuổi, nhưng cả nhà vẫn chưa bỏ được thói coi cô là con bé, nên ai cũng gọi cô là Ma-nhi-a và Ma-niu-xi-a; còn từ khi trong thành phố có một gánh xiếc về diễn mà cô chăm chỉ đi xem, thì mọi người lại gọi cô là Ma-ri-a Gốt-phroa, theo tên cô nữ kỵ sĩ xiếc.
— Hấp! cô kêu lên, nhảy lên lưng con Khổng Lồ.
Chị cô là Va-ri-a lên con Mai-ca, Ni-ki-tin lên con Bá tước Nu-lin, các sĩ quan lên ngựa của mình, và đoàn kỵ mã dài, đẹp đẽ, lấp loá áo chẽn trắng của sĩ quan và áo cưỡi ngựa đen của các cô, thong thả kéo ra khỏi sân.
Ni-ki-tin để ý thấy khi mọi người lên ngựa rồi ra đến phố, chẳng hiểu sao Ma-niu-xi-a chỉ chú ý đến mỗi mình anh. Cô lo lắng nhìn anh và con Bá tước Nu-lin, rồi nói:
— Anh Xéc-gây Va-xi-li-ích, anh cứ ghìm hàm thiếc nó suốt nhé. Đừng để nó hoảng. Nó giả vờ đấy.
Và chẳng biết vì con Khổng Lồ của cô rất thân với con Bá tước Nu-lin, hay chỉ là tình cờ, mà cũng như hôm qua và hôm kia, cô cứ đi suốt bên cạnh Ni-ki-tin. Còn anh thì nhìn thân hình nhỏ nhắn, thon thả của cô ngồi trên con vật trắng kiêu hãnh, nhìn dáng nghiêng mảnh mai của cô, chiếc mũ ống cao chẳng hợp với cô chút nào và làm cô trông già hơn tuổi, anh nhìn mà vui sướng, cảm động, say mê, anh nghe cô nói, chẳng hiểu mấy, và nghĩ:
«Mình xin thề danh dự, xin thề có Chúa, rằng mình sẽ không rụt rè nữa, và ngay hôm nay sẽ tỏ tình với cô ấy…»
Đã hơn sáu giờ chiều, cái giờ mà hoa keo trắng và tử đinh hương thơm nồng đến nỗi tưởng như không khí và chính những cái cây cũng đông lại vì mùi hương của mình. Trong công viên thành phố nhạc đã cử. Vó ngựa gõ lanh canh trên mặt đường lát đá; khắp nơi vang lên tiếng cười, tiếng nói chuyện, tiếng cổng nhỏ đóng mở. Những người lính gặp trên đường giơ tay chào các sĩ quan, đám học sinh trung học cúi chào Ni-ki-tin; và rõ ràng tất cả những người đi dạo đang vội vã vào công viên nghe nhạc đều rất thích thú ngắm đoàn kỵ mã. Mà trời ấm áp làm sao, những đám mây rải rác lộn xộn trên trời trông mềm mại làm sao, những bóng cây dương và cây keo hiền hoà, ấm cúng làm sao, những cái bóng trải dài suốt cả con phố rộng và trùm lên những ngôi nhà bên kia đến tận ban công và tầng hai!
Ra khỏi thành phố, đoàn người cho ngựa chạy nước kiệu trên đường cái. Ở đây không còn mùi keo và tử đinh hương, không nghe tiếng nhạc nữa, nhưng bù lại có mùi đồng ruộng, lúa mạch đen và lúa mì non xanh mướt, chuột đồng kêu chí chí, quạ mỏ trắng kêu quang quác. Nhìn đâu cũng xanh, chỉ thỉnh thoảng sẫm đen những ruộng dưa, và xa xa bên trái, trong nghĩa trang, trắng một dải táo đang tàn hoa.
Họ đi qua lò mổ, rồi qua nhà máy bia, vượt qua một đám lính nhạc đang vội vã đến công viên ngoại thành.
— Ngựa của anh Pô-li-an-xki rất tốt, em không cãi, Ma-niu-xi-a nói với Ni-ki-tin, đưa mắt chỉ viên sĩ quan đang đi cạnh Va-ri-a. Nhưng nó có tật. Cái vết trắng ở chân trái thật chẳng ra làm sao, mà anh nhìn xem, nó hay hất đầu. Giờ thì chẳng cách gì chữa được nữa, nó sẽ hất đầu như thế cho tới lúc chết.
Ma-niu-xi-a mê ngựa chẳng kém gì bố. Cô khổ sở khi thấy ai có con ngựa tốt, và vui sướng khi tìm ra khuyết điểm ở ngựa nhà người khác. Còn Ni-ki-tin thì chẳng hiểu gì về ngựa, với anh ghìm ngựa bằng dây cương hay bằng hàm thiếc, chạy nước kiệu hay phi nước đại, hoàn toàn chẳng khác gì nhau; anh chỉ cảm thấy tư thế của mình gượng gạo, căng thẳng, và vì vậy các sĩ quan, những người biết ngồi trên yên, hẳn phải được Ma-niu-xi-a thích hơn anh. Và anh ghen với các sĩ quan.
Khi đi ngang qua công viên ngoại thành, có ai đó đề nghị ghé vào uống nước khoáng. Họ ghé vào. Trong công viên chỉ trồng toàn sồi; cây mới bắt đầu ra lá, nên qua đám lá non người ta thấy được cả công viên với sân khấu, những chiếc bàn nhỏ, những chiếc đu, thấy được cả những tổ quạ trông như những chiếc mũ to. Các kỵ sĩ và các cô xuống ngựa bên một chiếc bàn và gọi nước khoáng. Những người quen đang đi dạo trong công viên bắt đầu đến gần. Trong số đó có một ông bác sĩ quân y đi ủng cao và ông nhạc trưởng đang chờ các nhạc công của mình. Có lẽ ông bác sĩ tưởng Ni-ki-tin là sinh viên, nên hỏi:
— Anh về đây nghỉ hè phải không?
— Không, tôi sống ở đây luôn, Ni-ki-tin đáp. Tôi dạy ở trường trung học.
— Thật sao? ông bác sĩ ngạc nhiên. Trẻ thế mà đã đi dạy rồi à?
— Trẻ gì đâu? Tôi hai mươi sáu tuổi rồi… Tạ ơn Chúa.
— Anh có râu có ria cả rồi, nhưng nhìn bề ngoài thì không thể đoán quá hai hai, hai ba được. Anh trông trẻ quá!
«Thật quá quắt! Ni-ki-tin nghĩ. Đến ông này cũng coi mình là thằng miệng còn hơi sữa!»
Anh cực kỳ khó chịu khi có ai nhắc đến tuổi trẻ của anh, nhất là trước mặt phụ nữ hay học trò. Từ khi đến thành phố này và vào làm việc, anh bắt đầu căm ghét cái vẻ trẻ măng của mình. Học trò không sợ anh, các ông già gọi anh là anh bạn trẻ, phụ nữ thì thích nhảy với anh hơn là nghe những bài lý luận dài dòng của anh. Và anh sẵn sàng trả bất cứ giá nào để giờ đây già thêm mười tuổi.
Từ công viên, họ đi tiếp đến trang trại của nhà Sê-lét-xtốp. Ở đây họ dừng lại bên cổng, gọi vợ người quản lý là chị Pra-xcốp-i-a ra và đòi sữa mới vắt. Chẳng ai uống sữa cả, mọi người nhìn nhau, phá lên cười rồi phi ngựa trở về. Lúc quay về, trong công viên ngoại thành nhạc đã cử; mặt trời đã khuất sau nghĩa trang, và nửa bầu trời đỏ rực ráng chiều.
Ma-niu-xi-a lại đi cạnh Ni-ki-tin. Anh muốn nói với cô rằng anh yêu cô say đắm biết bao, nhưng sợ các sĩ quan và Va-ri-a nghe thấy, nên đành im lặng. Ma-niu-xi-a cũng im lặng, và anh cảm thấy vì sao cô im lặng, vì sao cô lại đi cạnh anh, và anh hạnh phúc đến nỗi mặt đất, bầu trời, những ánh đèn thành phố, cái bóng đen của nhà máy bia, tất cả trong mắt anh hoà thành một cái gì đó rất tốt đẹp và dịu dàng, và anh có cảm giác như con Bá tước Nu-lin của mình đang đi trên không trung và muốn leo lên bầu trời đỏ thắm.
Họ về đến nhà. Trên chiếc bàn trong vườn ấm xa-mô-va đã sôi, và ở một đầu bàn, ông già Sê-lét-xtốp ngồi cùng mấy người bạn, những viên chức toà án quận, và như thường lệ, đang chỉ trích một điều gì đó.
— Thật là hạ tiện! ông nói. Hạ tiện, chẳng có gì khác cả. Vâng ạ, hạ tiện ạ!
Từ khi yêu Ma-niu-xi-a, Ni-ki-tin thấy cái gì ở nhà Sê-lét-xtốp cũng dễ thương: cả ngôi nhà, khu vườn quanh nhà, buổi trà chiều, những chiếc ghế mây, bà vú già, và ngay cả cái chữ «hạ tiện» mà ông già hay thích nói. Chỉ có điều anh không thích là đống chó mèo nhiều quá, và mấy con bồ câu Ai Cập rầu rĩ rên rỉ trong cái lồng to ngoài hiên. Chó giữ nhà và chó cảnh nhiều đến nỗi suốt thời gian quen biết nhà Sê-lét-xtốp, anh chỉ học được cách nhận ra hai con: Mút-ca và Xôm. Mút-ca là một con chó nhỏ trụi lông, mõm xù, dữ dằn và được nuông chiều. Nó ghét Ni-ki-tin; lần nào thấy anh, nó cũng nghiêng đầu sang một bên, nhe răng ra và bắt đầu: «Grừ… nga-nga-nga-nga… grừ…»
Rồi nó ngồi xuống dưới gầm ghế. Còn khi anh định đuổi nó khỏi gầm ghế mình, nó sủa lên lanh lảnh, và chủ nhà bảo:
— Anh đừng sợ, nó không cắn đâu. Nó hiền lắm.
Còn Xôm là một con chó đen khổng lồ, chân dài, đuôi cứng như cây gậy. Trong bữa trưa và bữa trà, nó thường lặng lẽ đi lại dưới gầm bàn và quất đuôi vào ủng người ta và chân bàn. Đó là một con chó hiền lành và ngốc nghếch, nhưng Ni-ki-tin không chịu nổi nó vì nó có thói gác mõm lên đầu gối người đang ăn và làm bẩn quần người ta bằng nước dãi. Ni-ki-tin đã không ít lần thử lấy cán dao gõ vào cái trán to của nó, búng vào mũi nó, chửi mắng, phàn nàn, nhưng chẳng gì cứu được cái quần của anh khỏi những vết bẩn.
Sau buổi cưỡi ngựa, trà, mứt, bánh mì khô và bơ có vẻ rất ngon. Cốc đầu tiên mọi người uống rất ngon lành và im lặng, nhưng trước cốc thứ hai thì bắt đầu tranh cãi. Lần nào trong bữa trà và bữa trưa cũng là Va-ri-a khơi mào tranh cãi. Cô đã hai mươi ba tuổi, xinh xắn, đẹp hơn Ma-niu-xi-a, được coi là người thông minh nhất và có học nhất trong nhà, và cư xử đĩnh đạc, nghiêm nghị, như một cô con gái lớn đã thay chỗ người mẹ quá cố trong nhà. Với tư cách bà chủ, có khách cô vẫn mặc áo blu-dông ở nhà, gọi các sĩ quan bằng họ, coi Ma-niu-xi-a như con bé, và nói với em bằng giọng một bà giám thị lớp học. Cô tự gọi mình là gái già, nghĩa là cô tin chắc mình sẽ lấy chồng.
Bất cứ câu chuyện nào, kể cả chuyện thời tiết, cô cũng nhất định biến thành cuộc tranh cãi. Cô có một thứ đam mê nào đó: bắt bẻ từng chữ của mọi người, vạch ra chỗ mâu thuẫn, xoi mói từng câu nói. Bạn bắt đầu nói với cô chuyện gì đó, thì cô đã chằm chằm nhìn vào mặt bạn, và bỗng ngắt lời: «Khoan, khoan, anh Pê-tơ-rốp, hôm kia anh nói hoàn toàn ngược lại cơ mà!»
Hoặc cô mỉm cười giễu cợt và nói: «Này, tôi để ý thấy anh bắt đầu rao giảng những nguyên tắc của sở mật thám rồi đấy. Xin chúc mừng anh».
Nếu bạn nói một câu dí dỏm hay chơi chữ, lập tức bạn sẽ nghe thấy giọng cô: «Cũ rồi!» hoặc «Nhạt thếch!». Còn nếu sĩ quan nói đùa, thì cô nhăn mặt khinh bỉ và bảo: «Đùa kiểu nhà binh, rrrất là nhà binh!»
Và cái tiếng «rrr» ấy cô phát ra đầy uy lực đến nỗi con Mút-ca nhất định đáp lại từ gầm ghế: «Grừ… nga-nga-nga…»
Lần này, trong bữa trà, cuộc tranh cãi bắt đầu từ chuyện Ni-ki-tin nhắc đến các kỳ thi ở trường trung học.
— Khoan đã, anh Xéc-gây Va-xi-li-ích, Va-ri-a ngắt lời anh. Anh bảo là học trò khổ. Thế thì lỗi tại ai, cho phép tôi hỏi anh? Chẳng hạn, anh ra cho học trò lớp tám đề luận «Pu-skin, nhà tâm lý học». Một là, không được ra những đề khó như thế, và hai là, Pu-skin thì tâm lý học cái nỗi gì? Thôi thì Sê-đrin hay, cứ cho là, Đốt-xtôi-ép-xki thì còn được, chứ Pu-skin là một nhà thơ vĩ đại, có thế thôi.
— Sê-đrin là một chuyện, còn Pu-skin là chuyện khác, Ni-ki-tin đáp, giọng cau có.
— Tôi biết trường các anh không thừa nhận Sê-đrin, nhưng vấn đề không phải ở đó. Anh bảo tôi xem, Pu-skin là nhà tâm lý học cái nỗi gì?
— Thế không phải nhà tâm lý học à? Xin mời, tôi sẽ đưa ví dụ cho cô.
Và Ni-ki-tin ngâm mấy đoạn trong «Ô-nhê-ghin», rồi trong «Bô-rít Gô-đu-nốp».
— Tôi chẳng thấy tâm lý gì ở đây cả, Va-ri-a thở dài. Nhà tâm lý học là người miêu tả những khúc khuỷu của tâm hồn con người, còn đây là những câu thơ tuyệt đẹp, có thế thôi.
— Tôi biết cô cần thứ tâm lý nào rồi! Ni-ki-tin phật ý. Cô cần có ai đó lấy cưa cùn cưa ngón tay tôi và tôi gào lên khản cổ, cái đó, theo cô, mới là tâm lý.
— Nhạt thếch! Vậy mà anh vẫn chưa chứng minh được cho tôi: tại sao Pu-skin lại là nhà tâm lý học?
Mỗi khi Ni-ki-tin phải bác bỏ một điều gì mà anh cho là lối mòn, là hẹp hòi hay đại loại thế, thì anh thường bật dậy khỏi chỗ, đưa cả hai tay ôm lấy đầu và vừa rên vừa chạy từ góc này sang góc kia. Lần này cũng vậy: anh bật dậy, ôm đầu và rên rỉ đi một vòng quanh bàn, rồi ngồi xuống ở chỗ xa.
Các sĩ quan đứng ra bênh anh. Đại uý tham mưu Pô-li-an-xki bắt đầu cam đoan với Va-ri-a rằng Pu-skin quả thật là nhà tâm lý học, và để chứng minh, ông dẫn ra hai câu thơ của Léc-môn-tốp; trung uý Ghéc-nét nói rằng nếu Pu-skin không phải là nhà tâm lý học, thì người ta đã không dựng tượng ông ở Mát-xcơ-va.
— Thật là hạ tiện! từ đầu bàn bên kia vọng lại. Tôi cũng nói thẳng với ông tỉnh trưởng như thế: thưa ngài, thế này là hạ tiện!
— Tôi không cãi nữa! Ni-ki-tin hét lên. Chuyện này thì đến tận thế cũng chưa xong! Thôi đủ rồi! A, cút đi, cái con chó bẩn thỉu! anh quát con Xôm, con chó vừa gác đầu và một chân lên đầu gối anh.
«Grừ… nga-nga-nga…» vọng ra từ gầm ghế.
— Anh hãy thừa nhận là anh sai đi! Va-ri-a kêu lên. Thừa nhận đi!
Nhưng mấy cô khách đến, và cuộc tranh cãi tự nó chấm dứt. Mọi người kéo vào phòng lớn. Va-ri-a ngồi vào dương cầm và chơi nhạc khiêu vũ. Họ nhảy điệu van trước, rồi điệu pôn-ca, rồi điệu ca-đri với vòng tròn lớn mà đại uý Pô-li-an-xki dẫn đi khắp các phòng, rồi lại nhảy van.
Trong lúc khiêu vũ, những người lớn tuổi ngồi trong phòng lớn, hút thuốc và ngắm đám trẻ. Trong số họ có ông Sê-ban-đin, giám đốc hội tín dụng thành phố, nổi tiếng là người yêu văn chương và nghệ thuật sân khấu. Ông là người sáng lập ra «Câu lạc bộ Âm nhạc và Kịch nghệ» của địa phương, và chính ông cũng tham gia các buổi diễn, mà chẳng hiểu sao bao giờ cũng chỉ đóng những vai người hầu buồn cười hoặc ngâm nga bài «Người đàn bà tội lỗi». Trong thành phố người ta gọi ông là xác ướp, vì ông cao, rất gầy, gân guốc, mặt lúc nào cũng trang nghiêm, đôi mắt lờ đờ bất động. Ông yêu nghệ thuật sân khấu chân thành đến nỗi cạo cả râu lẫn ria, và điều đó càng làm ông giống xác ướp hơn nữa.
Sau điệu vòng tròn lớn, ông ngập ngừng, kiểu như đi nghiêng nghiêng, đến gần Ni-ki-tin, hắng giọng và nói:
— Tôi có hân hạnh được có mặt trong bữa trà lúc tranh cãi. Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của anh. Chúng ta là những người cùng chí hướng, và tôi rất muốn được trò chuyện với anh. Anh đã đọc «Kịch luận Hăm-buốc» của Lét-xinh chưa?
— Chưa, tôi chưa đọc.
Sê-ban-đin kinh hoàng, vung tay vung chân như bị bỏng ngón tay, rồi chẳng nói chẳng rằng, lùi xa khỏi Ni-ki-tin. Dáng điệu của Sê-ban-đin, câu hỏi và sự ngạc nhiên của ông khiến Ni-ki-tin thấy buồn cười, nhưng dù sao anh vẫn nghĩ:
«Thật ra cũng ngượng. Mình là thầy giáo dạy văn, mà đến giờ vẫn chưa đọc Lét-xinh. Phải đọc mới được».
Trước bữa tối, tất cả, già cũng như trẻ, ngồi chơi trò «số phận». Người ta lấy hai cỗ bài: một cỗ chia đều cho mọi người, cỗ kia đặt úp lên bàn.
— Ai có lá bài này trong tay, ông già Sê-lét-xtốp trịnh trọng bắt đầu, lật lá trên cùng của cỗ bài thứ hai, thì số phận người ấy là phải vào ngay phòng trẻ mà hôn bà vú.
Cái thú được hôn bà vú rơi vào phần ông Sê-ban-đin. Mọi người ùa đến vây quanh ông, dẫn ông vào phòng trẻ, và vừa cười vừa vỗ tay, bắt ông hôn bà vú. Ồn ào, la hét om sòm…
— Đừng say đắm thế! Sê-lét-xtốp hét lên, cười chảy cả nước mắt. Đừng say đắm thế!
Ni-ki-tin thì đến số phải nghe mọi người xưng tội. Anh ngồi lên ghế giữa phòng lớn. Người ta mang đến một chiếc khăn choàng và trùm kín đầu anh. Người đầu tiên đến xưng tội là Va-ri-a.
— Tôi biết tội của cô, Ni-ki-tin bắt đầu, nhìn dáng nghiêng nghiêm nghị của cô trong bóng tối. Thưa cô, cô hãy nói cho tôi biết, cớ sao ngày nào cô cũng đi dạo với anh Pô-li-an-xki? Ôi, chẳng phải vô cớ, chẳng phải vô cớ mà nàng đi với chàng kỵ binh!
— Nhạt thếch, Va-ri-a nói rồi bỏ đi.
Rồi dưới chiếc khăn choàng lấp lánh đôi mắt to bất động, hiện ra trong bóng tối một dáng nghiêng thân thương, và phảng phất một mùi gì đó quý giá, quen thuộc từ lâu, gợi cho Ni-ki-tin nhớ đến căn phòng của Ma-niu-xi-a.
— Cô Ma-ri-a Gốt-phroa, anh nói, và không nhận ra giọng mình nữa, nó dịu dàng và êm ái biết bao, cô có tội gì?
Ma-niu-xi-a nheo mắt lại và thè đầu lưỡi ra trêu anh, rồi bật cười và chạy đi. Một phút sau cô đã đứng giữa phòng lớn, vỗ tay và gọi to:
— Ăn tối thôi, ăn tối, ăn tối!
Và mọi người ùa vào phòng ăn.
Trong bữa tối Va-ri-a lại tranh cãi, lần này với bố. Pô-li-an-xki ăn uống đĩnh đạc, uống vang đỏ và kể cho Ni-ki-tin nghe chuyện có một lần vào mùa đông, đang ở ngoài trận, ông đã đứng suốt đêm trong đầm lầy, nước ngập đến đầu gối; quân địch ở gần, nên không được nói chuyện, không được hút thuốc, đêm lạnh và tối, gió rít buốt. Ni-ki-tin nghe và liếc nhìn Ma-niu-xi-a. Cô nhìn anh bất động, không chớp mắt, như đang mải nghĩ điều gì hay đang mơ màng… Với anh điều đó vừa dễ chịu vừa day dứt.
«Sao cô ấy lại nhìn mình như thế? anh khổ sở. Thế này ngượng lắm. Người ta có thể để ý. Chà, cô ấy còn trẻ quá, còn ngây thơ quá!»
Nửa đêm khách khứa bắt đầu ra về. Khi Ni-ki-tin ra khỏi cổng, trên tầng hai một ô cửa sổ đập mở, và Ma-niu-xi-a hiện ra.
— Anh Xéc-gây Va-xi-li-ích! cô gọi.
— Cô cần gì ạ?
— Thế này… Ma-niu-xi-a nói, rõ ràng đang nghĩ xem nên nói gì. Thế này… Anh Pô-li-an-xki hứa nay mai sẽ mang máy ảnh đến chụp cho cả nhà. Phải tụ tập đông đủ đấy.
— Được.
Ma-niu-xi-a biến mất, cửa sổ đóng sập lại, và lập tức trong nhà có ai đó chơi dương cầm.
«Ôi, cái nhà! Ni-ki-tin nghĩ, băng qua đường. Một ngôi nhà mà chỉ có mỗi mấy con bồ câu Ai Cập là rên rỉ, mà rên cũng chỉ vì chúng chẳng biết cách nào khác để bày tỏ niềm vui!»
Nhưng chẳng phải chỉ có nhà Sê-lét-xtốp là sống vui vẻ. Ni-ki-tin chưa đi được hai trăm bước, thì từ một ngôi nhà khác cũng vang lên tiếng dương cầm. Anh đi thêm một quãng, và thấy bên một cổng có một bác nông dân đang gảy đàn ba-la-lai-ca. Trong công viên dàn nhạc rền lên một liên khúc các bài dân ca Nga…
Ni-ki-tin sống cách nhà Sê-lét-xtốp nửa dặm, trong một căn hộ tám phòng mà anh thuê ba trăm rúp một năm cùng với một người đồng nghiệp, thầy giáo dạy địa lý và lịch sử I-pô-lít I-pô-li-tứt. Ông I-pô-lít I-pô-li-tứt này, một người chưa già, râu hung đỏ, mũi hếch, mặt hơi thô và chẳng có vẻ trí thức gì, như mặt một người thợ, nhưng hiền hậu, khi Ni-ki-tin về đến nhà thì đang ngồi bên bàn sửa bản đồ của học trò. Với ông, môn địa lý thì quan trọng và cần thiết nhất là vẽ bản đồ, còn môn lịch sử là thuộc niên đại; ông ngồi suốt đêm lấy bút chì xanh sửa bản đồ của các học trò nam nữ, hoặc lập những bảng niên đại nhỏ.
— Hôm nay trời đẹp tuyệt! Ni-ki-tin nói, bước vào phòng ông. Tôi lấy làm lạ là sao anh lại có thể ngồi trong phòng được.
I-pô-lít I-pô-li-tứt là người ít nói; ông hoặc im lặng, hoặc chỉ nói những điều ai cũng biết từ lâu. Lần này ông đáp thế này:
— Phải, trời đẹp lắm. Bây giờ là tháng Năm, sắp đến mùa hè thật sự rồi. Mà mùa hè thì không như mùa đông. Mùa đông phải đốt lò sưởi, còn mùa hè không có lò sưởi cũng ấm. Mùa hè ban đêm mở cửa sổ mà vẫn ấm, còn mùa đông thì cửa kính đôi mà vẫn lạnh.
Ni-ki-tin ngồi bên bàn chưa được một phút đã thấy chán.
— Chúc anh ngủ ngon! anh nói, đứng dậy và ngáp. Tôi định kể với anh một chuyện lãng mạn liên quan đến tôi, nhưng anh thì là môn địa lý mất rồi! Nói với anh về tình yêu, thì anh lập tức: «Trận sông Can-ca xảy ra năm nào?». Thôi quỷ tha ma bắt anh đi cùng với những trận đánh và những mũi đất Chu-cốt-ca của anh!
— Sao anh lại giận?
— Thì bực mình!
Và bực vì vẫn chưa tỏ tình được với Ma-niu-xi-a, mà bây giờ lại chẳng có ai để kể chuyện tình yêu của mình, anh đi vào phòng làm việc và nằm xuống đi văng. Trong phòng tối và yên tĩnh. Nằm nhìn vào bóng tối, chẳng hiểu sao Ni-ki-tin bắt đầu nghĩ đến chuyện hai ba năm nữa anh sẽ đi Pê-téc-bua vì việc gì đó, Ma-niu-xi-a sẽ tiễn anh ra ga và khóc; đến Pê-téc-bua anh sẽ nhận được một lá thư dài của cô, trong đó cô van anh mau mau trở về nhà. Và anh sẽ viết cho cô… Anh sẽ mở đầu lá thư thế này: con chuột cống yêu dấu của anh…
— Đúng rồi, con chuột cống yêu dấu của anh, anh nói thành tiếng và bật cười.
Anh nằm thấy không thoải mái. Anh gối hai tay dưới đầu và gác chân trái lên lưng đi văng. Thế là dễ chịu. Trong khi đó cửa sổ bắt đầu hửng sáng rõ rệt, ngoài sân lũ gà ngái ngủ gáy râm ran. Ni-ki-tin vẫn tiếp tục nghĩ đến chuyện anh từ Pê-téc-bua trở về, Ma-niu-xi-a đón anh ở ga, kêu lên vì sung sướng mà nhào vào ôm cổ anh; hoặc, hay hơn nữa, anh sẽ giở mẹo: về lặng lẽ lúc nửa đêm, chị bếp mở cửa cho anh, rồi anh nhón gót vào phòng ngủ, cởi quần áo không một tiếng động, và… tõm vào giường! Còn cô thì thức dậy, và… ôi, sung sướng làm sao!
Không khí đã trắng hẳn. Không còn căn phòng làm việc và cửa sổ nữa. Trên bậc thềm nhà máy bia, chính cái nhà máy hôm nay họ đi ngang qua, Ma-niu-xi-a ngồi đó, đang nói gì đó. Rồi cô khoác tay Ni-ki-tin và cùng anh đi vào công viên ngoại thành. Ở đây anh thấy những cây sồi và những tổ quạ trông như những chiếc mũ. Một cái tổ đung đưa, và ông Sê-ban-đin ló ra, nói toang lên: «Anh chưa đọc Lét-xinh!»
Ni-ki-tin giật nảy cả người và mở mắt ra. I-pô-lít I-pô-li-tứt đang đứng trước đi văng, ngửa đầu ra sau, thắt cà vạt.
— Dậy đi, đến giờ đi làm rồi, ông nói. Mà mặc nguyên quần áo thì không được ngủ. Như thế quần áo sẽ hỏng. Phải ngủ trên giường, cởi quần áo ra…
Và như thường lệ, ông bắt đầu nói dài dòng, rành rọt từng tiếng về những điều ai cũng biết từ lâu.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn