Chương 5: Phần thứ nhất – Chương V
Ô-tô ông Huyện! Ô-tô ông Huyện chưa về đến nhà, cả làng Giáp đã biết. Cái tin ấy đã theo tiếng còi điện mà lan rộng mãi ra, mà bay vào các xóm, các ngõ một cách rất mau chóng.
“A ha! Ô-tô ông Huyện!”
Người ta nói ông Huyện để khỏi lẫn với quan Huyện cai trị mà người ta sợ hãi. Cũng có người phân biệt bằng cách xưng hô sang trọng hơn: “quan Huyện nhà” hay thân mật hơn: “ông Huyện Bỉnh”. Những người ấy phần nhiều đều là chú, bác, cô, cậu, thím dì, trong họ nội, họ ngoại xa gần của Bỉnh.
— Bà Hai, bà Ba ơi! Các ông ấy đã về đấy, các ông cùng về ô-tô với ông Huyện.
Nghe tiếng réo ở cổng, vợ Trình ngơ ngác bảo vợ Khoa:
— Bậy! Mới đi hôm qua đã về sao được!
Vợ Khoa cười, đáp:
— Vâng, sớm lắm thì cũng một tuần lễ.
Rồi nàng quay bảo người ngồi cánh trên:
— Có ăn không thì bốc?
Vì lúc bấy giờ hai chị em dâu đương đánh chắn với ba người láng giềng: bác lý Nghiên, bác phó Tới và chị xã Phiệt. Ruộng phần nhiều cho cấy rẽ, nên hai người đàn bà rất nhàn thường họp bàn chắn, tam cúc hay tổ tôm còm cho đỡ buồn, nhất những khi hai người đàn ông vắng nhà.
Cũng như chồng họ, hai người đàn bà luôn luôn vui vẻ hòa thuận với nhau. Trong họ ngoài làng người ta đều khen:
“Hai bà ấy coi nhau y như chị em ruột vậy!”
Song, trái với tình yêu mến thành thực, kín đáo và tự nhiên của Trình và Khoa, sự thân thiết của hai người đàn bà thường ngượng ngập, ầm ỹ và kiểu cách. Hình như họ phải cố gắng mới tỏ được với nhau những tính tình tốt đẹp.
Sự thực, trong thâm tâm họ vẫn ngấm ngầm âm ỉ sự tức tối và sự khinh nhờn, sinh ra bởi giai cấp khác nhau: hai tính tình ấy không bùng lên, không lộ ra cho mọi người trông thấy được là vì bị một tính tình khác mãnh liệt hơn lấn áp: sự thù ghét bà Ba. Hai người chồng đối với bà Ba chỉ lãnh đạm, — có lẽ phải cố làm ra thế để người làng khỏi chê rằng mình nhỏ nhen, tẹp nhẹp như đàn bà. Nhưng Tính và Chuyên, hai người vợ, thì thù ghét ra mặt, thù ghét bằng cách xử trí có khi tàn nhẫn, bằng lời nói có khi lỗ mãng trong những câu chuyện bắn tin.
Họ không thù ghét sao được! Tính trong sáu năm và Chuyên trong ba năm làm dâu, thời ông án còn tại chức, đã bị người đàn bà ấy dựa thế cha chồng hạch sách, hành hạ đủ điều. Ngày nay nghĩ đến hai tiếng “mẹ kế” mà người ấy thường nêu ra trong câu chuyện với bà con, hai chị em vẫn còn muốn lộn tiết văng tục ra. “Đấy bà coi, đối với tôi là mẹ kế chồng các mợ ấy, các mợ ấy còn xử thế đấy” “Thực tôi chỉ là mẹ kế các cậu ấy mà tôi ăn ở chẳng khác gì một người mẹ đẻ”. Đáp lại những câu nói đổng, bao giờ, ở trong phòng bên, Tính cũng khúc khích cười bảo Chuyên: “Mẹ ranh!” Còn Chuyên thì tức uất, nghẹn ngào như sắp tắt thở.
Nàng chịu làm sao nổi cái cảnh làm dâu “quái gở” ấy! Thà rằng là mẹ chồng nàng cho cam! Chứ cái con người chưa tới bốn chục tuổi kia mà cũng đòi làm mẹ nàng ư! Mà cũng chảnh lỏn, cũng tai ngược, hách dịch với nàng sao! Nàng là con quan, con một quan phủ, con gái yêu một bậc mệnh phụ, chẳng lẽ lại cúi mình đi hầu hạ một người đàn bà ít tuổi và không rõ “sản xuất” ở nơi tối tăm hèn hạ nào!
Luôn luôn nàng bực tức nghĩ thế. Nhưng nếu đương vui vẻ trò chuyện ở trong buồng mà nghe tiếng dép lẹp kẹp của người đàn bà bước vào thì cũng như Tính, nàng thin thít im ngay, cái im lặng rụt rè và sợ hãi. Hơn thế, nếu người kia có thớ lợ bảo: “mợ Ba hay chị Ba làm ơn têm cho me mấy miếng giầu” thì chẳng lần nào nàng dám lườm nguýt hoặc nói lại một câu bóng gió mỉa mai. Họa chăng lúc người vợ lẽ ra nhà ngoài ngồi vắt vẻo trên sập đối diện với cha chồng, nàng mới dám bĩu dài môi dưới ra mà thì thầm: “Me gì, me tây ấy à?” Tính nghe thấy nhét khăn vào miệng, cười chảy nước mắt.
Tính dễ dãi hơn, và trước khi Chuyên về làm dâu, nàng không nhận thấy rõ rệt cái cảnh éo le đau đớn của mình. Chẳng qua có Chuyên xui xiểm, và vạch ra cho nàng, nàng mới biết đường mà kình địch lại người vợ lẽ, một lối kình địch nhút nhát trong xó tối.
Là vì nàng không sinh trưởng ở nơi quyền quý như Chuyên. Gia đình nàng chỉ là một gia đình cự phú xứ quê, đã mấy đời quen tòng phục các quan. Mỗi lần ông hàn sinh ra nàng đến chơi thăm bên thông gia là một lần ông ta làm cho Chuyên bực bội: Ông ta khúm núm trước mặt ông án và người đàn bà, một điều bẩm hai cụ lớn, hai điều bẩm hai cụ lớn, rồi xưng con xưng cái một cách rất tự nhiên, không chút ngượng ngùng. Chuyên cho đó là một sự nhục nhã, nhục nhã không những riêng đối với một mình Tính mà đối với chung tất cả mấy chị em dâu. Chuyên cự Tính chẳng thiếu lời, nhưng Tính chỉ thở dài đáp lại: “Thím bảo tôi biết làm thế nào? Ông cụ nhà tôi hiền lành quá, kia!” Chuyên cáu kỉnh gắt: “Chị coi cụ cử sinh ra chị Bỉnh, cụ hách biết bao! Chững chạc biết bao!”
Tuy nàng tức thì nàng nói thế để bỉ ông hàn mà thôi, chứ trong thâm tâm, nàng vẫn hiểu rõ rằng cụ cử Lương cũng như con gái cụ, ở vào một trường hợp khác hẳn. Đối với Trâm, vợ Bỉnh, không bao giờ người vợ lẽ dám xưng “me” và dám cư xử ra một bậc kế mẫu. Nàng cho rằng — và nàng chẳng hề giấu diếm ai điều ấy — Bỉnh là con bà cả thì địa vị của Bỉnh cũng như địa vị của mẹ Bỉnh đã rõ rệt lắm rồi. Còn như bà Hai mất đi đối với nàng cũng là vợ thứ, hơn kém gì nhau! Chẳng qua lấy trước là bà Hai, mà nàng lấy sau là bà Ba. Vậy con bà Hai tức cũng là con nàng và cái địa vị kế mẫu của nàng là riêng đối với bọn họ.
Bà Ba lý luận như thế cho xuôi câu chuyện gia đình hơi rắc rối. Kỳ thực, sự đối đãi phân biệt của nàng chỉ rõ rệt từ khi nàng thấy Bỉnh thi đậu vào trường Đại học giữa lúc Trình và Khoa, vì lười biếng, chơi bời, bỏ học về ở nhà. Một đằng có thể xuất chính nay mai và sống riêng một đời tự lập cao sang. Một đằng ở nhà ăn bám cha và đương hy vọng được cha cấp vốn ra kinh doanh công kia việc nọ. Cái mầm khinh, trọng khác nhau mọc rễ mỗi ngày một sâu trong óc người đàn bà thông minh và khéo biết xoay liệu thời cơ.
Nhưng không phải vì thế mà bà Ba mất hẳn sức đàn áp đối với vợ chồng Bỉnh. Một lần vì một câu chuyện lôi thôi trong gia đình, Bỉnh viết thư về cho nàng, khuyên nàng nên “vừa vừa chứ”. Tức thì mấy hôm sau Bỉnh nhận được thư trả lời của cha, trong đó cha nhắn tin cho “tên Bỉnh” biết rằng “tên ấy” là một thằng khốn nạn. Lúc bấy giờ Bỉnh đang làm tham tá ở Ninh Bình. Chàng xin phép nghỉ hai ngày về thăm nhà. Trình và Khoa khóc mếu thuật lại cho chàng nghe mọi điều ức hiếp và lăng loàn của người dì ghẻ. Chàng đi thẳng xuống tư thất trỏ vào mặt người đàn bà mà mắng nhiếc. Hai bên đôi co nhau làm cho ông án đương ngủ trưa chợt thức giấc giữa những tiếng kêu trời của vợ lẽ.
Bị cha chửi, Bỉnh bỏ đi Ninh Bình. Và ngay hôm sau chàng nhận được mấy hàng vắn tắt sau này của cha: “Mày dám đánh vợ tao, vậy từ nay tao cấm cửa, không cho mày lai vãng tới nhà tao. Tao từ mày, không cha con gì nữa”.
Nhưng chỉ hai tuần sau Bỉnh đã được cha tha lỗi, gọi về chơi. Đó là công trình của người vợ lẽ. Bà Ba biết rằng gây thù, gây oán với “anh tham” không có lợi gì cho mình. Và từ đó nàng cũng đỡ ức chế vợ chồng Trình và vợ chồng Khoa…
Thế rồi trong cái gia đình buồn tẻ, hai lần có sự biến đổi: ông án về hưu trí và bảy năm sau ông qua đời. Trong bảy năm ở nhà quê, Trình và Khoa sống bình tĩnh và tự do hơn; vì ông án đã chia ruộng, chia của cho hai người, để ở riêng với vợ lẽ trong một dinh cơ khác xóm với chỗ ở của hai con.
Cái chết của ông án là một dịp thứ nhất để đôi bên trả thù nhau. Chuyên khóc: “Hờ cha ơi, cha đi đâu cha bỏ các con. Bao nhiêu đứa nấp dưới bóng cha mà được người ta kính trọng vì nể, nay cha trăm tuổi rồi thì bọn họ thực là khổ sở, khốn nạn”.
Người vợ lẽ mỉm cười khinh bỉ trong cái mấn sô, rồi khóc đáp lại liền: “Quan lớn ơi, quan lớn đi đâu quan lớn bỏ đàn con dại cho tôi. Quan lớn ơi quan lớn đi thì sướng lấy một mình, nhưng lũ con quan lớn bồ côi, nheo nhóc, quan lớn để lại cho tôi nuôi tôi dạy một mình, cực nhục lắm quan lớn ơi!”
Bỉnh thẳng thắn đến ghé tai dì ghẻ bảo nhỏ: “Cô khóc thế không được!” Người đàn bà lại nức nở:
— Hờ quan lớn ơi, cực nhục cho tôi chưa, quan lớn nằm xuống tôi đau đớn tôi khóc thì con quan lớn cấm tôi, không cho tôi khóc, hờ quan lớn ơi!
Thế là cuộc chiến tranh bắt đầu.
Và gay go tới tận ngày nay.
Nhưng ngày nay sao lại có bức thơ của người đàn bà gửi lên huyện cho Bỉnh, một bức thư lời lẽ rất ôn tồn êm thắm. Một bức thư hàng hay một bức thư khiêu chiến?
Trình và Khoa không khỏi băn khoăn về điều đó. Tuy không ai thú nhận với ai, cả hai cùng không dám bạo dạn nói thẳng ý nghĩ của mình với Bỉnh.
Ô-tô qua cổng vào sân. Tính và Chuyên xóa bàn chắn chạy ra chào và hoảng hốt hỏi chồng xem có việc gì cần mà về vội thế, nhất lại cùng về với anh Huyện. Mãi lúc ấy Khoa mới buột miệng thổ lộ tâm sự của mình ra:
— Về để đối phó với “troisième”.
Và chàng giựt mình nghĩ thầm:
— Vậy ra khai chiến?
Tính sợ hãi:
— Đối phó việc gì thế?
Bỉnh mỉm cười:
— Đối phó một việc rất quan trọng: cô ta mời ba anh em sang dự tiệc.
Chuyên vội kêu:
— Ấy chết! Đừng nhận nhời!
Bỉnh vẫn mỉm cười.
— Chừng thím sợ cô ta đánh thuốc độc giết chết cả ba anh em?
Chuyên hơi ngượng, đáp:
— Đánh thuốc độc thì chả dám đâu. Nhưng sang ăn cơm nhà cô ta thì không tiện một tí nào.
Trình cười:
— Sao không tiện? Rồi các bà lại làm một bữa tiệc sang, sang hơn mời lại chứ sao!
Khoa nghĩ ngay tới thực hiện:
— Tiệc tùng gì chả biết, mợ hãy làm ngay một mâm cơm, chẳng đói lắm rồi. Dễ hơn mười một giờ rồi đấy.
— Ồ nhỉ!
Thế là hai người đàn bà mỗi người chạy đi một ngả, Chuyên ra chợ mua thức ăn, Tính xuống bếp giục đun nước làm gà, và vo gạo thổi cơm.
— Hết chương 5 —
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương
📚 Tiểu thuyết theo chương