Thoạt nghe thì tưởng là vụ béo bở, nhưng cứ để tôi kể đã. Hồi ấy chúng tôi đang ở miền Nam, bang A-la-ba-ma, tôi và Bin Đrít-côn, thì nảy ra cái ý bắt cóc. Sau này Bin bảo đó là do "một lúc đầu óc bị ma ám tạm thời". Nhưng mãi về sau chúng tôi mới biết điều ấy.
Ở đó có một thị trấn phẳng lì như cái bánh kếp, và dĩ nhiên tên nó là Đỉnh Cao. Dân ở đấy thuộc loại nông dân hiền lành vô hại, tự mãn nhất từng nhảy múa quanh cây cột hội làng.
Tôi với Bin có chung một số vốn chừng sáu trăm đô-la, và chỉ cần thêm đúng hai nghìn đô-la nữa là làm được một vụ lừa bán đất nền ở miền Tây bang I-li-noi. Chúng tôi bàn chuyện ấy trên bậc thềm khách sạn. Chúng tôi bảo nhau rằng ở những vùng nửa quê nửa tỉnh, người ta thương con lắm, cho nên, và vì những lẽ khác nữa, một vụ bắt cóc ở đây ắt sẽ trót lọt hơn ở những nơi có báo chí, nơi người ta cho phóng viên mặc thường phục đi khắp nơi khơi chuyện. Chúng tôi biết thị trấn Đỉnh Cao chẳng có gì đuổi theo chúng tôi được, ngoài mấy anh tuần phiên, có khi thêm vài con chó săn uể oải, và một hai bài chửi bới trên tờ Tuần báo Nhà nông. Vậy là trông có vẻ ổn.
Chúng tôi chọn nạn nhân là đứa con một của một người có máu mặt tên là Ê-bơ-nê-dơ Đoóc-xét. Ông bố là người đáng kính và keo kiệt, mê cho vay cầm cố, là người nghiêm khắc, ngay thẳng chuyên đi chuyền đĩa quyên tiền ở nhà thờ, và chuyên xiết nợ. Thằng bé lên mười, mặt đầy tàn nhang nổi cộm, tóc đỏ như màu bìa cuốn tạp chí bạn mua ở sạp báo khi vội đi cho kịp tàu. Tôi với Bin tính rằng ông Ê-bơ-nê-dơ sẽ mủi lòng mà nôn ra hai nghìn đô-la tiền chuộc, không thiếu một xu. Nhưng cứ để tôi kể đã.
Cách thị trấn Đỉnh Cao chừng hai dặm có một quả đồi nhỏ, phủ kín rừng tuyết tùng rậm rạp. Ở sườn sau quả đồi có một cái hang. Chúng tôi trữ lương thực ở đó. Một buổi chiều sau khi mặt trời lặn, chúng tôi đánh một chiếc xe ngựa nhỏ đi ngang qua nhà lão Đoóc-xét. Thằng bé đang ở ngoài đường, ném đá vào một con mèo con trên bờ rào bên kia.
— Ê, cậu bé! Bin nói. Cháu có muốn một túi kẹo và một chuyến đi xe thật vui không?
Thằng bé ném một mẩu gạch trúng ngay mắt Bin, gọn gàng.
— Cái này lão bố phải trả thêm năm trăm đô-la, Bin nói, rồi trèo qua bánh xe xuống.
Thằng bé chống trả như một con gấu nâu hạng bán trung, nhưng rốt cuộc chúng tôi cũng đè được nó xuống sàn xe rồi đánh xe đi. Chúng tôi đưa nó lên hang, tôi buộc ngựa trong rừng tuyết tùng. Trời tối, tôi đánh xe trả về ngôi làng nhỏ cách đó ba dặm, nơi chúng tôi đã thuê nó, rồi đi bộ quay lại đồi.
Bin đang dán băng dính lên những vết xước, vết bầm trên mặt mũi. Sau tảng đá lớn ở cửa hang có một đống lửa đang cháy, và thằng bé đang canh một nồi cà phê sôi, hai chiếc lông đuôi kền kền cắm trên mái tóc đỏ. Thấy tôi tới, nó chĩa một khúc gậy vào tôi mà nói:
— Ha! Tên mặt trắng đáng nguyền rủa kia, mi dám bước vào doanh trại của Tù trưởng Da Đỏ, nỗi kinh hoàng của thảo nguyên ư?
— Giờ thì nó ổn rồi đấy, Bin nói, xắn ống quần lên xem mấy vết bầm ở ống chân. Bọn tôi đang chơi trò người da đỏ. Bọn tôi diễn còn hay hơn cả gánh xiếc của Bin Bò Rừng, khiến gánh ấy trông chẳng khác gì mấy tấm ảnh đèn chiếu ở hội trường thị trấn. Tôi là lão Hanh thợ bẫy, tù binh của Tù trưởng Da Đỏ, rạng sáng mai sẽ bị lột da đầu. Trời đất, thằng nhãi đá đau thật.
Vâng, thằng bé có vẻ đang sống những giờ phút vui nhất đời nó. Cái thú cắm trại trong hang đã làm nó quên khuấy rằng chính nó là con tin. Nó lập tức đặt cho tôi cái tên Mắt Rắn, tên do thám, và tuyên bố rằng khi các chiến binh của nó trở về sau trận chiến, tôi sẽ bị nướng trên cọc vào lúc mặt trời mọc.
Rồi chúng tôi ăn tối. Nó nhét đầy mồm thịt muối, bánh mì và nước sốt, rồi bắt đầu nói. Nó đọc một bài diễn văn trong bữa ăn, đại khái thế này:
— Cháu thích thế này lắm. Cháu chưa cắm trại bao giờ, nhưng có lần cháu nuôi một con chồn, và sinh nhật vừa rồi cháu lên chín. Cháu ghét đi học. Chuột ăn mất mười sáu quả trứng của con gà mái lốm đốm nhà bà dì của Gim-mi Tan-bốt. Trong rừng này có người da đỏ thật không? Cháu muốn thêm nước sốt. Có phải cây lắc lư thì gió mới thổi không? Nhà cháu có năm con chó con. Sao mũi chú đỏ thế, chú Hanh? Bố cháu có nhiều tiền lắm. Sao có nóng không? Thứ bảy vừa rồi cháu đánh thằng Ét Uốc-cơ hai trận. Cháu không thích con gái. Không có dây thì đừng hòng bắt được cóc. Con bò đực có kêu không? Sao quả cam lại tròn? Trong hang này có giường để ngủ không? Thằng Ê-mốt Mơ-ri có sáu ngón chân. Con vẹt biết nói, nhưng con khỉ với con cá thì không. Bao nhiêu thì làm thành mười hai?
Cứ vài phút nó lại nhớ ra mình là một tên da đỏ đáng gờm, liền vớ lấy khẩu súng bằng gậy, nhón chân ra cửa hang ngó nghiêng tìm bọn trinh sát của lũ mặt trắng đáng ghét. Thỉnh thoảng nó lại rú lên một tiếng xung trận khiến lão Hanh thợ bẫy rùng mình. Ngay từ đầu, thằng bé đã khủng bố được Bin.
— Tù trưởng Da Đỏ, tôi bảo thằng bé, cháu có muốn về nhà không?
— Ơ, về làm gì? Nó nói. Ở nhà có gì vui đâu. Cháu ghét đi học. Cháu thích cắm trại. Chú sẽ không đưa cháu về nhà đâu, phải không chú Mắt Rắn?
— Chưa về ngay đâu, tôi nói. Mình còn ở trong hang này một thời gian.
— Được đấy! Nó nói. Thế thì hay quá. Cả đời cháu chưa bao giờ vui thế này.
Khoảng mười một giờ chúng tôi đi ngủ. Chúng tôi trải mấy tấm chăn rộng, cho Tù trưởng Da Đỏ nằm giữa. Chúng tôi chẳng sợ nó chạy trốn. Suốt ba tiếng đồng hồ nó không cho chúng tôi ngủ, cứ chốc chốc lại bật dậy vớ lấy súng mà rít vào tai tôi và tai Bin: "Suỵt! Anh bạn!", mỗi khi trí tưởng tượng non nớt của nó nghe thấy một cành cây gãy hay một chiếc lá xào xạc, tưởng là bọn cướp đang lén lút mò tới. Cuối cùng tôi thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn, và mơ thấy mình bị một tên cướp biển tóc đỏ hung dữ bắt cóc, xích vào gốc cây.
Vừa rạng sáng, tôi choàng tỉnh vì một loạt tiếng thét kinh hoàng của Bin. Đó không phải tiếng gào, tiếng rống, tiếng quát, tiếng hò hay tiếng la như ta vẫn chờ đợi ở một bộ máy phát âm đàn ông. Đó chỉ là những tiếng thét thất thanh, khiếm nhã, đáng sợ, nhục nhã, cái kiểu đàn bà thét lên khi nhìn thấy ma hay sâu róm. Nghe một gã béo khoẻ mạnh, liều lĩnh thét lên không kìm được trong một cái hang lúc rạng sáng là một điều khủng khiếp.
Tôi bật dậy xem có chuyện gì. Tù trưởng Da Đỏ đang ngồi trên ngực Bin, một tay túm tóc Bin. Tay kia nó cầm con dao sắc chúng tôi vẫn dùng để thái thịt muối, đang cần mẫn và rất thật lòng tìm cách lột da đầu Bin, đúng theo bản án đã tuyên tối hôm trước.
Tôi giật con dao khỏi tay thằng bé, bắt nó nằm xuống. Nhưng từ lúc ấy, tinh thần Bin suy sụp hẳn. Gã nằm xuống phía giường của mình, nhưng chẳng bao giờ còn chợp mắt được chút nào chừng nào thằng bé còn ở với chúng tôi. Tôi thiu thiu ngủ được một lúc, nhưng gần lúc mặt trời mọc, tôi sực nhớ ra Tù trưởng Da Đỏ đã tuyên bố tôi sẽ bị thiêu trên cọc vào lúc mặt trời mọc. Tôi chẳng bồn chồn hay sợ hãi gì, nhưng tôi ngồi dậy, châm tẩu thuốc, tựa lưng vào một tảng đá.
— Sao dậy sớm thế, Xam? Bin hỏi.
— Tôi ấy à? Tôi nói. Ồ, tôi hơi đau vai. Tôi nghĩ ngồi dậy cho vai đỡ mỏi.
— Ông nói dối! Bin nói. Ông sợ thì có. Ông sẽ bị thiêu lúc mặt trời mọc, và ông sợ nó làm thật. Mà nó làm thật đấy, nếu nó tìm được diêm. Khủng khiếp quá phải không, Xam? Ông nghĩ có ai chịu bỏ tiền ra chuộc một con quỷ con như thế về nhà không?
— Chắc chắn, tôi nói. Một đứa nghịch như quỷ thế chính là loại bố mẹ cưng nhất. Giờ ông với Tù trưởng dậy nấu bữa sáng đi, để tôi lên đỉnh đồi trinh sát.
Tôi lên đỉnh quả đồi nhỏ, đưa mắt nhìn khắp vùng xung quanh. Hướng về phía Đỉnh Cao, tôi chờ đợi được thấy đám dân làng vạm vỡ, tay cầm lưỡi hái, chĩa ba, đang sục sạo khắp miền quê tìm bọn bắt cóc hèn hạ. Nhưng những gì tôi thấy chỉ là một phong cảnh yên bình, điểm một người đàn ông đang cày ruộng với một con la màu xám. Chẳng ai mò dưới lạch. Chẳng có người đưa tin nào phóng ngựa ngược xuôi báo cho bố mẹ đang rối trí biết rằng chưa có tin gì. Cả vùng bề mặt bên ngoài của bang A-la-ba-ma phơi ra trước mắt tôi chìm trong một vẻ đồng quê lim dim buồn ngủ. "Có lẽ," tôi tự nhủ, "người ta chưa phát hiện ra lũ sói đã tha mất chú cừu non bé bỏng khỏi chuồng. Trời phù hộ cho lũ sói!" Tôi nói thế, rồi xuống đồi ăn sáng.
Về tới hang, tôi thấy Bin đang dựa lưng vào vách hang, thở hồng hộc, còn thằng bé thì đang đe đập gã bằng một hòn đá to bằng nửa quả dừa.
— Nó nhét một củ khoai luộc nóng bỏng vào lưng áo tôi, Bin giải thích, rồi lấy chân giẫm cho nát ra. Thế là tôi bạt tai nó. Ông có mang súng không, Xam?
Tôi giật hòn đá khỏi tay thằng bé, dàn xếp cho êm cuộc cãi vã.
— Rồi mày sẽ biết tay tao, thằng bé bảo Bin. Chưa ai đánh Tù trưởng Da Đỏ mà không phải trả giá. Liệu hồn đấy!
Ăn sáng xong, thằng bé lôi trong túi ra một miếng da có quấn dây quanh, vừa đi ra cửa hang vừa gỡ dây.
— Giờ nó lại định giở trò gì đây? Bin lo lắng nói. Ông không nghĩ là nó sẽ bỏ chạy chứ, Xam?
— Chẳng phải lo chuyện ấy, tôi nói. Nó có vẻ chẳng phải loại thích ở nhà. Nhưng mình phải tính kế hoạch về khoản tiền chuộc. Ở Đỉnh Cao xem ra chẳng ai nhốn nháo gì vì nó biến mất, nhưng có lẽ người ta chưa nhận ra nó đi rồi. Nhà nó có khi tưởng nó ngủ lại nhà bà dì Gien hay nhà hàng xóm nào đó. Dù sao thì hôm nay người ta cũng sẽ thấy vắng nó. Tối nay mình phải gửi thư cho bố nó, đòi hai nghìn đô-la mới trả nó về.
Đúng lúc ấy chúng tôi nghe một tiếng rú như tiếng hò xung trận, chắc Đa-vít cũng rú lên như thế khi hạ gục nhà vô địch Gô-li-át. Thì ra Tù trưởng Da Đỏ vừa lôi trong túi ra một cái ná bắn đá, đang quay tít trên đầu.
Tôi né được, rồi nghe một tiếng huỵch nặng nề, và một tiếng như tiếng thở dài của Bin, giống tiếng ngựa thở ra khi được tháo yên. Một hòn đá cuội to bằng quả trứng đã trúng Bin ngay sau tai trái. Cả người gã rũ ra, đổ vật vào đống lửa, ngang qua cái chảo nước nóng dùng để rửa bát. Tôi lôi gã ra, dội nước lạnh lên đầu gã suốt nửa tiếng.
Một lúc sau, Bin ngồi dậy, sờ sau tai mà nói:
— Xam, ông có biết trong Kinh Thánh tôi thích nhân vật nào nhất không?
— Bình tĩnh nào, tôi nói. Lát nữa ông sẽ tỉnh táo lại thôi.
— Vua Hê-rốt, gã nói. Cái ông vua ra lệnh giết hết trẻ con ấy. Ông sẽ không bỏ đi để tôi ở lại đây một mình chứ, Xam?
Tôi đi ra ngoài, tóm lấy thằng bé, lắc nó mạnh tới mức tưởng tàn nhang trên mặt nó kêu lạch xạch.
— Nếu mày không ngoan, tôi nói, tao sẽ đưa mày về nhà ngay. Giờ mày có ngoan không thì bảo?
— Cháu chỉ đùa thôi mà, nó hờn dỗi nói. Cháu đâu có định làm lão Hanh đau. Nhưng sao lão ấy đánh cháu? Cháu sẽ ngoan, chú Mắt Rắn, nếu chú không đưa cháu về nhà, và nếu hôm nay chú cho cháu chơi trò Trinh sát Đen.
— Chú không biết trò ấy, tôi nói. Chuyện ấy cháu với chú Bin tự quyết. Hôm nay chú ấy là bạn chơi của cháu. Chú phải đi đằng này một lúc, có việc. Giờ cháu vào làm lành với chú ấy, xin lỗi vì đã làm chú ấy đau, không thì về nhà, ngay lập tức.
Tôi bắt nó với Bin bắt tay nhau, rồi kéo Bin ra một chỗ, bảo gã rằng tôi sẽ tới làng Vịnh Dương, một ngôi làng nhỏ cách hang ba dặm, dò xem ở Đỉnh Cao người ta nghĩ gì về vụ bắt cóc. Tôi cũng nghĩ tốt nhất là ngay hôm ấy gửi cho lão Đoóc-xét một lá thư thật cứng rắn, đòi tiền chuộc và chỉ rõ cách trả.
— Ông biết đấy, Xam, Bin nói, tôi đã sát cánh bên ông, mắt không chớp, qua động đất, hoả hoạn, lũ lụt, qua những ván bài, những vụ đặt mìn, những trận cảnh sát vây ráp, những vụ cướp tàu và những cơn lốc xoáy. Tôi chưa bao giờ mất bình tĩnh, cho tới khi mình bắt cóc cái thằng nhãi như quả pháo thăng thiên có hai chân này. Nó làm tôi điên đầu rồi. Ông đừng để tôi một mình với nó lâu nhé, Xam?
— Chiều nay tôi về, tôi nói. Ông phải giữ cho thằng bé vui vẻ, yên ổn tới khi tôi về. Giờ mình viết thư cho lão Đoóc-xét.
Tôi với Bin lấy giấy bút ra, ngồi soạn thư, trong khi Tù trưởng Da Đỏ quấn một tấm chăn quanh người, đi đi lại lại oai vệ, canh gác cửa hang. Bin rưng rưng nước mắt van tôi hạ tiền chuộc xuống một nghìn rưởi thay vì hai nghìn.
— Tôi chẳng định chê bai gì cái khía cạnh đạo đức lừng danh của tình phụ tử, gã nói, nhưng mình đang làm ăn với con người, mà chẳng có con người nào lại chịu bỏ ra hai nghìn đô-la cho cái cục mèo rừng tàn nhang nặng hai chục cân ấy cả. Tôi sẵn sàng liều với con số một nghìn rưởi. Phần chênh lệch ông cứ tính vào phần tôi.
Thế là, để Bin yên lòng, tôi đồng ý, và chúng tôi cùng nhau soạn một lá thư như sau:
"Gửi ông Ê-bơ-nê-dơ Đoóc-xét.
Chúng tôi đang giấu con trai ông ở một nơi rất xa Đỉnh Cao. Ông hay những thám tử giỏi nhất có tìm nó cũng vô ích. Điều kiện duy nhất, tuyệt đối duy nhất để ông nhận lại con là thế này. Chúng tôi đòi một nghìn năm trăm đô-la, bằng tiền giấy mệnh giá lớn, để trả nó về. Tiền phải để vào nửa đêm nay, ở cùng chỗ và trong cùng cái hộp đựng thư trả lời của ông, như mô tả dưới đây. Nếu ông đồng ý với những điều kiện này, hãy viết thư trả lời, và cho một người đưa thư đi một mình mang tới, vào tám giờ rưỡi tối nay. Qua suối Cú, trên đường đi làng Vịnh Dương, có ba cái cây lớn cách nhau chừng một trăm mét, sát hàng rào cánh đồng lúa mì bên tay phải. Dưới chân cột rào, đối diện cái cây thứ ba, có một cái hộp các-tông nhỏ. Người đưa thư sẽ bỏ thư trả lời vào hộp ấy, rồi lập tức quay về Đỉnh Cao. Nếu ông định giở trò phản trắc, hoặc không làm đúng như yêu cầu, ông sẽ không bao giờ nhìn thấy con ông nữa. Nếu ông trả tiền đúng như yêu cầu, trong vòng ba giờ nó sẽ được trả về cho ông, bình an vô sự. Đây là những điều kiện cuối cùng, nếu ông không chấp thuận, chúng tôi sẽ không liên lạc gì thêm nữa.
Hai kẻ liều mạng."
Tôi đề địa chỉ gửi Đoóc-xét, bỏ lá thư vào túi. Lúc tôi sắp đi, thằng bé chạy tới bảo tôi:
— Ơ, chú Mắt Rắn, chú bảo là lúc chú đi vắng, cháu được chơi trò Trinh sát Đen cơ mà.
— Thì chơi đi, tất nhiên rồi, tôi nói. Chú Bin sẽ chơi với cháu. Trò ấy chơi thế nào?
— Cháu là Trinh sát Đen, Tù trưởng Da Đỏ nói, và cháu phải phi ngựa tới đồn để báo cho dân định cư biết bọn da đỏ đang tới. Cháu chán làm người da đỏ rồi. Cháu muốn làm Trinh sát Đen.
— Được thôi, tôi nói. Nghe có vẻ vô hại. Chú đoán chú Bin sẽ giúp cháu phá tan âm mưu của lũ mọi rợ đáng ghét.
— Tôi phải làm gì? Bin hỏi, nhìn thằng bé đầy ngờ vực.
— Chú là con ngựa, Trinh sát Đen nói. Bò xuống, chống tay với đầu gối đi. Không có ngựa thì làm sao cháu phi tới đồn được?
— Ông nên giữ cho nó vui, tôi nói, tới khi kế hoạch chạy đã. Chiều nó chút đi.
Bin bò xuống bằng bốn chân, và trong mắt gã hiện lên cái nhìn của con thỏ sa bẫy.
— Tới đồn bao xa hả nhóc? Gã hỏi, giọng khàn khàn.
— Chín mươi dặm, Trinh sát Đen nói. Và chú phải cố hết sức mới tới kịp. Nào, đi!
Trinh sát Đen nhảy phốc lên lưng Bin, thúc gót vào sườn gã.
— Lạy Chúa, Bin nói, về nhanh nhé, Xam, càng nhanh càng tốt. Giá mà mình đừng đòi tiền chuộc quá một nghìn. Này, thôi đừng đá tao nữa, không tao đứng dậy cho mày một trận nên thân bây giờ.
Tôi đi bộ tới làng Vịnh Dương, ngồi la cà ở bưu điện kiêm tạp hoá, chuyện trò với mấy bác nhà quê vào mua bán. Một bác râu ria xồm xoàm bảo nghe đâu cả thị trấn Đỉnh Cao đang nhốn nháo vì thằng con trai của ông trưởng lão Ê-bơ-nê-dơ Đoóc-xét đi lạc hay bị bắt mất. Tôi chỉ cần biết có thế. Tôi mua ít thuốc lá hút, nói bâng quơ về giá đậu mắt đen, lén bỏ thư vào thùng rồi đi về. Ông trưởng bưu điện bảo một tiếng nữa người đưa thư sẽ ghé qua mang thư tới Đỉnh Cao.
Về tới hang, tôi chẳng thấy Bin và thằng bé đâu. Tôi lùng khắp quanh hang, liều gọi to một hai tiếng, nhưng chẳng có ai đáp.
Thế là tôi châm tẩu, ngồi xuống một bờ đất phủ rêu, chờ xem sự thể ra sao.
Chừng nửa tiếng sau, tôi nghe bụi cây xào xạc, rồi Bin lảo đảo bước ra khoảng trống nhỏ trước cửa hang. Sau lưng gã là thằng bé, bước nhẹ nhàng như một trinh sát, miệng cười toe toét. Bin dừng lại, bỏ mũ ra, lấy chiếc khăn tay đỏ lau mặt. Thằng bé đứng lại cách sau gã chừng hai mét rưỡi.
— Xam, Bin nói, tôi đoán ông sẽ cho tôi là kẻ phản bội, nhưng tôi không chịu nổi nữa. Tôi là một người trưởng thành, có tính khí đàn ông và quen tự vệ, nhưng có những lúc mọi hệ thống tự tôn và áp đảo đều sụp đổ. Thằng bé đi rồi. Tôi đã cho nó về nhà. Thế là hết. Ngày xưa có những vị tử đạo, Bin nói tiếp, thà chết chứ không chịu bỏ cái nghề mình ưa thích. Nhưng chưa ai trong số họ từng phải chịu những cực hình siêu nhiên như tôi. Tôi đã cố trung thành với giao kèo cướp bóc của mình, nhưng cái gì cũng có giới hạn.
— Có chuyện gì thế, Bin? Tôi hỏi.
— Tôi bị cưỡi, Bin nói, suốt chín mươi dặm tới đồn, không thiếu một tấc. Rồi khi dân định cư được cứu, tôi được thưởng yến mạch. Mà cát thì đâu phải món thay thế ngon lành gì. Rồi suốt một tiếng đồng hồ, tôi phải cố giải thích cho nó vì sao trong cái lỗ lại chẳng có gì, vì sao một con đường lại chạy được cả hai chiều, và cái gì làm cho cỏ xanh. Tôi nói thật, Xam ạ, con người chỉ chịu được tới mức ấy thôi. Tôi túm cổ áo nó, lôi xuống đồi. Dọc đường nó đá vào chân tôi tím bầm từ đầu gối trở xuống, mà ngón cái với bàn tay tôi còn hai ba vết cắn phải đem đi đốt cho khỏi nhiễm trùng.
Nhưng nó đi rồi, Bin nói tiếp, về nhà rồi. Tôi chỉ cho nó đường về Đỉnh Cao, và đá cho nó một phát, bay về gần nhà thêm hai mét rưỡi. Tôi tiếc là mình mất tiền chuộc, nhưng hoặc là thế, hoặc là Bin Đrít-côn vào nhà thương điên.
Bin vẫn còn thở phì phò, nhưng trên khuôn mặt hồng hào của gã hiện lên một vẻ bình an khôn tả và một niềm mãn nguyện cứ lớn dần.
— Bin, tôi nói, nhà ông không ai bị bệnh tim chứ?
— Không, Bin nói, chẳng có bệnh gì kinh niên, trừ sốt rét và tai nạn. Sao thế?
— Thế thì ông có thể quay lại, tôi nói, nhìn ra đằng sau một cái.
Bin quay lại, nhìn thấy thằng bé, mặt cắt không còn hột máu, ngồi phịch xuống đất, bắt đầu vặt cỏ và mấy que củi nhỏ một cách vô thức. Suốt một tiếng đồng hồ, tôi lo cho đầu óc gã. Rồi tôi bảo gã rằng kế hoạch của tôi là làm xong vụ này ngay lập tức, và nếu lão Đoóc-xét chịu theo đề nghị của chúng tôi, thì tới nửa đêm chúng tôi sẽ cầm tiền chuộc chuồn khỏi đây. Thế là Bin gượng dậy được đủ để nở với thằng bé một nụ cười yếu ớt, và hứa khi nào thấy khá hơn chút sẽ chơi với nó trò đánh trận, gã đóng vai lính Nga đánh nhau với lính Nhật.
Tôi có một kế hoạch lấy tiền chuộc mà chẳng sợ bị gài bẫy, một kế hoạch mà dân bắt cóc nhà nghề hẳn phải khen. Cái cây nơi thư trả lời được để lại, và sau đó là tiền, nằm sát hàng rào ven đường, bốn bề là những cánh đồng lớn trống trải. Nếu có một toán tuần phiên rình xem ai tới lấy thư, chúng sẽ nhìn thấy người đó từ rất xa, khi băng qua cánh đồng hay đi trên đường. Nhưng đâu có dễ thế, thưa ngài! Từ tám giờ rưỡi tôi đã ngồi trên cây ấy, ẩn kín như một con nhái bén, chờ người đưa thư tới.
Đúng giờ, một thằng bé choai choai đạp xe đạp tới, tìm thấy cái hộp các-tông dưới chân cột rào, nhét một mảnh giấy gấp vào đó, rồi lại đạp xe về phía Đỉnh Cao.
Tôi chờ một tiếng, rồi kết luận rằng mọi chuyện sòng phẳng. Tôi tụt xuống cây, lấy mảnh giấy, men theo hàng rào tới bìa rừng, và nửa tiếng sau đã về tới hang. Tôi mở mảnh giấy, ghé lại gần ngọn đèn bão, đọc cho Bin nghe. Thư viết bằng bút mực, nét chữ khó đọc, và nội dung tóm gọn như sau:
"Gửi Hai kẻ liều mạng.
Thưa các ông. Hôm nay tôi đã nhận được qua bưu điện lá thư các ông gửi, về khoản tiền chuộc các ông đòi để trả con trai tôi. Tôi nghĩ các ông đòi hơi cao, và nhân đây tôi xin đưa ra một đề nghị ngược lại, mà tôi có phần tin là các ông sẽ chấp nhận. Các ông đưa thằng Giôn-ni về nhà, trả cho tôi hai trăm năm mươi đô-la tiền mặt, và tôi đồng ý đỡ nó khỏi tay các ông. Các ông nên tới vào ban đêm, vì hàng xóm tin là nó đi lạc, và tôi không dám chịu trách nhiệm về những gì họ sẽ làm với bất cứ ai họ thấy dẫn nó về.
Kính thư, Ê-bơ-nê-dơ Đoóc-xét."
— Lạy các cụ cướp biển! Tôi nói. Đời thuở nhà ai lại có kẻ trơ tráo tới mức...
Nhưng tôi liếc sang Bin, và ngập ngừng. Trong mắt gã là cái nhìn van lơn thảm thiết nhất tôi từng thấy trên mặt bất cứ con vật nào, dù câm hay biết nói.
— Xam, gã nói, rốt cuộc thì hai trăm năm mươi đô-la là gì chứ? Mình có tiền mà. Thêm một đêm với thằng nhãi này là tôi phải vào nằm nhà thương điên. Ông Đoóc-xét chẳng những là một quý ông hoàn hảo, mà tôi còn thấy ông ấy thật hào phóng khi đưa ra cho mình một đề nghị rộng rãi đến thế. Ông không định bỏ lỡ cơ hội chứ?
— Nói thật với ông, Bin ạ, tôi nói, chú cừu non bé bỏng này cũng làm tôi phát điên rồi. Mình đưa nó về nhà, trả tiền chuộc, rồi chuồn.
Ngay tối hôm ấy chúng tôi đưa nó về nhà. Chúng tôi dụ được nó đi bằng cách bảo rằng bố nó đã mua cho nó một khẩu súng trường nạm bạc và một đôi giày da mềm kiểu da đỏ, và hôm sau chúng tôi sẽ đi săn gấu.
Đúng mười hai giờ đêm chúng tôi gõ cửa nhà Ê-bơ-nê-dơ. Đúng vào lúc mà, theo kế hoạch ban đầu, lẽ ra tôi đang lấy một nghìn rưởi đô-la trong cái hộp dưới gốc cây, thì Bin lại đang đếm hai trăm năm mươi đô-la vào tay ông Đoóc-xét.
Khi thằng bé biết chúng tôi định bỏ nó lại ở nhà, nó rống lên như cái kèn hơi nước ngoài hội chợ, bám chặt lấy chân Bin như con đỉa. Bố nó phải bóc nó ra từ từ, như bóc một miếng cao dán.
— Ông giữ được nó bao lâu? Bin hỏi.
— Tôi không còn khoẻ như xưa, ông Đoóc-xét nói, nhưng tôi nghĩ tôi có thể hứa với các ông mười phút.
— Đủ rồi, Bin nói. Trong mười phút, tôi sẽ băng qua các bang miền Trung, miền Nam và miền Trung Tây, và đang co giò chạy thoăn thoắt tới biên giới Ca-na-đa.
Và dù trời tối đến thế, dù Bin béo đến thế, dù tôi chạy giỏi đến thế, gã vẫn ra khỏi Đỉnh Cao được những một dặm rưỡi rồi tôi mới đuổi kịp.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn