Chương 1: Một mình giữa vùng đất cằn
Rốt cuộc sẽ còn lại điều này:
Họ đã sống, đã liều một phen.
Dù vàng trên chiếu bạc đã mất,
Canh bạc ấy vẫn chẳng uổng công.
Hai người đàn ông khập khiễng bước xuống bờ dốc. Có lúc người đi trước loạng choạng giữa đám đá lổn nhổn. Cả hai đều mệt lả, yếu ớt, gương mặt hằn vẻ nhẫn nhục của những kẻ đã chịu đựng gian khổ quá lâu. Trên vai mỗi người là một bọc chăn nặng trĩu, buộc chặt bằng dây đai. Một sợi dây vắt ngang trán đỡ thêm sức nặng của bọc hành lý. Mỗi người mang một khẩu súng trường. Họ đi lom khom, vai đổ về phía trước, đầu còn nhô xa hơn nữa, mắt dán xuống đất.
Người đi sau lên tiếng:
— Giá mà mình có được chừng hai viên đạn trong số đạn để ở chỗ cất đồ của mình nhỉ.
Giọng anh ta đều đều, rệu rã, chẳng chút sinh khí. Người đi trước đang khập khiễng lội vào dòng suối trắng đục sủi bọt trên đá, không buồn đáp lại một lời.
Người kia lẽo đẽo theo sau. Họ không cởi giày, dù nước lạnh như băng, lạnh đến mức mắt cá chân buốt nhói và bàn chân tê dại. Có chỗ nước xô lên tới đầu gối, cả hai phải chới với tìm chỗ đặt chân.
Người đi sau trượt trên một tảng đá nhẵn, suýt ngã, nhưng gắng sức hết mình gượng lại được, miệng bật lên một tiếng kêu đau. Anh ta có vẻ choáng váng, chóng mặt, chìa bàn tay còn rảnh ra trong khi lảo đảo, như muốn bám vào không khí. Khi đã đứng vững, anh bước tới, nhưng lại lảo đảo, suýt ngã lần nữa. Rồi anh đứng yên, nhìn theo người kia, kẻ chưa hề ngoảnh đầu lại.
Anh đứng lặng suốt một phút, như đang giằng co với chính mình. Rồi anh gọi to:
— Này Bin, tôi bị trẹo chân rồi.
Bin vẫn lảo đảo lội qua dòng nước trắng đục. Hắn không ngoái lại. Người đàn ông nhìn hắn đi, và tuy mặt anh vẫn trơ ra như cũ, đôi mắt anh giống hệt mắt một con nai bị thương.
Người kia khập khiễng leo lên bờ bên kia, cứ thế đi thẳng, không nhìn lại. Người đứng giữa suối dõi theo. Môi anh run run, khiến chòm ria nâu rậm rạp phủ trên môi cũng rung lên thấy rõ. Anh còn đưa lưỡi ra liếm môi cho ướt.
— Bin ơi! — anh kêu lên.
Đó là tiếng van nài của một người đàn ông khoẻ mạnh lâm vào cơn khốn quẫn, nhưng Bin không quay đầu. Người đàn ông nhìn hắn đi, dáng đi khập khiễng kỳ quặc, chúi người tới trước từng bước chập choạng, leo lên con dốc thoai thoải về phía đường chân trời mềm mại của ngọn đồi thấp. Anh nhìn mãi cho tới khi hắn vượt qua đỉnh đồi và khuất hẳn. Bấy giờ anh mới quay đi, chậm rãi đưa mắt nhìn vòng quanh cái thế giới còn lại của mình, khi Bin đã bỏ đi rồi.
Gần chân trời, mặt trời âm ỉ cháy, mờ mờ, gần như bị che khuất sau những lớp sương mù và hơi nước không hình thù, trông nặng nề, dày đặc mà chẳng có đường nét nào để nắm bắt. Người đàn ông dồn sức lên một chân, rút đồng hồ ra xem. Bốn giờ chiều. Mùa này đã vào khoảng cuối tháng Bảy hay đầu tháng Tám, anh không biết chính xác ngày nào, sai lệch một hai tuần cũng nên, nên anh biết mặt trời đang ở chừng hướng tây bắc. Anh nhìn về phía nam và biết rằng đâu đó sau những ngọn đồi trơ trụi kia là hồ Gấu Lớn. Anh cũng biết rằng về phía ấy, Vòng Bắc Cực đang vạch đường ranh lạnh lẽo của nó ngang qua vùng Đất Cằn của Ca-na-đa. Con suối anh đang đứng là một nhánh đổ vào sông Cốp-pơ-main, mà sông Cốp-pơ-main thì chảy lên phía bắc, đổ ra vịnh Cô-rô-nây-sân và Bắc Băng Dương. Anh chưa từng tới đó bao giờ, nhưng đã có lần nhìn thấy nó trên một tấm bản đồ của Công ty Vịnh Hớt-xơn.
Một lần nữa anh nhìn vòng quanh thế giới bao bọc mình. Đó không phải cảnh tượng khiến người ta vững dạ. Đâu đâu cũng là đường chân trời mềm mại. Đồi nào cũng thấp lè tè. Không cây cối, không bụi rậm, không cả cỏ, chẳng có gì ngoài một vùng hoang vu mênh mông khủng khiếp, khiến nỗi sợ hãi chợt bừng lên trong mắt anh.
— Bin ơi! — anh thì thào, một lần, rồi lần nữa. — Bin ơi!
Anh co rúm người giữa dòng nước trắng đục, như thể cái mênh mông kia đang ập xuống anh với một sức mạnh không cưỡng nổi, đè bẹp anh một cách tàn nhẫn bằng vẻ dửng dưng ghê rợn của nó. Anh bắt đầu run lên như lên cơn sốt rét, run tới mức khẩu súng tuột khỏi tay rơi tõm xuống nước. Chính tiếng ấy làm anh bừng tỉnh. Anh vật lộn với nỗi sợ, gắng trấn tĩnh lại, mò mẫm dưới nước nhặt lại khẩu súng. Anh xốc bọc hành lý lệch hẳn sang vai trái, để bớt phần sức nặng đè lên cái mắt cá bị đau. Rồi anh bước đi, chậm rãi, thận trọng, nhăn mặt vì đau, tiến vào bờ.
Anh không dừng lại. Với một nỗi tuyệt vọng gần như điên dại, mặc kệ cơn đau, anh hối hả leo lên con dốc, tới đỉnh ngọn đồi nơi người bạn đồng hành đã khuất bóng. Dáng anh còn kỳ quặc, buồn cười hơn nhiều so với cái dáng khập khiễng giật cục của người bạn kia. Nhưng tới đỉnh, anh chỉ thấy một thung lũng nông, vắng lặng không một bóng sự sống. Anh lại vật lộn với nỗi sợ, lại thắng được nó, xốc bọc hành lý sang vai trái thêm chút nữa, rồi loạng choạng bước xuống dốc.
Đáy thung lũng sũng nước. Lớp rêu dày giữ nước sát mặt đất như một miếng bọt biển. Mỗi bước chân, nước lại phọt ra dưới gót, và mỗi lần nhấc chân lên lại nghe một tiếng lép nhép, như thể lớp rêu ướt tiếc rẻ chẳng muốn buông ra. Anh dò dẫm từ bãi lầy này sang bãi lầy khác, lần theo dấu chân của người kia dọc theo, rồi băng ngang những gờ đá nhô lên như những hòn đảo nhỏ giữa biển rêu.
Dù chỉ còn một mình, anh không hề lạc đường. Anh biết đi xa hơn nữa sẽ tới một nơi có những cây vân sam, cây linh sam chết khô, nhỏ bé, còi cọc, mọc ven bờ một cái hồ con. Người bản xứ gọi chỗ ấy theo tiếng của họ là Xứ Que Nhỏ. Có một con suối nhỏ chảy vào hồ, nước không trắng đục. Ven suối có cỏ lác, điều này anh nhớ rất rõ, nhưng không có cây gỗ nào. Anh sẽ đi ngược con suối cho tới khi dòng nước nhỏ nhất của nó cạn hẳn ở một đường phân thuỷ. Anh sẽ vượt qua đường phân thuỷ ấy, tới dòng nước đầu tiên của một con suối khác chảy về phía tây, rồi đi xuôi theo nó cho tới khi nó đổ vào sông Đi-xơ. Ở đó, anh sẽ tìm thấy chỗ cất đồ, dưới một chiếc xuồng úp ngược, có nhiều tảng đá chất lên trên. Trong chỗ cất đồ ấy có đạn cho khẩu súng rỗng của anh, có lưỡi câu, dây câu, một tấm lưới nhỏ, đủ mọi thứ để săn bắt và đặt bẫy kiếm cái ăn. Lại có cả bột mì, không nhiều lắm, một miếng thịt lợn muối và ít đậu.
Bin sẽ chờ anh ở đó, rồi hai người sẽ chèo xuồng xuôi về nam theo sông Đi-xơ tới hồ Gấu Lớn. Rồi họ sẽ vượt hồ, đi về nam, mãi về nam, cho tới khi gặp sông Mác-ken-di. Rồi về nam, vẫn về nam, trong khi mùa đông đuổi theo sau lưng mà chẳng kịp, trong khi băng đóng ở những xoáy nước và ngày càng thêm lạnh buốt, về nam tới một trạm buôn ấm áp nào đó của Công ty Vịnh Hớt-xơn, nơi cây gỗ mọc cao lớn sum suê và thức ăn thì nhiều vô kể.
Đó là những ý nghĩ của người đàn ông trong lúc anh cố lê bước. Nhưng thân xác anh gắng gượng bao nhiêu thì đầu óc anh cũng gắng gượng bấy nhiêu, cố tin rằng Bin không bỏ rơi anh, rằng Bin chắc chắn sẽ chờ anh ở chỗ cất đồ. Anh buộc phải tin như thế, bằng không thì gắng gượng làm gì nữa, anh sẽ nằm xuống mà chết. Và trong lúc vầng mặt trời mờ đục chậm rãi chìm xuống phía tây bắc, anh đi lại trong trí từng tấc đường, đi lại nhiều lần, của cuộc trốn chạy về phương nam cùng Bin trước khi mùa đông ập xuống. Anh nhẩm đi nhẩm lại số thức ăn trong chỗ cất đồ, số thức ăn ở trạm buôn của Công ty Vịnh Hớt-xơn. Đã hai ngày nay anh chưa ăn gì. Còn được ăn cho no thì đã lâu lắm rồi chưa được. Anh luôn cúi xuống hái những quả mọng nhợt nhạt mọc trên bãi lầy, bỏ vào miệng nhai rồi nuốt. Mỗi quả chỉ là một cái hạt bọc trong chút nước. Vào miệng, nước tan đi, còn cái hạt nhai thì sắc và đắng. Anh biết những quả ấy chẳng có chút bổ dưỡng nào, nhưng anh vẫn kiên nhẫn nhai, với một niềm hy vọng lớn hơn cả hiểu biết, bất chấp mọi kinh nghiệm.
Chín giờ tối, anh vấp ngón chân vào một gờ đá, và vì quá mệt, quá yếu, anh loạng choạng ngã xuống. Anh nằm nghiêng một lúc lâu, không cựa quậy. Rồi anh tuột ra khỏi dây đai bọc hành lý, vụng về lết người ngồi dậy. Trời chưa tối hẳn, và trong ánh hoàng hôn còn vương lại, anh lần mò giữa đám đá tìm những mẩu rêu khô. Gom được một đống, anh nhóm lửa, một ngọn lửa âm ỉ, khói mù mịt, rồi đặt một cái ca thiếc đựng nước lên đun.
Anh mở bọc hành lý, và việc đầu tiên anh làm là đếm diêm. Có sáu mươi bảy que. Anh đếm ba lần cho chắc. Anh chia chúng thành mấy phần, gói vào giấy dầu, cho một bó vào túi thuốc lá đã rỗng, một bó nhét vào vành trong chiếc mũ tả tơi, bó thứ ba để dưới áo sơ mi, sát ngực. Làm xong, một cơn hoảng hốt ập đến, anh lại mở hết ra đếm lại. Vẫn sáu mươi bảy que.
Anh hong đôi giày ướt bên lửa. Đôi giày da mềm đã nát thành từng mảnh sũng nước. Đôi tất dệt bằng vải chăn thủng nhiều chỗ, bàn chân anh trầy trụa, rớm máu. Mắt cá chân nhức nhối từng hồi, anh xem xét nó. Nó đã sưng to bằng đầu gối. Anh xé một dải dài từ một trong hai tấm chăn, băng chặt mắt cá chân. Anh xé thêm mấy dải nữa quấn quanh bàn chân, thay cho cả giày lẫn tất. Rồi anh uống hết ca nước nóng bốc hơi, lên dây cót đồng hồ, chui vào giữa hai tấm chăn.
Anh ngủ say như chết. Khoảng tối ngắn ngủi quanh nửa đêm đến rồi đi. Mặt trời mọc ở phía đông bắc, hay ít ra ngày cũng rạng lên ở phía ấy, vì mặt trời bị mây xám che khuất.
Sáu giờ sáng, anh thức giấc, nằm ngửa yên lặng. Anh nhìn thẳng lên bầu trời xám và biết rằng mình đói. Khi anh xoay người chống khuỷu tay, một tiếng khịt mũi thật to làm anh giật mình. Anh thấy một con tuần lộc đực đang nhìn mình chăm chăm, tò mò mà cảnh giác. Con vật đứng cách anh chưa đầy mười lăm mét. Lập tức trong đầu anh hiện lên hình ảnh và mùi vị một miếng thịt tuần lộc đang xèo xèo trên lửa. Như cái máy, anh với lấy khẩu súng rỗng, ngắm, bóp cò. Con tuần lộc khịt mũi nhảy vọt đi, móng gõ lách cách trên những gờ đá khi nó chạy trốn.
Người đàn ông chửi thề, quăng khẩu súng rỗng ra xa. Anh rên lên thành tiếng khi bắt đầu lê người đứng dậy. Đó là một việc chậm chạp và khó nhọc.
Các khớp xương anh như những bản lề hoen gỉ. Chúng chuyển động khô khốc, rít lên trong ổ, và mỗi lần co duỗi đều phải dồn hết ý chí. Đứng lên được rồi, anh còn mất thêm một phút nữa mới duỗi thẳng được lưng, đứng thẳng như một con người đáng phải đứng.
Anh bò lên một gò nhỏ, phóng mắt nhìn quanh. Không cây cối, không bụi rậm, chẳng có gì ngoài một biển rêu xám, lác đác vài tảng đá xám, vài cái hồ con xám, vài dòng suối nhỏ xám. Bầu trời cũng xám. Không có mặt trời, chẳng có lấy một dấu hiệu nào của mặt trời. Anh không biết đâu là hướng bắc, và đã quên mất con đường mình đi tới chỗ này đêm qua. Nhưng anh không hề lạc. Anh biết thế. Chẳng mấy chốc anh sẽ tới Xứ Que Nhỏ. Anh cảm thấy nó nằm đâu đó bên tay trái, không xa lắm, có khi chỉ ngay sau ngọn đồi thấp phía trước thôi.
Anh quay lại sửa sang bọc hành lý để lên đường. Anh kiểm lại xem ba gói diêm vẫn còn đó, nhưng không dừng lại đếm. Có điều anh nấn ná rất lâu, đắn đo mãi bên một cái túi da nai sừng tấm bè bè. Nó không lớn, hai bàn tay anh úp lại là che khuất. Anh biết nó nặng gần bảy cân, nặng bằng tất cả phần còn lại của bọc hành lý cộng lại, và điều ấy làm anh băn khoăn. Cuối cùng anh đặt nó sang một bên, bắt đầu cuộn bọc hành lý. Anh dừng tay, nhìn cái túi da nai bè bè. Rồi anh vội vàng chộp lấy nó, đưa mắt nhìn quanh đầy thách thức, như thể vùng hoang vu kia đang định cướp nó khỏi tay anh. Và khi anh đứng dậy, lảo đảo bước vào ngày mới, cái túi vẫn nằm trong bọc hành lý trên lưng anh.
Anh rẽ sang trái, thỉnh thoảng dừng lại ăn quả mọng trên bãi lầy. Mắt cá chân đã cứng đờ, anh đi càng khập khiễng hơn, nhưng cơn đau ấy chẳng thấm gì so với cơn đau trong dạ dày. Cơn đói cồn cào dữ dội. Nó gặm nhấm, gặm nhấm mãi, tới mức anh không giữ nổi đầu óc tỉnh táo để nghĩ về con đường phải đi tới Xứ Que Nhỏ. Quả mọng không làm dịu được cơn gặm nhấm ấy, lại còn làm lưỡi và vòm miệng anh rát bỏng vì vị chát của chúng.
Anh tới một thung lũng có những con gà gô trắng vỗ cánh phành phạch bay lên từ các gờ đá và bãi lầy. Tiếng chúng kêu cờ, cờ, cờ. Anh ném đá theo, nhưng không trúng con nào. Anh đặt bọc hành lý xuống đất, rình bắt chúng như mèo rình chim sẻ. Đá sắc cứa rách ống quần, đầu gối anh để lại một vệt máu dài, nhưng nỗi đau ấy chìm nghỉm trong nỗi đau của cơn đói. Anh trườn trên lớp rêu ướt, quần áo sũng nước, người lạnh cóng, nhưng anh không hề hay biết, vì cơn thèm ăn đã nung anh như lên cơn sốt. Lúc nào lũ gà gô cũng vụt bay lên trước mặt anh, phành phạch, cho tới khi tiếng cờ, cờ, cờ của chúng thành ra một lời chế nhạo, và anh chửi rủa chúng, gào lên với chúng bằng chính tiếng kêu của chúng.
Có một lần anh bò tới sát một con hẳn đang ngủ. Anh không trông thấy nó cho tới khi nó vụt bay lên ngay trước mặt anh từ một hốc đá. Anh chộp lấy, cũng giật mình y như con gà gô, và trong tay anh chỉ còn lại ba chiếc lông đuôi. Nhìn theo nó bay đi, anh căm ghét nó, như thể nó vừa gây cho anh một điều oan trái khủng khiếp. Rồi anh quay lại, khoác bọc hành lý lên vai.
Ngày trôi dần, anh tới những thung lũng, những vùng trũng có nhiều thú hơn. Một đàn tuần lộc đi ngang qua, hơn hai mươi con, trong tầm súng, như cố tình trêu ngươi. Anh thấy một niềm thôi thúc điên cuồng muốn đuổi theo chúng, tin chắc rằng mình có thể đuổi kịp. Một con cáo đen đi về phía anh, miệng ngậm một con gà gô. Người đàn ông hét lên. Đó là một tiếng hét đáng sợ, nhưng con cáo, dù hoảng hốt nhảy vọt đi, vẫn không nhả con gà gô ra.
Chiều muộn, anh đi dọc một con suối trắng đục vì vôi, chảy qua những đám cỏ lác lơ thơ. Nắm chặt gốc cỏ lác, anh nhổ lên được một thứ trông như mầm hành non, không to hơn cái đinh đóng ván. Nó mềm, răng anh cắn vào nghe giòn sựt, hứa hẹn một thứ thức ăn ngon lành. Nhưng xơ của nó dai nhách. Nó chỉ toàn là những sợi xơ thấm nước, giống như quả mọng, chẳng có gì bổ dưỡng. Anh quăng bọc hành lý xuống, bò bằng cả tay lẫn gối vào giữa đám cỏ lác, nhai rau ráu, nhồm nhoàm, như một con bò đang gặm cỏ.
Anh mệt rã rời, nhiều lúc chỉ muốn nghỉ, muốn nằm xuống mà ngủ. Nhưng anh cứ bị thúc đi mãi, không hẳn vì mong tới được Xứ Que Nhỏ mà vì cơn đói. Anh lục tìm ếch nhái trong những vũng nước nhỏ, lấy móng tay cào đất tìm giun, dù vẫn biết rằng ở tận miền cực bắc này chẳng có ếch, cũng chẳng có giun.
Anh nhìn vào từng vũng nước mà chẳng được gì, cho tới khi hoàng hôn dài dằng dặc buông xuống, anh phát hiện trong một vũng có một con cá đơn độc, to chừng con cá tuế. Anh thọc tay xuống tới tận vai, nhưng nó lẩn mất. Anh thò cả hai tay vớt, khuấy tung lớp bùn trắng đục dưới đáy. Hăng quá, anh ngã nhào xuống, ướt tới thắt lưng. Thế là nước đục ngầu, không nhìn thấy cá đâu nữa, anh đành chờ cho bùn lắng xuống.
Cuộc săn đuổi lại tiếp tục, cho tới khi nước lại vẩn đục. Nhưng anh không chờ nổi nữa. Anh tháo cái ca thiếc ra, bắt đầu tát cạn vũng nước. Lúc đầu anh tát cuống cuồng, nước bắn tung toé lên người, hắt ra gần quá nên lại chảy ngược vào vũng. Anh làm cẩn thận hơn, cố giữ bình tĩnh, dù tim đập thình thịch trong lồng ngực, hai tay run lẩy bẩy. Nửa giờ sau, vũng nước gần cạn. Không còn lấy một ca nước. Và cũng chẳng có con cá nào. Anh tìm thấy một kẽ hở giữa đám đá, con cá đã theo đó trốn sang vũng bên cạnh, một vũng lớn hơn mà anh có tát cả ngày lẫn đêm cũng không cạn. Giá anh biết có kẽ hở ấy, ngay từ đầu chỉ cần lấy một hòn đá bịt lại là con cá đã về tay anh.
Nghĩ thế, anh gục xuống, ngồi sụp trên mặt đất ướt. Lúc đầu anh khóc khe khẽ một mình, rồi anh khóc to lên với vùng hoang vu tàn nhẫn đang vây quanh mình. Rất lâu sau đó, người anh vẫn còn rung lên vì những tiếng nấc khan.
Anh nhóm lửa, uống từng ca nước nóng cho ấm người, rồi dựng chỗ ngủ trên một gờ đá y như đêm hôm trước. Việc cuối cùng anh làm là xem diêm còn khô không và lên dây cót đồng hồ. Chăn ướt và lạnh nhớp nháp. Mắt cá chân nhói lên từng nhịp. Nhưng anh chỉ biết mỗi một điều là mình đói, và trong giấc ngủ chập chờn anh mơ thấy những bữa tiệc, những yến tiệc, những món ăn bày biện theo đủ mọi kiểu có thể tưởng tượng ra.
Anh thức dậy, người lạnh buốt và mệt lả. Không có mặt trời. Màu xám của đất và trời càng sẫm hơn, đặc quánh hơn. Một làn gió lạnh buốt thổi qua, và những đợt tuyết đầu mùa đã phủ trắng các đỉnh đồi. Trong lúc anh nhóm lửa đun thêm nước, không khí quanh anh dày lên và trắng xoá. Đó là tuyết ướt, nửa tuyết nửa mưa, những bông tuyết to và sũng nước. Lúc đầu chúng chạm đất là tan ngay, nhưng tuyết rơi mỗi lúc một nhiều, phủ kín mặt đất, dập tắt ngọn lửa, làm hỏng hết chỗ rêu anh gom về để đốt.
Đó là dấu hiệu để anh khoác bọc hành lý lên lưng mà vấp váp đi tiếp, đi đâu thì anh không biết. Anh chẳng còn bận tâm tới Xứ Que Nhỏ, tới Bin, hay chỗ cất đồ dưới chiếc xuồng úp ngược bên sông Đi-xơ nữa. Anh bị chế ngự hoàn toàn bởi một chữ: ăn. Anh đói đến phát điên. Anh chẳng để ý mình đang đi hướng nào, miễn là con đường ấy dẫn qua những vùng đáy trũng. Anh mò mẫm trong tuyết ướt tìm những quả mọng sũng nước, lần tay nhổ cỏ lác lên tận gốc. Nhưng chúng nhạt thếch, ăn không thấy no. Anh tìm được một thứ cỏ dại có vị chua, gặp bao nhiêu ăn bấy nhiêu, mà chẳng được bao nhiêu, vì nó là loài bò lan, dễ bị vùi dưới lớp tuyết dày mấy đốt tay.
Đêm ấy không có lửa, không có nước nóng, anh chui vào chăn ngủ một giấc chập chờn của kẻ đói. Tuyết chuyển thành mưa lạnh. Anh thức giấc nhiều lần, thấy mưa rơi lộp độp trên mặt mình đang ngửa lên. Ngày tới, một ngày xám xịt, không mặt trời. Mưa đã tạnh. Cơn đói không còn cồn cào dữ dội nữa. Cảm giác thèm ăn đã cạn kiệt. Trong dạ dày chỉ còn một cơn đau âm ỉ, nặng nề, nhưng nó không hành anh nhiều lắm. Đầu óc anh tỉnh táo hơn, và một lần nữa anh lại chủ yếu nghĩ tới Xứ Que Nhỏ và chỗ cất đồ bên sông Đi-xơ.
Anh xé phần còn lại của một tấm chăn thành từng dải, quấn đôi bàn chân rớm máu. Anh cũng buộc lại mắt cá chân bị đau, chuẩn bị cho một ngày đường. Tới chỗ bọc hành lý, anh dừng lại rất lâu bên cái túi da nai bè bè, nhưng rốt cuộc nó vẫn đi cùng anh.
Mưa đã làm tan tuyết, chỉ còn các đỉnh đồi là trắng. Mặt trời ló ra, anh định được phương hướng, dù giờ đây anh biết rằng mình đã lạc. Có lẽ trong mấy ngày lang thang vừa rồi anh đã lệch quá xa về bên trái. Bây giờ anh rẽ sang phải để bù lại chỗ lệch có thể có so với hướng đi đúng.
Dù cơn đói không còn quặn thắt dữ dội như trước, anh nhận ra mình đã yếu lắm. Anh phải dừng lại nghỉ luôn, những lúc ấy anh vồ lấy quả mọng và những đám cỏ lác. Lưỡi anh khô và dày lên, như có một lớp lông tơ mọc phủ, và trong miệng thấy đắng ngắt. Tim anh hành anh rất khổ. Mới đi được vài phút, nó đã bắt đầu đập thình, thình, thình không thương xót, rồi vọt lên thành một tràng đập loạn xạ, đau đớn, làm anh nghẹn thở, choáng váng, xây xẩm mặt mày.
Giữa trưa, anh thấy hai con cá tuế trong một vũng nước lớn. Không thể tát cạn vũng này, nhưng giờ anh đã bình tĩnh hơn, và anh bắt được chúng bằng cái ca thiếc. Chúng không dài hơn ngón tay út, nhưng anh cũng chẳng thấy đói lắm. Cơn đau âm ỉ trong dạ dày mỗi lúc một mờ nhạt, yếu dần. Dường như dạ dày anh đang thiu thiu ngủ. Anh ăn sống mấy con cá, nhai kỹ càng, chậm rãi, vì việc ăn lúc này hoàn toàn là việc của lý trí. Anh không thèm ăn, nhưng anh biết mình phải ăn để sống.
Chiều tối, anh bắt thêm được ba con cá tuế, ăn hai con, để dành một con cho bữa sáng. Mặt trời đã hong khô những mẩu rêu lác đác, và anh có thể đun nước nóng sưởi ấm. Hôm ấy anh đi chưa được mười sáu cây số. Hôm sau, cứ tim cho phép là đi, anh chỉ đi được chừng tám cây số. Nhưng dạ dày không làm anh khó chịu chút nào nữa. Nó đã ngủ rồi. Anh cũng đã tới một vùng đất lạ, ở đây tuần lộc mỗi lúc một nhiều, và chó sói cũng vậy. Tiếng chúng tru vẳng qua vùng hoang vu, và có một lần anh thấy ba con lén lút lảng đi trước mặt mình.
Lại một đêm nữa. Sáng ra, đầu óc tỉnh táo hơn, anh cởi sợi dây da buộc miệng cái túi da nai bè bè. Từ miệng túi tuôn ra một dòng vàng óng, bụi vàng hạt to lẫn những cục vàng. Anh chia đại số vàng làm hai, gói một nửa trong một mảnh chăn, cất lên một gờ đá nhô cao dễ nhận, nửa kia trả lại vào túi. Anh cũng bắt đầu xé tấm chăn cuối cùng để quấn chân. Anh vẫn giữ khư khư khẩu súng, vì ở chỗ cất đồ bên sông Đi-xơ có đạn.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn