Truyện Đỉnh

📚 Tiểu thuyết theo chương

Hồi 12: Tờ phả khuyến

Tiêu Sơn tráng sĩ · Chương 12/49 · của Khái Hưng

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 12.146 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Trên con đường nhỏ chạy ven đê sông Cầu…
  2. 1:49Liên! Cho tiền người ta rồi bảo người ta…
  3. 3:19toan rút dao đuổi theo. Nhưng nhà sư vội…
  4. 4:56Phạm Thái đương lo lắng ngẫm nghĩ, cũng phải…
  5. 6:47Có lệnh quan truyền không cho một tên lái…
  6. 8:19Thì ta vào chùa Yên Xá.
  7. 9:55vào nhà trong cho tĩnh.
  8. 11:46"Anh em đã nghe rõ chưa?

Chương 12: Hồi 12: Tờ phả khuyến

Trên con đường nhỏ chạy ven đê sông Cầu rẽ vào làng Vĩnh Thế, người ta

thấy một nhà sư trẻ tuổi, thân thể tráng kiện tay chống gậy trúc, vừa đi vừa lâm

râm niệm phật. Một chú tiểu vạm vỡ như nhà sư gánh một đôi thúng theo sau. Một

bên thúng có một cái tay nải nâu, còn ở bên kia có mấy quyển kinh và nhiều giấy

tờ gói trong chiếc khăn nâu cũ. Nhà sư thông thuộc đường lối trong làng lắm, đi

thẳng vào một xóm tới một toà nhà ngói, đứng ở cổng nói:

— Nam vô a di đà phật! Nghe tin ông bà đây hằng tâm hằng sản, sãi tôi đến xin

ông bà mở lòng tu nhân tích đức, cúng vào việc sửa sang chùa chiền. Nguyên chùa

Nghiêm Xá...

Không để sư nói dứt câu, chủ nhà quát lớn:

— Sư với mô gì! đem cho họ một đồng kẽm, một đồng kẽm thôi, rồi bảo họ đi

ngay.

Nhà sư mỉm một nụ cười khinh bỉ và toan cất tiếng bá ngọ lấy mấy câu. Nhưng

giữa lúc ấy, ở trong nhà đi ra một thiếu nữ rất xinh tươi khiến nhà sư ngây người

đứng ngắm, không rứt ra đi được.

Thiếu nữ dịu dàng bỏ vào thúng nhà sư dăm đồng tiền kẽm mà nói rằng:

— Mẹ tôi cúng xin sư ông nhận cho.

— Đa tạ thí chủ.

Rồi cất tiếng du dương trong trẻo nhịp nhàng vừa nhìn thiếu nữ vừa đọc bài

sau này:

Từng nghe rằng: Kẻ dựng phúc hẳn là gặp phúc, tên ghi muôn kiếp đá không

mòn; người tìm nhân âu lại được nhân, dấu để nghìn năm gương chẳng bụi.

Nếu cắm thẳng chiếc bóng theo vào lệch, cân nhắc hàng mây tóc nhận không

sai.

Đức Phật ta: chén nổi ân thiêng, tích hay phép nhiệm.

Lá buồm gấm thổi gió từ bể giác, doành mê nhẹ chở kẻ trầm luân, bóng đèn

hoa lồng mây tuệ ngàn thiêng, bể khổ sáng đưa người ám muội...

Trong nhà lại thét ra:

— Liên! Cho tiền người ta rồi bảo người ta ra, hát với xướng mãi.

Thiếu nữ có vẻ không bằng lòng đáp lại:

— Thưa mẹ, mẹ để sư ông đọc hết bài phả khuyến đã.

Nàng quay lại mỉm cười bảo nhà sư:

— Sư ông cứ đọc đi.

Sư ông cũng vui lòng chiều ý cô gái đẹp, lại cất tiếng ngâm nga đọc tiếp:

Sãi tôi nay: gặp thuở mình thời, sinh lầm nam tử.

Võ dẹp loạn đã không hề thao lược, văn trị yên lại chẳng biết kinh luân.

Tiến thì quan nghe đường ấy khó nhằm, trong thế giới ba nghìn dư, kìa trời

đất xanh xanh nào có phụ; đạt mà sư, xem đạo này cũng phải, đường tu hành ba

mươi sáu, với cõi hoa hơn hớn cũng là vui.

Làm chi tham dục để nên lòng, luống chịu kiên vưu cho lụy tiếng.

Một tên người nhà vội chạy ra:

— Thôi nhà sư đi.

Rồi hắn chắp tay lễ phép nói với thiếu nữ:

— Bà lớn truyền cô vào ngay.

Thiếu nữ phụng phịu:

— Vào thì vào!

Ra đến đường, chú tiểu nói với nhà sư:

— Bạch thầy, nhà đó giàu có thế mà bủn xỉn quá đi mất.

Nhà sư làu nhàu chửi:

— Bá ngọ nó chứ!

— Bá ngọ cả cái cô thiếu nữ đẹp ghê gớm!

— A di đà phật, chú chỉ nói bậy!... Nhưng bá ngọ nó, giá nó ở vào vùng Nghiêm

Xá, Phú Mẫn thì phải biết tay ta.

— Dạ bạch thầy, có thế. Nhưng biết đâu chẳng có ngày nó phải qua đò Kim Lũ.

Giữa lúc ấy, một người to lớn ở phía sau tiến lên, lấy tay gạt mạnh bên quang

của chú tiểu ra mà đi khiến chú căm tức, đặt gánh xuống đường, thò tay vào bọc

toan rút dao đuổi theo. Nhưng nhà sư vội giữ lại thì thầm:

— Thôi, mặc kệ hắn, sinh sự với hắn làm gì?

Chú tiểu hằn học:

— Nhưng bá ngọ nó, nó khinh thầy trò mình ra mặt thế này thì chịu sao nổi. Mà

thầy ạ, biết đâu nó không nghe lỏm được câu chuyện của ta.

— Ờ, cũng có lý, vả thằng cha trông dáng bộ khả nghi lắm.

Thực vậy, người ấy rất có vẻ bí mật: cái khăn nhiễu tam giang quấn rối sụp

đến đôi lông mi rậm. Và tuy sang xuân, tiết trời ấm áp, mà chàng còn đội tùm hụp

trên đầu chiếc khăn bịt lụa trắng che kín hẳn nửa mặt dưới, để hở ra hai con mắt

thao láo.

— Có lẽ nó ốm, thầy ạ.

— Ốm mà lại đi nhanh như thế được!

Hai thầy trò còn đương bàn bạc chưa biết xử trí ra sao thì người kia đã đi

khuất sau lũy tre thôn Vạn Đình. Nhà sư bảo chú tiểu:

— Cứ coi bộ hấp tấp vội vàng của hắn thì đồ rằng hắn đến Cổ Mễ để sang đò?

Muốn đuổi kịp, ta phải rảo bước một chút.

— Bạch thầy, biết đâu hắn sang đò. Nhỡ hắn quay về Kinh Bắc thì sao?

— Nhưng hắn quay về trấn lỵ thì đã làm sao?

— Trò lo lắm thầy ạ, trò chỉ sợ nó đã nghe lỏm được câu chuyện mình bàn tán..

Ở vùng này ít lâu nay nhan nhản những thám tử của quan trấn thủ, chắc thầy

chẳng lạ.

Phạm Thái - vì nhà sư chính là Phạm Thái - giật mình nhớn nhác nhìn quanh.

Rồi quay lại bảo chú tiểu:

— Chú Quế, chú cứ đi thong thả nhé.

Dứt lời chàng bước rất mau, hầu như chạy. Chú tiểu theo không kịp, đành để

thầy đi trước. Một lúc lâu, Phạm Thái trở lại nói:

— Không biết nó biến đằng nào mất. Chẳng thấy bóng nó đâu nữa.

— Bạch thầy, thật là một mối hoạn cho thầy trò ta.

Phạm Thái đương lo lắng ngẫm nghĩ, cũng phải bật cười bảo tiểu Quế:

— Chú nên cất kỹ cái kho "hán tự bá láp" của chú đi. Mối gì là mối hoạn....

Nhưng ta hãy vào hàng này ngồi nghỉ uống bát nước chè tươi đã, rồi muốn ra sao

thì ra.

Hai thầy trò liền bước vào một cái quán bên đường ở đầu làng Ngọc Đôi. Ngày

xưa đó là một bến đò sầm uất. Nhưng từ khi vua Quang Trung đắp lại con đường

Bắc Thành qua Kinh Bắc đi thẳng lên Lạng Thương, Yến Thế, Lạng Sơn, thì bến

đò Ngọc Đôi đã thiên đến Cổ Mễ. Dần dần, người ta dỡ hết hàng quán để mang lại

dựng ở bến dưới, và bến cũ chẳng bao lâu đã thành một nơi bỏ hoang, còn trơ trọi

mỗi một cái quán nước bán bánh. Một bà lão già ở đó cùng với một đứa cháu gái

nhỏ lên chín lên mười!

— A di đà phật! Bạch sư ông vào sơi nước!

— A di đà phật!

— Trời đã xế chiều rồi, sư ông ý chừng đến chùa Cổ Mễ?

— Không đâu bà hàng ạ, sãi tôi đi khuyên giáo lấy tiền sửa chùa Nghiêm Xá.

— A di đà phật! Vậy của ít, lòng nhiều, tôi xin cúng nhà chùa.

Vừa nói, bà lão vừa moi bọc lấy hai đồng tiền kẽm bỏ vào thúng, khiến Phạm Thái

cảm động đưa mắt nhìn chú tiểu:

— Phúc đức quá! Tôi xin cầu trời phật độ trì cho bà.

Bỗng chú tiểu giơ tay trỏ cái cửa sổ trông ra sông, lớn tiếng bảo Phạm Thái:

— Kìa? Thầy coi?

Phạm Thái giật mình, vì chàng cũng vừa nhác thấy người bí mật ban nãy một

mình trên chiếc thuyền nan lênh đênh giữa giòng sông, nước chảy xiết. Chàng

buông một tiếng thở dài như để trút hết lòng lo sợ băn khoăn.

— Thì ra, chú ạ, người ấy không về trấn lỵ.

Hai thầy trò vui mừng từ giã bà hàng ra đi. Khi đến bến đò Cổ Mễ gặp một

bọn lính ở thành Bắc cũng vừa tới. Nhân dân thất kinh giãn cả ra khi thấy một

người trong bọn binh, chừng là cai đứng lên một mô đất bên sông và lớn tiếng nói:

— Có lệnh quan truyền không cho một tên lái đò nào chở sang ngang trong đêm

hôm nay. Phải để mai quan quân khám tín bài hành khách đã.

Phạm Thái đến gần người ấy và lễ phép hỏi:

— A di đà phật! Thưa thầy có việc gì quan hệ mới xảy ra mà cấm ngặt thế?

Người cai bép sép trả lời:

— Nghe như vừa có tin ở phủ Từ Sơn báo bọn Đào Phùng phá ngục trốn thoát.

Phạm Thái sửng sốt ngả đầu chào quay đi. Viên cai tưởng nhà sư sợ hãi, có

biết đâu rằng chàng kinh ngạc vì vừa nhớ lại vừa nhận ra người bí mật kia là Đào

Phùng mà chàng đã gặp trong rừng Đình Bảng; Chàng quay lại bảo chú tiểu Quế:

— Thôi ta đi chẳng tối mất.

Phạm Thái hấp tấp như thế là vì trong bọc chàng có nhiều giấy quan trọng và

chàng sợ bọn lính đòi khám. Đi một quãng xa, chàng như không thể nhịn được

nữa, ôm bụng cười rũ rượi.

Chú tiểu hỏi:

— Bạch thầy, có chuyện chi mà thầy cười gớm ghiếc vậy?

— Còn gì đáng cười cho bằng cách đề phòng của bọn bầy tôi Quang Toản.

— Đề phòng như thế thì có gì là đáng tức cười, bạch thầy?

— Lại còn không tức cười à? Việc quan trọng thế mà để tiết lộ sự bí mật! Đợi

người ta sang sông rồi mới cấm thuyền. Làm hai điều vô lý ấy thì chỉ có bọn bầy

tôi Quang Toản.

— Nhưng có ai sang sông cơ?

— Ai? Đào Phùng chớ còn ai nữa? Cái người mà thầy trò ta ngờ oan là thám tử

chính là Đào Phùng đó.

— Sao thầy biết?

Phạm Thái ngần ngừ đáp:

— Đoán... Nhưng việc của ta, ta hãy nghĩ đến đã. Bây giờ phải đi mau tới thành

Kinh Bắc.

— Đến nơi chắc cổng thành đã đóng rồi.

— Thì ta vào chùa Yên Xá.

Quả thực khi đến Kinh Bắc cầu treo đã kéo, và cổng thành đã đóng. Hai thầy

trò Phạm Thái liền tìm vào chùa Yên Xá trú ngụ.

Nửa đêm chú tiểu chợt thức giấc, không thấy sư ông nằm ở giường trên. Chú

đoán chừng thầy ra sau, nên chú lại ngủ ngay.

Sáng hôm sau, chú mở choàng mắt nhìn lên giường: sư ông vẫn còn ngủ, mà

coi như ngủ say lắm. Yên lặng sắp sửa hành lý để chờ thầy dậy.

Bỗng chú kêu rú lên một tiếng, khiến Phạm Thái tỉnh giấc hỏi:

— Cái gì thế, chú!

— Bạch sư ông, đâu mất bọc giấy?

— Giấy gì?

— Bạch thầy, giấy gói trong cái khăn nâu, mà thầy bảo là những bài phả khuyến...

đem đi phát để quyên tiền.

Phạm Thái mỉm cười:

— Mất thì thôi.

Sau khi cùng sư ông chùa Yên Xá uống thiền trà, Phạm Thái cáo từ ra đi...

Vừa vào trong thành, chàng đã nghe thấy lời đồn huyên náo: "Tối hôm trước

có người đến dán giấy ở các cổng thành xúi giục nhân dân nổi loạn để đánh đổ nhà

Tây Sơn và phò nhà Lê lên ngôi trời. Giấy ấy hiện đã bóc nộp quan trấn thủ.

Nhưng ở trong thành còn nhiều người nhặt được cũng tờ giấy như thế mà không

biết ai bắn từ đâu tới vì tờ nào cũng vào một cái tên. Phạm Thái hỏi một

người đàn bà:

— Có thể xem được không bà?

Người kia vênh mặt bĩu môi, nhiếc nhà sư:

— Xem? Có mà mất đầu! Ai dám chứa cái của nợ ấy ở trong nhà mà xem được?

Hai thầy trò Phạm Thái ung dung đến một hàng cơm quen thuộc ở phố Tiền

Môn. Chủ quán đon đả ra cửa mời chào:

— A di đà phật! Đã lâu lắm mới thấy sư ông Phổ Chiêu đến hàng. Mời sư ông

vào nhà trong cho tĩnh.

Vốn biết sư ông thích rượu nhắm thịt gà nướng chả, chủ quán sợ để ngài ngồi

ngoài hàng, ngài ngượng không dám gọi những món "thiền giới", nên có nhã ý

mời ngài vào một phòng vắng để ngài được tự tiện muốn dùng thứ gì thì dùng, dầu

"cẩu nhục" đi nữa không sao.

Phạm Thái vừa nhắp cạn chén trà mạn tống khẩu thì ở ngoài hàng có tiếng

nguyền rủa om sòm. Chàng tò mò ra xem: Một công tử cầm tờ giấy đầy chữ in

bảo chủ quán:

— Ta đến trước cửa hàng nhà ngươi bắt được mảnh giấy ghê gớm này.

Phạm Thái đến gần thì vừa gặp chú tiểu tỏ vẻ kinh ngạc đưa mắt nhìn chàng.

Chàng cũng quắc mắt nhìn lại, rồi ôn tồn hỏi người vừa vào:

— Tờ giấy gì thế? Công tử đọc cho tôi nghe với.

— Một tờ giấy chữ nôm, nhà sư ạ. Chẳng biết đứa nào hỗn xược dám viết, dám

in những câu phạm thượng thế này?

Rồi chàng lẩm nhẩm đọc:

"Từ khi đức Thái tổ nhà Lê ta khởi nghĩa ở Lam Sơn đánh đuổi quân Minh mà

lấy lại giang sơn gấm vóc tới nay, trải có hai mươi bốn đời vua, gần bốn trăm

năm dựng nghiệp đế, thừa lệnh trời trị nhân dân trăm họ. Tuy trong khoảng vài

chục năm, cha con họ Mạc manh tâm phản phúc thoán đoạt ngôi rồng nhưng lưới

trời riết ráo kẻ thoán nghịch tránh sao cho khỏi sa vào.

"Nay anh em cha con Tây Sơn ngu độn, bạo ngược, chẳng hiểu lẽ mệnh trời,

chẳng nghĩ tới nghĩa vua tôi, dám dấy quân phản loạn để đến nỗi hoàng đế phải

phiêu lưu đất khách gần mười năm nay. Than ôi, vua bị nhục, bầy tôi phải chết!

Nay vua ta bị nhục mà ta nỡ sống an nhàn được ru?

"Hỡi anh em, ta phải tỏ cho quân Tây Sơn biết rằng đất Bắc chẳng thiếu anh

hùng, nghĩa sĩ. Anh em hẳn còn nhớ câu nói ngạo mạn, khinh thị của Nguyễn Huệ

khi hắn mới tới Thăng Long. Hắn nói rằng: Ngoài Bắc Hà chỉ có mỗi một thằng

Chỉnh, nay đã theo hầu tao rồi. Còn thì toàn một giống giẽ giun, cầy sấy".

"Anh em đã nghe rõ chưa?

"Vậy, nào những ai là bầy tôi trung nhà Lê - mà ai lại không là bầy tôi trung

nhà Lê, vì ông cha chúng ta đều đời đời ăn lộc nhà Lê, - hãy đêm ngày lo toan việc

khởi nghĩa phục thù cho nhà Lê đi. Bọn chúng tôi hợp tập được một đảng có mấy

vạn người tản mát khắp các nơi, chỉ chờ anh em trong nước tiếp ứng là khởi sự đó

thôi.

Ký tên:

"Những tôi trung của nhà Đại Lê

Niên hiệu Chiêu Thống thứ mười hai"

Nghe đọc xong tờ hịch Phạm Thái nói:

— A di đà phật! Lời lẽ mạnh quá!

— Nhưng ta phải mang tờ giấy này lên trình quan trấn thủ mới được.

Dứt lời, chàng hấp tấp đứng dậy đi thẳng.

Chàng công tử vừa ra khỏi thì một bọn quan võ đến hàng thét bảo chủ quán

làm rượu.

Phạm Thái nghe một người nói:

— Đã biết mà! Nó chưa đi thoát vùng này mà!

— Ngài nói Đào Phùng?

— Chứ còn ai? Gớm thật! Vừa trốn ở ngục ra đã táo tợn dám đi rải hịch xúi dân

làm loạn được rồi.

Một người hỏi:

— Những tờ hịch chữ in. Vậy nó khắc, nó in sao chóng thế được?

Một người khác, giọng bí mật:

— Ồ phải biết, đảng nó to lắm!

Phạm Thái mỉm cười, quay vào nhà trong uống rượu.

— Hết chương 12 —

Mục lục Tiêu Sơn tráng sĩ

  1. 1Hồi 1: Người khách lạ14 phút
  2. 2Hồi 2: Bến Lo12 phút
  3. 3Hồi 3: Sư ông10 phút
  4. 4Hồi 4: Tiêu Sơn kết nghĩa12 phút
  5. 5Hồi 5: Trên lầu Tiêu Lĩnh19 phút
  6. 6Hồi 6: Quan quân11 phút
  7. 7Hồi 7: Bà hoàng phi họ Nguyễn9 phút
  8. 8Hồi 8: Cửa Bắc10 phút
  9. 9Hồi 9: Trong rừng Đình Bảng13 phút
  10. 10Hồi 10: Chín và sống12 phút
  11. 11Hồi 11: Cái võng thịt9 phút
  12. 12Hồi 12: Tờ phả khuyến13 phút
  13. 13Hồi 13: Quần sư tụ hội11 phút
  14. 14Hồi 14: Cái trống lớn10 phút
  15. 15Hồi 15: Ai lên xứ Lạng cùng anh9 phút
  16. 16Hồi 16: Sông nước6 phút
  17. 17Hồi 17: Một nhà ẩn sĩ11 phút
  18. 18Hồi 18: Sấm12 phút
  19. 19Hồi 19: Đả lôi đài9 phút
  20. 20Hồi 20: Vua Chiêu Thống12 phút
  21. 21Hồi 21: Thanh Xuyên hầu5 phút
  22. 22Hồi 22: Tâm sự7 phút
  23. 23Hồi 23: Cái cũi người7 phút
  24. 24Hồi 24: Nguyễn công tử8 phút
  25. 25Hồi 25: Tướng ấy là ai?8 phút
  26. 26Hồi 26: Mưu mô8 phút
  27. 27Hồi 27: Bại lộ3 phút
  28. 28Hồi 28: Đường hầm7 phút
  29. 29Hồi 29: Ma hiện hồn14 phút
  30. 30Hồi 30: Việc lớn7 phút
  31. 31Hồi 31: Chùa Non Nước9 phút
  32. 32Hồi 32: Bi ai7 phút
  33. 33Hồi 33: Kiến Xuyên hầu8 phút
  34. 34Hồi 34: Long Cơ7 phút
  35. 35Hồi 35: Thử tài8 phút
  36. 36Hồi 36: Rượu tiễn chưa tàn7 phút
  37. 37Hồi 37: Cảnh điêu tàn9 phút
  38. 38Hồi 38: Quán Bạch PhượngĐang thu âm
  39. 39Hồi 39: Cô hàng trầu nước10 phút
  40. 40Hồi 40: Chủ quán6 phút
  41. 41Hồi 41: Hành hìnhĐang thu âm
  42. 42Hồi 42: Thầy tướng sốĐang thu âm
  43. 43Hồi 43: Tìm bạn đồng chíĐang thu âm
  44. 44Hồi 44: Sơ kính tân trangĐang thu âm
  45. 45Hồi 45: Quyển phóngĐang thu âm
  46. 46Hồi 46: Kén rểĐang thu âm
  47. 47Hồi 47: Nói chuyện văn chươngĐang thu âm
  48. 48Hồi 48: Khóc Trương Quỳnh NhưĐang thu âm
  49. 49Hồi 49: Trên đường thiên lýĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKhái Hưng (1896 – 1947)
Năm mất1947
Xuất bản lần đầu1937
Tình trạngHết thời hạn bảo hộ quyền tài sản tại Việt Nam từ 01/01/1998
Nguồn văn bảnBản đánh máy công khai (ebook downloadsachmienphi.com qua metaisach.com) đối chiếu từng chữ với truyenfull
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →