Có một lần, ông bác sĩ già Hai-đơ-gơ, một con người hết sức kỳ dị, mời bốn người bạn cao niên đến gặp mình trong phòng làm việc. Đó là ba ông già râu tóc bạc phơ, ông Mét-bon, đại tá Kin-li-grơ và ông Gát-xcôi, cùng một bà già khô héo tên là goá phụ Uy-chơ-li. Họ đều là những con người già nua u sầu, đã gặp bất hạnh trong đời, và bất hạnh lớn nhất của họ là lẽ ra đã nằm dưới mồ từ lâu rồi mà vẫn chưa.
Thời còn sung sức, ông Mét-bon từng là một nhà buôn phát đạt, nhưng đã mất sạch cơ nghiệp vì một vụ đầu cơ điên rồ, và nay chẳng hơn kẻ ăn mày là mấy. Đại tá Kin-li-grơ đã phung phí những năm tháng đẹp nhất đời mình, phung phí cả sức khoẻ lẫn của cải, để chạy theo những thú vui tội lỗi, và những thú vui ấy đã đẻ ra cả một bầy đau đớn, nào bệnh gút, nào đủ thứ dày vò khác của thể xác lẫn tâm hồn. Ông Gát-xcôi là một chính khách đã thân bại danh liệt, một kẻ mang tiếng xấu, hay ít ra cũng từng như thế, cho tới khi thời gian vùi ông vào quên lãng đối với thế hệ bây giờ, biến ông từ chỗ tai tiếng thành chỗ vô danh. Còn bà goá Uy-chơ-li, người ta kể rằng thời con gái bà là một người đẹp lừng danh. Nhưng đã từ lâu lắm, bà sống ẩn dật, vì mấy câu chuyện tai tiếng đã khiến giới thượng lưu trong thành phố có ác cảm với bà.
Có một điều đáng nói là cả ba ông già ấy, ông Mét-bon, đại tá Kin-li-grơ và ông Gát-xcôi, đều từng là người tình đầu của bà goá Uy-chơ-li, và đã có lần suýt cắt cổ nhau vì bà. Và trước khi kể tiếp, tôi chỉ xin nói khẽ rằng bác sĩ Hai-đơ-gơ cùng cả bốn người khách của ông đôi khi bị coi là hơi có vấn đề trong đầu, như vẫn thường thấy ở những người già khi phiền muộn vì những nỗi lo trước mắt hoặc những kỷ niệm đau buồn.
Bác sĩ Hai-đơ-gơ ra hiệu mời họ ngồi, rồi nói:
– Các bạn già thân mến của tôi ơi, tôi muốn nhờ các bạn giúp cho một trong những thí nghiệm nho nhỏ mà tôi vẫn tự làm cho vui ở đây, trong phòng làm việc của mình.
Nếu mọi câu chuyện đều là thật, thì phòng làm việc của bác sĩ Hai-đơ-gơ hẳn phải là một nơi hết sức kỳ lạ. Đó là một căn phòng cũ kỹ, tối mờ, giăng đầy mạng nhện và phủ lớp bụi cổ xưa. Quanh tường có mấy tủ sách bằng gỗ sồi. Những ngăn dưới chất đầy những hàng sách khổ to khổng lồ và những cuốn sách in chữ đen kiểu cổ, còn những ngăn trên là những cuốn sách nhỏ bọc da thuộc. Trên nóc tủ sách ở giữa là một bức tượng bán thân bằng đồng của Híp-pô-cờ-rát, ông tổ nghề y. Theo một số người, bác sĩ Hai-đơ-gơ vẫn thường hội chẩn với bức tượng ấy trong mọi ca bệnh khó. Trong góc tối nhất của căn phòng có một cái tủ gỗ sồi cao và hẹp, cửa khép hờ, bên trong lờ mờ hiện ra một bộ xương người. Giữa hai tủ sách có treo một tấm gương, mặt kính cao, bám bụi, trong một khung mạ vàng đã xỉn màu. Trong số rất nhiều chuyện lạ lùng người ta kể về tấm gương này, có lời đồn rằng hồn ma của tất cả những bệnh nhân đã chết của ông bác sĩ đều trú ngụ trong khung gương, và hễ ông nhìn về phía ấy là chúng lại trừng trừng nhìn thẳng vào mặt ông.
Phía tường đối diện được trang trí bằng bức chân dung toàn thân của một thiếu nữ, khoác vẻ lộng lẫy đã phai màu của lụa, xa tanh và gấm, với một khuôn mặt cũng phai nhạt như bộ áo của nàng. Hơn nửa thế kỷ trước, bác sĩ Hai-đơ-gơ đã suýt cưới thiếu nữ ấy. Nhưng nàng bị một chứng bệnh nhẹ, uống phải một đơn thuốc của chính người yêu kê, và chết đúng vào buổi tối đám cưới.
Còn phải kể đến vật kỳ lạ nhất trong căn phòng. Đó là một cuốn sách khổ lớn nặng trịch, đóng bìa da đen, có những chiếc khoá cài bằng bạc to bản. Gáy sách không có chữ nào, chẳng ai nói được tên cuốn sách. Nhưng ai cũng biết rõ đó là một cuốn sách phép thuật. Và có một lần, khi một cô hầu phòng chỉ nhấc nó lên để phủi bụi, bộ xương đã kêu lách cách trong tủ, cô thiếu nữ trong tranh đã đặt một bàn chân xuống sàn, mấy gương mặt ma quái đã ló ra từ trong gương, trong khi cái đầu bằng đồng của Híp-pô-cờ-rát cau mày nói: “Dừng tay!”
Phòng làm việc của bác sĩ Hai-đơ-gơ là như thế. Vào buổi chiều mùa hè trong câu chuyện của chúng ta, giữa phòng có một chiếc bàn tròn nhỏ đen như gỗ mun, trên đặt một chiếc bình pha lê chạm, dáng đẹp, chế tác công phu. Ánh nắng lọt qua cửa sổ, giữa hai bức rèm gấm đã bạc màu buông nặng nề, chiếu thẳng vào chiếc bình, khiến một thứ ánh sáng dịu dàng từ đó hắt lên những gương mặt xám như tro của năm người già ngồi quanh. Trên bàn còn có bốn chiếc ly uống sâm banh.
Bác sĩ Hai-đơ-gơ nhắc lại:
– Các bạn già thân mến của tôi ơi, tôi có thể trông vào các bạn giúp tôi làm một thí nghiệm vô cùng kỳ lạ không?
Phải nói rằng bác sĩ Hai-đơ-gơ là một ông già hết sức quái lạ, tính khí lập dị của ông đã thành cái lõi cho cả nghìn câu chuyện hoang đường. Một vài trong số những chuyện ấy, nói ra thì xấu hổ, có thể bắt nguồn từ chính cái con người chân thật là tôi đây. Và nếu có đoạn nào trong câu chuyện này làm lung lay lòng tin của bạn đọc, tôi đành chịu mang tiếng là kẻ bịa chuyện.
Khi bốn người khách nghe ông bác sĩ nói tới cái thí nghiệm ông định làm, họ chẳng chờ đợi điều gì kỳ diệu hơn việc giết một con chuột trong cái máy hút chân không, hay soi một mạng nhện dưới kính hiển vi, hay một trò vớ vẩn tương tự mà ông vẫn quen quấy rầy bạn bè thân thiết. Nhưng không đợi họ trả lời, bác sĩ Hai-đơ-gơ đã khập khiễng đi qua phòng, rồi quay lại với chính cuốn sách khổ lớn nặng trịch bìa da đen mà thiên hạ đồn là sách phép thuật. Ông mở những chiếc khoá bạc, giở sách ra, và từ giữa những trang in chữ đen, ông lấy ra một bông hồng, hay đúng hơn là cái từng là một bông hồng. Bởi giờ đây lá xanh và cánh đỏ thắm đã cùng chuyển sang một màu nâu xỉn, và bông hoa cổ xưa dường như sắp vụn ra thành bụi trong tay ông bác sĩ.
Bác sĩ Hai-đơ-gơ thở dài nói:
– Bông hồng này, chính bông hoa khô héo, mủn nát này, đã nở cách đây năm mươi lăm năm. Nó do Xin-vi-a Oa tặng tôi, người có bức chân dung treo đằng kia, và tôi đã định cài nó trên ngực trong ngày cưới của chúng tôi. Năm mươi lăm năm nay nó được nâng niu giữa những trang của cuốn sách cũ này. Bây giờ, các bạn có cho rằng bông hồng nửa thế kỷ này có thể nở lại được không?
Bà goá Uy-chơ-li hất đầu một cách cáu kỉnh, bảo:
– Vớ vẩn! Ông hỏi thế thì cũng chẳng khác gì hỏi xem gương mặt nhăn nheo của một bà già có thể tươi lại được không.
Bác sĩ Hai-đơ-gơ đáp:
– Xem đây!
Ông mở nắp chiếc bình, và thả bông hồng đã tàn vào thứ nước trong đó. Thoạt đầu nó nằm nhẹ tênh trên mặt nước, có vẻ chẳng thấm chút nước nào. Thế nhưng chẳng mấy chốc, một sự thay đổi lạ lùng bắt đầu hiện ra. Những cánh hoa dập nát và khô quắt khẽ động đậy, ửng dần lên một sắc đỏ thắm mỗi lúc một đậm, như thể bông hoa đang hồi sinh từ một giấc ngủ chết chóc. Cái cuống mảnh mai và mấy nhánh lá chuyển sang màu xanh. Và đó là bông hồng của nửa thế kỷ trước, trông tươi tắn như khi Xin-vi-a Oa lần đầu tặng nó cho người yêu. Nó còn chưa nở hết, vì vài cánh đỏ mỏng manh còn e ấp cuộn quanh nhuỵ ướt, trong đó lấp lánh hai ba giọt sương.
Bạn bè của ông bác sĩ nói, giọng hờ hững, vì họ từng thấy những phép lạ lớn hơn ở các buổi diễn ảo thuật:
– Đúng là một trò đánh lừa khá đẹp mắt. Xin hỏi, ông làm thế nào vậy?
Bác sĩ Hai-đơ-gơ hỏi:
– Các bạn chưa bao giờ nghe nói tới Suối Tuổi Trẻ sao? Cái suối mà nhà thám hiểm Tây Ban Nha Pôn-xơ đê Lê-ôn đã đi tìm cách đây hai ba thế kỷ ấy?
Bà goá Uy-chơ-li hỏi:
– Nhưng Pôn-xơ đê Lê-ôn có tìm thấy nó không?
Bác sĩ Hai-đơ-gơ đáp:
– Không. Vì ông ta chẳng bao giờ tìm đúng chỗ. Cái Suối Tuổi Trẻ lừng danh ấy, nếu tôi được báo tin đúng, nằm ở phía nam bán đảo Phlo-ri-đa, cách hồ Ma-ca-cô không xa. Nguồn suối được mấy cây mộc lan khổng lồ che bóng. Những cây ấy tuy đã không biết bao nhiêu thế kỷ tuổi, nhưng nhờ công hiệu của thứ nước kỳ diệu ấy mà vẫn tươi như những bông hoa tím. Một người quen của tôi, biết tôi tò mò về những chuyện như thế, đã gửi cho tôi thứ mà các bạn thấy trong chiếc bình này.
Đại tá Kin-li-grơ, người chẳng tin một lời nào trong câu chuyện của ông bác sĩ, e hèm một tiếng, hỏi:
– Thế thứ nước này có tác dụng gì đối với cơ thể con người?
Bác sĩ Hai-đơ-gơ đáp:
– Ông cứ tự mình phán đoán lấy, ông đại tá thân mến. Và tất cả các bạn, những người bạn đáng kính của tôi, cứ tự nhiên dùng thứ nước tuyệt diệu này, bao nhiêu cũng được, cho tới khi lấy lại được vẻ tươi trẻ thanh xuân. Riêng phần tôi, đã khổ sở lắm mới già được, nên tôi chẳng vội gì mà trẻ lại. Vậy xin phép các bạn, tôi chỉ ngồi xem thí nghiệm tiến triển thôi.
Trong lúc nói, bác sĩ Hai-đơ-gơ đã rót nước Suối Tuổi Trẻ vào bốn chiếc ly sâm banh. Thứ nước ấy hình như có chứa một thứ khí sủi tăm, vì những bọt nhỏ không ngừng sủi lên từ đáy ly và vỡ ra thành những tia bụi nước óng bạc trên mặt. Thấy thứ nước ấy toả ra một mùi thơm dễ chịu, những người già chẳng nghi ngờ rằng nó có tác dụng bồi bổ, làm khoan khoái. Tuy hoàn toàn không tin vào khả năng làm trẻ lại của nó, họ vẫn muốn uống ngay. Nhưng bác sĩ Hai-đơ-gơ xin họ chờ một lát.
Ông nói:
– Trước khi uống, những người bạn già đáng kính của tôi ơi, với kinh nghiệm cả một đời người để dẫn dắt, các bạn nên đặt ra vài nguyên tắc chung để tự hướng mình khi bước qua những hiểm nguy của tuổi trẻ thêm một lần nữa. Các bạn nghĩ mà xem, sẽ là tội lỗi và xấu hổ biết bao nếu với những lợi thế đặc biệt của mình, các bạn lại không trở thành tấm gương đức hạnh và khôn ngoan cho tất cả thanh niên thời nay!
Bốn người bạn đáng kính của ông bác sĩ chẳng đáp lại gì, chỉ cười một tràng yếu ớt và run rẩy. Bởi họ thấy cái ý nghĩ ấy thật quá lố bịch: đã biết sự hối hận bám sát gót sai lầm thế nào rồi, lẽ nào họ lại còn lạc lối lần nữa.
Ông bác sĩ cúi chào, bảo:
– Vậy thì uống đi. Tôi mừng là đã chọn được những đối tượng thí nghiệm thật xứng đáng.
Với những bàn tay run lẩy bẩy, họ nâng ly lên môi. Nếu thứ nước ấy thật sự có những công hiệu như bác sĩ Hai-đơ-gơ nói, thì chẳng thể đem nó cho bốn con người nào cần nó một cách thảm thương hơn. Trông họ như thể chưa bao giờ biết tuổi trẻ hay niềm vui là gì, như thể họ là con đẻ của một tạo hoá lẩm cẩm, và lúc nào cũng là những sinh vật xám xịt, lụ khụ, khô cằn, khốn khổ như lúc này, đang ngồi còng lưng quanh bàn ông bác sĩ, linh hồn lẫn thể xác chẳng còn đủ sức sống để phấn chấn lên dù trước viễn cảnh được trẻ lại. Họ uống cạn nước rồi đặt ly xuống bàn.
Chắc chắn là gần như ngay lập tức, dáng vẻ của cả nhóm khá lên trông thấy, chẳng khác gì vừa uống một ly rượu ngon, cùng với một luồng nắng vui tươi bất chợt bừng sáng trên mọi gương mặt. Trên má họ ửng lên một sắc hồng khoẻ khoắn, thay cho màu xám tro đã khiến họ trông như xác chết. Họ nhìn nhau, và tưởng như có một phép lạ nào đó đã thật sự bắt đầu xoá phẳng những dòng chữ sâu hoắm và buồn bã mà Thần Thời Gian đã khắc mãi trên trán họ. Bà goá Uy-chơ-li sửa lại cái mũ, vì bà cảm thấy mình gần như đã lại là một người đàn bà.
Họ háo hức kêu lên:
– Cho chúng tôi thêm thứ nước kỳ diệu này nữa đi! Chúng tôi trẻ hơn rồi, nhưng vẫn còn già quá. Nhanh lên! Cho chúng tôi thêm nữa!
Bác sĩ Hai-đơ-gơ ngồi theo dõi thí nghiệm với vẻ điềm tĩnh của một triết gia, bảo:
– Kiên nhẫn, kiên nhẫn chứ! Các bạn đã mất bao nhiêu thời gian để già đi. Chắc chắn các bạn có thể bằng lòng với việc trẻ lại trong vòng nửa giờ. Nhưng nước thì xin cứ tự nhiên.
Ông lại rót đầy ly cho họ thứ nước tuổi trẻ. Trong bình vẫn còn đủ để biến một nửa số người già trong thành phố trở về bằng tuổi cháu chắt của họ.
Bọt còn đang lấp lánh trên miệng ly thì bốn người khách đã chộp lấy ly trên bàn, nốc cạn một hơi. Có phải ảo giác không? Ngay khi ngụm nước còn đang trôi xuống cổ họng, dường như nó đã làm thay đổi toàn bộ cơ thể họ. Mắt họ trở nên trong và sáng. Một sắc tối sẫm lại giữa những mái tóc bạc. Ngồi quanh bàn giờ là ba người đàn ông đứng tuổi và một người đàn bà vừa mới qua thời xuân sắc đầy đặn nhất.
Đại tá Kin-li-grơ kêu lên:
– Bà goá thân mến của tôi ơi, trông bà thật quyến rũ!
Ông đã dán mắt vào mặt bà trong khi những bóng tối của tuổi già lướt khỏi gương mặt ấy, như bóng đêm tan khỏi ánh bình minh đỏ thắm.
Bà goá xinh đẹp biết từ xưa rằng những lời khen của đại tá Kin-li-grơ không phải lúc nào cũng đo bằng sự thật tỉnh táo. Vì thế bà đứng bật dậy, chạy đến trước gương, vẫn còn sợ rằng gương mặt xấu xí của một bà già sẽ hiện ra trước mắt mình.
Trong khi đó, ba người đàn ông cư xử theo cái cách chứng tỏ rằng nước Suối Tuổi Trẻ có chút công hiệu làm say. Trừ phi sự phấn chấn của họ chỉ là cơn choáng váng nhẹ nhõm vì bất thình lình được trút khỏi gánh nặng năm tháng. Đầu óc ông Gát-xcôi dường như đang mải chuyện chính trị, nhưng là chuyện quá khứ, hiện tại hay tương lai thì khó mà xác định, vì những ý tưởng và những câu nói ấy đã thịnh hành suốt năm mươi năm nay. Lúc thì ông oang oang tuôn ra những câu hùng hồn về lòng yêu nước, vinh quang dân tộc và quyền của nhân dân. Lúc thì ông lẩm bẩm một điều nguy hiểm gì đó bằng giọng thì thào ranh mãnh và mập mờ, thận trọng đến mức chính lương tâm ông cũng khó mà nghe được điều bí mật. Rồi lúc khác, ông lại nói bằng giọng chừng mực và hết sức cung kính, như thể có một vị vua đang lắng nghe những câu văn trau chuốt của mình. Suốt lúc ấy, đại tá Kin-li-grơ cứ nghêu ngao một bài hát uống rượu vui nhộn, gõ ly leng keng theo nhịp điệp khúc, mắt thì liếc về phía thân hình đầy đặn của bà goá Uy-chơ-li. Ở phía bên kia bàn, ông Mét-bon đang mải tính toán đô la và xu lẻ, trong đó lẫn lộn một cách kỳ quặc với một kế hoạch cung cấp băng cho xứ Đông Ấn bằng cách thắng một đàn cá voi vào những tảng băng trôi ở địa cực.
Còn bà goá Uy-chơ-li thì đứng trước gương, nhún mình chào và cười điệu với chính hình bóng của mình, chào hỏi nó như chào người bạn mà bà yêu quý hơn tất cả mọi thứ trên đời. Bà ghé sát mặt vào gương để xem một nếp nhăn hay một vết chân chim đã quen thuộc từ lâu có thật sự biến mất chưa. Bà xem xét kỹ xem tuyết trên tóc mình đã tan hết chưa, để có thể yên tâm vứt bỏ cái mũ đáng kính đi. Cuối cùng, bà nhanh nhẹn quay đi, bước gần như nhảy múa về phía bàn.
Bà kêu lên:
– Ông bác sĩ già thân mến của tôi ơi, làm ơn cho tôi thêm một ly nữa.
Ông bác sĩ chiều lòng đáp:
– Được chứ, thưa bà thân mến, được chứ. Bà xem! Tôi đã rót đầy các ly rồi đấy.
Quả thật, bốn chiếc ly đã đứng đó, đầy tới miệng thứ nước kỳ diệu, những tia bụi nước mỏng manh sủi lên trên mặt trông như ánh lấp lánh run rẩy của kim cương.
Giờ đây trời đã gần tới lúc mặt trời lặn, căn phòng tối hơn bao giờ hết. Nhưng một thứ ánh sáng dịu dàng như ánh trăng toả ra từ trong chiếc bình, rọi lên cả bốn người khách lẫn dáng hình đáng kính của ông bác sĩ. Ông ngồi trong một chiếc ghế bành gỗ sồi lưng cao chạm trổ công phu, với vẻ uy nghiêm bạc trắng có thể rất hợp với chính Thần Thời Gian, vị thần mà quyền năng chưa từng bị ai chống lại, trừ nhóm người may mắn này. Ngay cả khi đang nốc ngụm thứ ba của nước Suối Tuổi Trẻ, họ vẫn gần như sợ hãi trước vẻ mặt bí ẩn của ông. Nhưng ngay giây phút sau, một luồng sống trẻ trung làm phấn chấn lòng người vọt qua huyết quản họ. Giờ đây họ đang ở độ tuổi xuân hạnh phúc. Tuổi già, với cả đoàn tuỳ tùng khốn khổ gồm lo âu, buồn phiền và bệnh tật, chỉ còn được nhớ lại như nỗi phiền muộn của một giấc mơ mà họ đã vui vẻ tỉnh dậy. Cái vẻ tươi rói của tâm hồn, mất đi từ quá sớm, mà thiếu nó thì những cảnh đời nối tiếp nhau chỉ còn là một phòng tranh bạc màu, nay lại phủ phép mê hoặc lên mọi viễn cảnh trước mắt họ. Họ thấy mình như những sinh vật vừa được tạo ra trong một vũ trụ vừa được tạo ra.
Họ reo lên, hân hoan:
– Chúng ta trẻ rồi! Chúng ta trẻ rồi!
Tuổi trẻ, cũng như tuổi già cùng cực, đã xoá đi những nét tính cách rõ rệt của tuổi trung niên, khiến tất cả họ trở nên giống nhau. Họ là một nhóm thanh niên vui vẻ, gần như phát cuồng vì cái tính nghịch ngợm tràn trề của tuổi mình. Hiệu ứng lạ lùng nhất của niềm vui ấy là một thôi thúc muốn chế giễu sự ốm yếu, lụ khụ mà chính họ vừa mới là nạn nhân. Họ cười ầm lên vì bộ quần áo lỗi thời của mình, những chiếc áo khoác vạt rộng và áo gi lê có nắp túi của các chàng trai, cái mũ và chiếc áo dài cổ lỗ của cô gái đang độ xuân thì. Một người đi khập khiễng qua sàn nhà như một ông nội bị bệnh gút. Một người đeo cặp kính lên mũi, làm bộ nghiền ngẫm những trang chữ đen của cuốn sách phép thuật. Người thứ ba ngồi vào chiếc ghế bành, cố bắt chước vẻ uy nghiêm đáng kính của bác sĩ Hai-đơ-gơ. Rồi tất cả hò hét vui vẻ, nhảy nhót khắp phòng.
Bà goá Uy-chơ-li, nếu một thiếu nữ tươi tắn như thế còn có thể gọi là bà goá, nhẹ nhàng bước đến bên ghế ông bác sĩ, gương mặt hồng hào ánh lên vẻ tinh nghịch.
Nàng kêu lên:
– Ông bác sĩ ơi, ông già thân yêu ơi, đứng dậy nhảy với tôi đi!
Thế là bốn người trẻ cười to hơn bao giờ hết khi nghĩ tới cái dáng kỳ cục của ông bác sĩ già tội nghiệp.
Ông bác sĩ điềm tĩnh đáp:
– Xin thứ lỗi cho tôi. Tôi già rồi, lại bị thấp khớp, những ngày khiêu vũ của tôi đã qua từ lâu. Nhưng bất cứ ai trong mấy chàng trai vui tính này cũng sẽ vui mừng có được một bạn nhảy xinh đẹp như thế.
Đại tá Kin-li-grơ kêu lên:
– Nhảy với tôi đi, Cờ-la-ra!
Ông Gát-xcôi hét lên:
– Không, không! Tôi sẽ là bạn nhảy của nàng!
Ông Mét-bon kêu lên:
– Nàng đã hứa trao tay cho tôi từ năm mươi năm trước!
Họ xúm cả quanh nàng. Một người nắm chặt hai tay nàng một cách say đắm. Một người quàng tay ôm eo nàng. Người thứ ba vùi bàn tay vào những lọn tóc quăn óng ả lấp ló dưới cái mũ bà goá. Đỏ mặt, hổn hển, vùng vẫy, trách móc, cười đùa, hơi thở ấm áp của nàng lần lượt phả vào mặt từng người, nàng cố gỡ mình ra, vậy mà vẫn nằm trong vòng tay của cả ba. Chưa bao giờ có một bức tranh sống động hơn về cuộc ganh đua của tuổi trẻ, với phần thưởng là một sắc đẹp mê hồn. Thế nhưng, do một sự đánh lừa kỳ lạ, vì căn phòng tối mờ và vì những bộ quần áo cổ họ vẫn còn mặc, người ta kể rằng tấm gương cao đã phản chiếu hình ảnh ba ông cụ già nua, tóc bạc, khô héo đang tranh giành nhau một cách lố bịch một bà cụ già quắt queo, xấu xí, chỉ còn da bọc xương. Nhưng họ trẻ, những đam mê bỏng cháy của họ chứng tỏ điều ấy.
Bị cô gái goá bụa lẳng lơ, chẳng chịu ban ơn mà cũng chẳng hẳn từ chối, làm cho phát điên lên, ba kẻ tình địch bắt đầu nhìn nhau đầy đe doạ. Vẫn giữ chặt lấy phần thưởng xinh đẹp, họ hung hăng túm lấy cổ họng nhau. Trong lúc họ vật lộn qua lại, chiếc bàn bị lật đổ, và chiếc bình vỡ tan thành nghìn mảnh. Thứ Nước Tuổi Trẻ quý giá chảy thành một dòng lấp lánh trên sàn, thấm ướt đôi cánh một con bướm đã già đi lúc hè tàn, đang đậu ở đó để chết. Con bướm khẽ bay qua căn phòng, rồi đậu xuống mái đầu bạc trắng như tuyết của bác sĩ Hai-đơ-gơ.
Ông bác sĩ kêu lên:
– Thôi nào, thôi nào, các quý ông! Thôi nào, bà Uy-chơ-li! Tôi thật sự phải phản đối cái cảnh náo loạn này.
Họ đứng sững lại, rùng mình. Bởi dường như Thần Thời Gian bạc trắng đang gọi họ ra khỏi tuổi trẻ đầy nắng, trở về tít xuống thung lũng năm tháng lạnh lẽo và tăm tối. Họ nhìn bác sĩ Hai-đơ-gơ già, đang ngồi trong chiếc ghế bành chạm trổ, tay cầm bông hồng nửa thế kỷ mà ông đã nhặt ra từ giữa những mảnh bình vỡ. Theo một cử chỉ của tay ông, bốn kẻ gây náo loạn ngồi xuống chỗ cũ, càng sẵn lòng hơn vì những cố gắng mãnh liệt vừa rồi đã làm họ mệt, dù họ đang trẻ.
Bác sĩ Hai-đơ-gơ thốt lên, giơ bông hoa lên trong ánh sáng của những đám mây hoàng hôn:
– Bông hồng của Xin-vi-a tội nghiệp của tôi! Hình như nó lại đang tàn đi.
Quả đúng như vậy. Ngay trong khi cả nhóm đang nhìn, bông hoa cứ tiếp tục héo quắt lại, cho tới khi nó trở nên khô và mong manh như lúc ông bác sĩ mới thả nó vào bình. Ông rũ đi mấy giọt nước còn bám trên cánh hoa.
Ông nói, ép bông hồng khô héo lên đôi môi khô héo của mình:
– Tôi yêu nó như thế này cũng như khi nó còn tươi rói đẫm sương.
Trong lúc ông nói, con bướm rời mái đầu bạc như tuyết của ông bác sĩ, rơi xuống sàn. Những người khách của ông lại rùng mình. Một sự trì độn kỳ lạ, chẳng biết của thể xác hay của tâm hồn, đang dần dần len lỏi vào tất cả bọn họ. Họ nhìn nhau, và tưởng như mỗi khoảnh khắc trôi qua lại cướp đi một nét duyên và để lại một nếp nhăn mỗi lúc một sâu ở chỗ trước đó chưa hề có. Có phải ảo giác không? Phải chăng những đổi thay của cả một đời người đã dồn vào một khoảng thời gian ngắn ngủi đến thế, và giờ đây họ lại là bốn người già đang ngồi với người bạn cũ là bác sĩ Hai-đơ-gơ?
Họ rầu rĩ kêu lên:
– Chúng ta lại già đi nhanh thế sao?
Quả thật là như thế. Nước Tuổi Trẻ chỉ có một công hiệu còn chóng qua hơn cả rượu. Cơn mê sảng mà nó gây ra đã sủi bọt bay đi hết. Phải, họ lại già rồi. Với một cử chỉ rùng mình cho thấy bà vẫn còn là đàn bà, bà goá đưa đôi bàn tay khẳng khiu che mặt, mong sao nắp quan tài đậy lên nó, vì nó không còn đẹp được nữa.
Bác sĩ Hai-đơ-gơ nói:
– Phải, các bạn ơi, các bạn lại già rồi. Và kìa, Nước Tuổi Trẻ đã đổ hết xuống đất. Thôi, tôi chẳng tiếc nó. Bởi vì dù con suối có phun ngay trước bậc cửa nhà tôi, tôi cũng sẽ không cúi xuống mà nhúng môi vào. Không, dù cơn mê sảng của nó có kéo dài hàng năm trời chứ không phải chỉ trong chốc lát. Đó là bài học các bạn đã dạy tôi.
Nhưng bốn người bạn của ông bác sĩ thì chẳng tự dạy mình bài học nào như thế. Họ quyết định ngay lập tức sẽ hành hương sang Phlo-ri-đa, và uống nước Suối Tuổi Trẻ vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn