Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Toà tháp vỏ ốc giữa biển

của Andrew Lang

⏱ 22 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 22.045 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày xưa có một ông vua được thần dân…
  2. 3:09Kiêu hãnh hay cứng cỏi thì tuỳ bệ hạ…
  3. 6:13Nhà vua được báo tin về số phận của…
  4. 10:15Bô-nét-ta bảo:
  5. 12:04Thưa công chúa, chắc công chúa đã bỏ đất…
  6. 13:55Hôm sau bà tiên tới cùng nàng tiên cá,…
  7. 17:31Mấy hôm sau, viên thuyền trưởng quay về, đưa…
  8. 20:13Gra-di-en-la rất ngạc nhiên khi thấy một con chim…

Ngày xưa có một ông vua được thần dân hết lòng yêu quý, và vua cũng thương dân tha thiết. Vua sống rất vui, nhưng chúa ghét chuyện lấy vợ, chưa bao giờ thấy mình muốn yêu ai. Thần dân nài vua lấy vợ, cuối cùng vua hứa sẽ thử xem. Nhưng vì cho tới lúc ấy vua chưa thương nổi người đàn bà nào từng gặp, vua quyết đi chu du, mong gặp được một người để yêu.

Thế là vua sắp xếp việc nước đâu ra đấy, rồi lên đường, chỉ có một viên quan hầu theo cùng. Viên quan này tuy không sáng dạ lắm, nhưng rất biết lẽ phải, mà những người như thế thường là bạn đường tốt nhất. Nhà vua đi khắp mấy nước, làm đủ mọi cách để phải lòng ai đó, nhưng vô ích. Đi được hai năm, vua quay về, lòng vẫn thảnh thơi như lúc ra đi.

Đang cưỡi ngựa qua một khu rừng, vua bỗng nghe những tiếng meo meo, rít ré của lũ mèo khủng khiếp nhất mà ta có thể tưởng tượng. Tiếng ồn mỗi lúc một gần, rồi họ thấy cả trăm con mèo Tây Ban Nha to lớn lao qua đám cây sát bên mình. Chúng chạy sát nhau đến nỗi một tấm áo choàng lớn cũng trùm kín được, con nào cũng chạy theo cùng một vệt đường. Đuổi sát sau lưng chúng là hai con khỉ khổng lồ mặc áo màu tím, đi những đôi ủng xinh và khéo nhất trần đời.

Hai con khỉ cưỡi hai con chó ngao tuyệt đẹp, thúc chó phóng như bay, miệng không ngớt thổi những chiếc kèn đồ chơi nhỏ, tiếng the thé.

Nhà vua và viên quan hầu đứng lại xem cuộc săn kỳ lạ ấy. Theo sau là hai chục người lùn hoặc hơn, kẻ cưỡi sói, dắt theo ngựa thay, kẻ dắt mèo bằng dây. Đám người lùn đều mặc chế phục lụa tím như hai con khỉ.

Một lát sau, một thiếu nữ xinh đẹp cưỡi hổ hiện ra. Nàng phi ngang sát bên nhà vua, nhanh hết tốc lực, chẳng thèm để ý tới vua. Nhưng vua lập tức say mê nàng, chỉ trong khoảnh khắc trái tim đã mất.

Vua mừng rỡ thấy có một người lùn tụt lại sau đoàn, bèn hỏi ngay. Người lùn kể rằng thiếu nữ vua vừa thấy là công chúa Mu-ti-nô-da, con gái nhà vua xứ mà họ đang đứng đây. Hắn kể thêm rằng công chúa rất mê săn bắn, lúc này đang đuổi thỏ.

Nhà vua bèn hỏi đường tới triều đình, được chỉ lối rồi vội vàng đi, chỉ một hai giờ đã tới kinh đô.

Vừa tới nơi, nhà vua khách vào yết kiến vua và hoàng hậu xứ ấy, xưng tên mình và tên nước mình, liền được đón tiếp nồng hậu. Chẳng bao lâu công chúa trở về. Nghe nói cuộc săn được nhiều, vua cha khen con, nhưng nàng chẳng đáp một lời.

Nhà vua khách hơi lạ vì nàng im lặng, nhưng còn lạ hơn khi suốt bữa tối nàng chẳng nói câu nào. Thỉnh thoảng nàng như sắp lên tiếng, nhưng lần nào cũng thế, cha hoặc mẹ nàng lập tức nói át đi. Tuy vậy, sự im lặng ấy không làm nguội tình yêu của nhà vua. Tối về phòng, vua thổ lộ nỗi lòng với viên quan hầu trung thành. Nhưng viên quan hầu chẳng vui chút nào trước mối tình của chủ, và cũng chẳng buồn giấu nỗi thất vọng.

Nhà vua hỏi:

— Sao ngươi lại phiền lòng? Công chúa chẳng đủ đẹp để làm vừa lòng bất cứ ai sao?

Viên quan hầu đáp:

— Nàng quả là đẹp thật. Nhưng muốn hạnh phúc thật sự trong tình yêu thì cần nhiều hơn là nhan sắc. Nói thật với bệ hạ, thần thấy nét mặt nàng có vẻ cứng cỏi lắm.

Nhà vua bảo:

— Ấy là vẻ kiêu hãnh, đường bệ, còn gì hợp với nàng bằng.

Viên quan hầu nói:

— Kiêu hãnh hay cứng cỏi thì tuỳ bệ hạ gọi. Nhưng theo thần, việc nàng chọn ngần ấy con thú dữ để làm trò vui cho thấy nàng có bản tính dữ dằn. Thần lại thấy có gì đó đáng ngờ trong việc người ta canh chừng không cho nàng nói.

Lời viên quan hầu rất có lý. Nhưng vì sự ngăn cản thường chỉ làm tình yêu trong lòng đàn ông thêm mãnh liệt, nhất là lòng các ông vua vốn ghét bị cãi lời, nên ngay hôm sau, nhà vua cầu hôn công chúa Mu-ti-nô-da. Lời cầu hôn được chấp thuận với hai điều kiện.

Điều thứ nhất là lễ cưới phải cử hành ngay ngày hôm sau. Điều thứ hai là vua không được nói chuyện với công chúa cho tới khi nàng thành vợ vua. Nhà vua chịu cả, mặc cho viên quan hầu can ngăn, nên lời đầu tiên vua nghe cô dâu nói là tiếng "Vâng" trong lễ cưới.

Nhưng cưới xong rồi thì nàng chẳng còn kìm giữ gì nữa. Các thị nữ hứng không biết bao nhiêu lời thô lỗ, ngay cả nhà vua cũng không thoát những trận mắng. Nhưng vua vốn hiền tính, lại yêu nàng say đắm, nên nhẫn nại chịu đựng. Mấy hôm sau lễ cưới, đôi vợ chồng mới lên đường về nước, chẳng để lại mấy niềm luyến tiếc.

Nỗi lo của viên quan hầu tốt bụng hoá ra đúng quá, và nhà vua phải trả giá mới biết. Hoàng hậu trẻ làm cho cả triều đình khó chịu, cái tính độc địa, cáu bẳn của bà không biết đâu là giới hạn, và chưa hết tháng đầu, khắp nơi đã biết tiếng bà là một mụ đanh đá có hạng.

Một hôm, đang cưỡi ngựa dạo chơi, bà gặp một bà lão nghèo khổ đi trên đường. Bà lão nhún mình chào rồi định đi tiếp, thì hoàng hậu cho giữ lại, quát:

— Mụ kia thật là hỗn láo. Mụ không biết ta là hoàng hậu à? Sao mụ dám không nhún chào ta thấp hơn?

Bà lão đáp:

— Thưa lệnh bà, già chưa bao giờ học cách đo xem nhún chào phải thấp bao nhiêu. Nhưng già chẳng hề có ý thất lễ.

Hoàng hậu thét lên:

— Cái gì! Nó còn dám cãi! Trói nó vào đuôi ngựa của ta, ta sẽ lôi nó ngay tới ông thầy dạy nhảy giỏi nhất thành phố cho nó học cách nhún chào.

Bà lão kêu xin thảm thiết, nhưng hoàng hậu không thèm nghe, lại còn chế nhạo khi bà lão nói mình được các bà tiên che chở. Cuối cùng bà lão tội nghiệp đành để người ta trói. Nhưng khi hoàng hậu thúc ngựa, nó không nhúc nhích. Bà thúc mãi vô ích, con ngựa như đã hoá thành đồng. Cùng lúc ấy, sợi dây trói bà lão biến thành những vòng hoa, còn chính bà lão thì hoá thành một phu nhân cao lớn, đường bệ.

Bà nhìn hoàng hậu khinh bỉ, nói:

— Đồ đàn bà độc ác, không xứng với vương miện. Ta muốn tự mình xem những điều ta nghe đồn về ngươi có thật không. Giờ thì ta chẳng còn nghi ngờ gì nữa, và ngươi sẽ biết các bà tiên có phải để ngươi đem ra làm trò cười hay không.

Nói rồi bà tiên Pla-xi-đa, vì tên bà là thế, thổi một chiếc còi vàng nhỏ. Một cỗ xe hiện ra, sáu con đà điểu tuyệt đẹp kéo, trên xe là bà Tiên Chúa, có một tá bà tiên khác cưỡi rồng hộ tống.

Mọi người xuống xe, Pla-xi-đa kể lại chuyện mình gặp. Bà Tiên Chúa tán thành mọi việc Pla-xi-đa làm, và đề nghị biến Mu-ti-nô-da thành tượng đồng như con ngựa của bà.

Nhưng Pla-xi-đa vốn hiền lành, tốt bụng, xin một hình phạt nhẹ hơn. Cuối cùng các bà tiên quyết định rằng Mu-ti-nô-da sẽ làm nô lệ cho Pla-xi-đa suốt đời, trừ khi bà sinh được một đứa con thay mình.

Nhà vua được báo tin về số phận của vợ, đành cam chịu, vì vua chẳng làm gì được hơn.

Rồi các bà tiên tản đi cả, Pla-xi-đa mang theo nô lệ của mình. Về tới cung điện, bà bảo:

— Đúng ra ngươi phải làm con ở rửa bát, nhưng ngươi quen được nuông chiều, đổi đột ngột thế có khi quá sức ngươi. Vì thế ta chỉ sai ngươi quét dọn các phòng của ta cho sạch, và tắm, chải lông cho con chó nhỏ của ta.

Mu-ti-nô-da thấy cãi lời cũng vô ích, đành làm theo, không nói gì.

Ít lâu sau, Mu-ti-nô-da sinh một bé gái xinh xắn nhất đời. Khi bà đã khoẻ lại, bà tiên giảng cho bà một bài về những việc đã làm, bắt bà hứa từ nay sẽ cư xử tử tế hơn, rồi cho bà về với chồng, nhà vua.

Từ đó Pla-xi-đa dồn hết tâm sức cho nàng công chúa nhỏ được giao lại cho mình. Bà nghĩ đi nghĩ lại xem nên mời những bà tiên nào làm mẹ đỡ đầu, để đứa con nuôi của mình được những món quà tốt nhất.

Cuối cùng bà chọn hai bà tiên rất hiền hậu, vui vẻ, mời tới dự tiệc rửa tội. Tiệc vừa xong, người ta bế đứa bé tới cho hai bà tiên, nằm trong một chiếc nôi pha lê xinh xắn, rủ màn lụa đỏ thêu kim tuyến.

Đứa bé mỉm cười với hai bà tiên dễ thương quá, khiến hai bà quyết dốc hết sức giúp nó. Trước tiên họ đặt tên cho bé là Gra-di-en-la. Rồi Pla-xi-đa nói:

— Các chị em biết đấy, trong họ nhà tiên chúng ta, cách trả thù hay trừng phạt thường gặp nhất là biến đẹp thành xấu, biến khôn thành ngu, mà thường hơn cả là biến hẳn người ta sang hình dạng khác. Vì mỗi người chỉ được tặng một món quà, em nghĩ tốt nhất là một chị cho nó nhan sắc, chị kia cho nó trí khôn, còn em xin lo sao cho nó không bao giờ bị biến thành hình dạng nào khác.

Hai bà mẹ đỡ đầu rất đồng ý. Công chúa nhỏ vừa nhận quà xong, hai bà ra về, còn Pla-xi-đa dốc lòng dạy dỗ đứa bé. Bà dạy khéo đến nỗi Gra-di-en-la lớn lên đẹp tuyệt trần, và khi nàng còn bé, tiếng tăm đã lan đi khắp nơi, lan xa quá mức. Một hôm, Pla-xi-đa ngạc nhiên khi thấy bà Tiên Chúa tới thăm, đi cùng một bà tiên trông rất nghiêm nghị, khắt khe.

Bà Tiên Chúa nói ngay:

— Ta rất ngạc nhiên về cách em đối xử với Mu-ti-nô-da. Nó đã xúc phạm cả dòng họ chúng ta, đáng phải bị trừng phạt. Em có thể tha thứ những gì người ta làm với em nếu em muốn, nhưng không được tha những gì người ta làm với người khác. Em đã đối xử với nó quá nhẹ tay trong thời gian nó ở với em, giờ ta tới để trả thù cho chúng ta lên đầu con gái nó. Em đã lo cho con bé được đẹp, được khôn, không bị biến đổi hình dạng, nhưng ta sẽ đặt nó vào một ngục tù có phép yêu, và nó sẽ không bao giờ ra khỏi đó, cho tới khi nó thấy mình nằm trong vòng tay một chàng trai yêu nó mà nó cũng yêu. Ta sẽ lo sao cho chuyện ấy không bao giờ xảy ra.

Ngục tù có phép yêu ấy là một toà tháp cao lớn giữa biển, xây bằng vỏ ốc đủ mọi hình dạng, mọi màu sắc. Tầng dưới cùng như một gian phòng tắm lớn, muốn thì cho nước vào, muốn thì tháo nước ra. Tầng một là những gian phòng của công chúa, bày biện lộng lẫy. Tầng hai có một thư viện, một gian phòng lớn đầy áo đẹp và đủ thứ đồ vải, một phòng âm nhạc, một gian kho đựng rượu ngon nhất, một gian chứa đủ thứ mứt, kẹo, bánh ngọt, bánh nào cũng tươi như vừa ra lò.

Nóc tháp bày thành một khu vườn, có những luống hoa đẹp nhất, những cây ăn quả trĩu trái, những giàn hoa, khóm cây rợp bóng, bao nhiêu là chim hót trên cành.

Các bà tiên đưa Gra-di-en-la cùng bà gia sư của nàng là bà Bô-nét-ta tới toà tháp, rồi cưỡi một con cá heo đang chờ sẵn. Ra cách toà tháp một quãng, bà Tiên Chúa vung đũa thần, triệu tới hai nghìn con cá mập to lớn hung dữ, ra lệnh canh giữ thật chặt, không cho một ai vào tháp.

Bà gia sư tốt bụng dạy dỗ Gra-di-en-la hết lòng, đến nỗi khi đã tới tuổi trưởng thành, nàng chẳng những tài hoa mọi bề, mà còn là một cô gái rất dịu dàng, tốt bụng.

Một hôm, công chúa đang đứng trên ban công thì thấy một hình thù kỳ quặc nhất trồi lên khỏi mặt biển. Nàng vội gọi Bô-nét-ta ra hỏi đó là gì. Trông nó như một loại người nào đó, mặt xanh xanh, tóc dài màu xanh nước biển. Nó đang bơi về phía toà tháp, mà lũ cá mập chẳng hề để ý.

Bô-nét-ta bảo:

— Chắc là người cá đấy.

Gra-di-en-la reo lên:

— Bà bảo là một người đàn ông à? Ta mau xuống cửa xem cho gần.

Khi hai người đứng ở ngưỡng cửa, người cá dừng lại ngắm công chúa, làm đủ thứ điệu bộ tỏ ý ngưỡng mộ. Giọng hắn khàn đặc, và khi thấy không ai hiểu mình, hắn bèn ra hiệu. Hắn mang theo một cái giỏ nhỏ đan bằng liễu, đựng đầy những vỏ ốc quý hiếm, dâng lên công chúa.

Nàng nhận, ra hiệu cảm ơn. Nhưng trời đã chạng vạng, nàng lui vào, còn người cá lặn trở lại biển.

Khi chỉ còn hai người, Gra-di-en-la bảo bà gia sư:

— Cái sinh vật ấy trông khiếp quá! Sao lũ cá mập đáng ghét lại để hắn lại gần tháp nhỉ? Chắc không phải đàn ông nào cũng như hắn đâu, bà nhỉ?

Bô-nét-ta đáp:

— Không đâu, đâu phải thế. Chắc lũ cá mập coi hắn như họ hàng, nên không tấn công.

Mấy hôm sau, hai người nghe một thứ âm nhạc kỳ lạ, nhìn ra cửa sổ thì thấy người cá đầu đội vòng cỏ biển, đang ra sức thổi một cái tù và bằng vỏ ốc.

Hai người xuống cửa tháp, và Gra-di-en-la lịch sự nhận ít san hô cùng mấy món kỳ vật dưới biển hắn mang tới. Từ đó tối nào hắn cũng tới, thổi tù và, hoặc lặn ngụp làm trò dưới cửa sổ công chúa. Nàng chỉ cúi đầu chào hắn từ ban công, chứ dù hắn ra hiệu thế nào nàng cũng không chịu xuống cửa.

Mấy hôm sau, hắn dẫn tới một người cùng giống, nhưng là đàn bà. Tóc nàng ta chải rất khéo, giọng hát lại hay. Người mới tới khiến hai người chịu xuống cửa. Họ ngạc nhiên khi thấy nàng ta thử đủ thứ tiếng, rồi cuối cùng nói được tiếng của họ, lại khen nhan sắc Gra-di-en-la rất khéo.

Nàng tiên cá thấy tầng dưới cùng đầy nước, kêu lên:

— Ô, đúng là chỗ cho chúng ta rồi, vì chúng ta không sống hẳn trên cạn được.

Nói rồi nàng ta cùng anh trai bơi vào, ở lại trong phòng tắm, còn công chúa và bà gia sư ngồi trên những bậc thềm chạy quanh phòng.

Nàng tiên cá nói:

— Thưa công chúa, chắc công chúa đã bỏ đất liền mà ra đây ở là để tránh khỏi đám người si mê đông đúc. Nhưng tôi e rằng ngay cả ở đây công chúa cũng không tránh được họ, vì anh tôi đã yêu công chúa tới chết đi được, mà tôi dám chắc khi công chúa được người trong thành phố của chúng tôi thấy, anh ấy sẽ có khối kẻ tình địch.

Rồi nàng ta kể anh mình buồn khổ biết bao vì không nói cho người ta hiểu được, và nói thêm:

— Tôi làm thông ngôn cho anh ấy, vì một bà tiên đã dạy tôi mấy thứ tiếng.

Gra-di-en-la thở dài, hỏi:

— Ô, thế ra các bạn cũng có tiên à?

Nàng tiên cá đáp:

— Có chứ. Nhưng nếu tôi không nhầm thì công chúa đã phải khổ vì các bà tiên trên cạn.

Công chúa bèn kể cho nàng tiên cá nghe toàn bộ chuyện đời mình. Nàng tiên cá cam đoan rằng nàng rất thương công chúa, nhưng xin công chúa đừng nản lòng. Lúc từ biệt, nàng ta nói thêm:

— Biết đâu một ngày kia công chúa sẽ tìm được lối thoát khỏi cảnh khó khăn này.

Công chúa vui lắm vì cuộc thăm hỏi và niềm hy vọng nàng tiên cá gieo vào lòng. Được gặp ai đó mới mà trò chuyện cũng là quý lắm rồi.

Nàng bảo bà gia sư:

— Ta sẽ làm quen với mấy người trong giống ấy. Chắc không phải ai cũng gớm ghiếc như người đầu tiên mình thấy. Dù sao thì mình cũng đỡ buồn tẻ khủng khiếp như thế này.

Bô-nét-ta bảo:

— Trời đất, bọn trẻ các cô sao mà dễ hy vọng thế! Còn tôi, tôi sợ cái giống người ấy lắm. Nhưng cô nghĩ sao về anh chàng si tình cô vừa chinh phục được?

Công chúa kêu lên:

— Ôi, cháu không bao giờ yêu nổi hắn đâu, cháu không chịu nổi hắn. Nhưng biết đâu, như em gái hắn bảo, họ là họ hàng của bà tiên Ma-ri-na, thì họ có khi giúp được mình.

Nàng tiên cá hay quay lại. Lần nào nàng ta cũng nói về tình yêu của anh mình, còn lần nào Gra-di-en-la cũng nói về nỗi khao khát thoát khỏi ngục tù. Cuối cùng nàng tiên cá hứa sẽ đưa bà tiên Ma-ri-na tới gặp công chúa, mong bà nghĩ ra cách nào đó.

Hôm sau bà tiên tới cùng nàng tiên cá, công chúa đón bà mừng rỡ. Trò chuyện một lát, bà xin Gra-di-en-la cho xem bên trong toà tháp và khu vườn trên nóc. Nhờ đôi nạng, bà đi lại được, và vì là tiên nên bà sống được rất lâu ngoài nước, miễn là thỉnh thoảng thấm ướt trán.

Gra-di-en-la vui lòng nhận lời, còn Bô-nét-ta ở lại tầng dưới với nàng tiên cá.

Lên tới vườn, bà tiên nói:

— Ta đừng phí thì giờ, cháu cứ nói ta có thể giúp cháu được gì.

Gra-di-en-la bèn kể hết chuyện mình, và Ma-ri-na đáp:

— Công chúa thân mến, chuyện trên đất liền thì ta không giúp gì được cháu, vì quyền phép của ta chẳng với ra ngoài cõi nước của ta. Ta chỉ có thể nói rằng nếu cháu chịu ban ơn cho cháu trai ta, nhận lời làm vợ nó, thì cháu có thể về sống cùng chúng ta. Ta sẽ dạy cháu bơi lặn giỏi như những kẻ giỏi nhất trong chúng ta chỉ trong nháy mắt. Ta có thể làm cho da cháu dày lên mà không mất màu da đẹp. Cháu trai ta là một trong những đám tốt nhất dưới biển, và ta sẽ ban cho nó bao nhiêu là quà, cháu sẽ hết sức sung sướng.

Bà tiên nói hay quá, nói dài quá, khiến công chúa cũng hơi xiêu lòng, hứa sẽ suy nghĩ.

Hai người vừa định rời khu vườn thì thấy một con tàu đi gần toà tháp hơn mọi con tàu từng đi trước đó. Trên boong, dưới một tấm mái che lộng lẫy, có một chàng trai đang nằm, cầm ống nhòm ngắm toà tháp. Nhưng hai người chưa kịp nhìn rõ thì con tàu đã đi xa, và hai người chia tay, bà tiên hứa sẽ sớm quay lại.

Bà tiên vừa đi, Gra-di-en-la đã kể với bà gia sư những gì bà tiên nói. Bô-nét-ta chẳng vui chút nào về chiều hướng mọi việc đang đi, vì bà chẳng thích về già lại bị biến thành tiên cá. Bà nghĩ kỹ, rồi làm thế này. Bà là một hoạ sĩ rất giỏi. Sáng hôm sau, bà bắt đầu vẽ một bức chân dung chàng trai khôi ngô, tóc xoăn đẹp, da dẻ hồng hào, mắt xanh tuyệt đẹp. Vẽ xong, bà đưa cho Gra-di-en-la xem, mong nó cho công chúa thấy một chàng trai đẹp khác một anh chàng si tình dưới biển xa đến mức nào.

Công chúa ngắm bức tranh mà sững sờ, hỏi dồn liệu trên đời có người nào đẹp đến thế không. Bô-nét-ta cam đoan rằng có nhiều lắm, thậm chí còn nhiều người đẹp hơn nhiều.

Công chúa kêu lên:

— Cháu khó tin quá. Nhưng than ôi! Nếu có thật, thì chắc cháu chẳng bao giờ thấy họ, họ cũng chẳng bao giờ thấy cháu, thì có ích gì? Ôi, cháu khổ quá!

Suốt cả ngày hôm ấy nàng chỉ ngắm bức tranh, và quả thật bức tranh đã làm tiêu tan mọi hy vọng của anh chàng người cá.

Mấy hôm sau, bà tiên Ma-ri-na quay lại nghe quyết định. Nhưng Gra-di-en-la chẳng mấy để ý tới bà, lại tỏ ra ghét cay ghét đắng cuộc hôn nhân bà đề nghị, khiến bà tiên giận dỗi bỏ về.

Công chúa không hề biết rằng mình vừa chinh phục thêm một người nữa. Trên con tàu đi gần toà tháp hôm nọ có một hoàng tử đẹp nhất trần đời. Chàng đã nghe nói về toà tháp có phép yêu, quyết tới gần nó hết mức có thể. Trên tàu chàng có những ống nhòm rất tốt. Ngắm qua ống nhòm, chàng thấy công chúa rất rõ, và lập tức yêu nàng say đắm. Chàng muốn lái tàu thẳng tới toà tháp, rồi chèo xuồng con tới, nhưng cả đoàn thuỷ thủ phủ phục dưới chân chàng, van chàng đừng liều như thế. Viên thuyền trưởng cũng khuyên can, nói:

— Điện hạ chỉ dẫn tất cả chúng thần tới chỗ chết mà thôi. Xin điện hạ cho thả neo gần bờ hơn, rồi thần sẽ đi tìm một bà tiên tốt bụng mà thần quen, xưa nay bà luôn rất sẵn lòng giúp thần, và thần chắc bà sẽ cố giúp điện hạ.

Hoàng tử miễn cưỡng nghe theo lẽ phải. Chàng lên bờ ở chỗ gần nhất, sai thuyền trưởng gấp rút đi xin bà tiên chỉ bảo, giúp đỡ. Trong khi chờ, chàng cho dựng một chiếc lều trên bờ, suốt ngày chỉ ngắm toà tháp, cầm ống nhòm tìm bóng công chúa.

Mấy hôm sau, viên thuyền trưởng quay về, đưa theo cả bà tiên. Hoàng tử mừng rỡ được gặp bà, chăm chút bà hết mực. Bà nói:

— Ta đã nghe chuyện này rồi. Để khỏi phí thì giờ, ta sẽ phái một con bồ câu tin cẩn đi thử phép yêu. Nếu có chỗ nào yếu, chắc chắn nó sẽ tìm ra mà lọt vào. Ta sẽ dặn nó mang về một bông hoa làm dấu thành công. Nếu nó làm được, ta hy vọng sẽ đưa được cả cháu vào.

Hoàng tử hỏi:

— Nhưng cháu có thể gửi theo bồ câu vài dòng cho công chúa, nói lòng cháu yêu nàng, được không ạ?

Bà tiên đáp:

— Được chứ, thế là một kế rất hay.

Thế là hoàng tử viết:

"Công chúa yêu kiều, ta yêu nàng tha thiết, xin nàng nhận lấy trái tim ta, và xin nàng tin rằng chẳng có việc gì ta không làm để chấm dứt những nỗi bất hạnh của nàng. Blông-đen."

Mảnh thư được buộc vào cổ con bồ câu, và nó bay đi ngay. Nó bay nhanh lắm cho tới khi gần tới tháp, thì một luồng gió dữ thổi ngược mạnh đến nỗi nó không bay tiếp được. Nhưng nó không chịu thua, mà thận trọng bay quanh đỉnh tháp, cho tới một chỗ vì sơ ý nào đó mà không bị yểm phép như những chỗ khác. Nó vội lách vào giàn hoa, chờ công chúa.

Chẳng bao lâu Gra-di-en-la xuất hiện một mình. Con bồ câu lập tức bay tới đón nàng, trông nó dạn người đến nỗi nàng dừng lại vuốt ve con chim xinh xắn. Đang vuốt ve, nàng thấy trên cổ nó có một dải lụa hồng, buộc vào dải lụa là một lá thư. Nàng đọc đi đọc lại mấy lần, rồi viết thư trả lời:

"Chàng bảo chàng yêu thiếp, nhưng thiếp không thể hứa yêu chàng khi chưa được thấy mặt. Xin chàng gửi cho thiếp chân dung chàng theo sứ giả trung thành này. Nếu thiếp gửi trả lại, chàng hãy thôi hy vọng. Còn nếu thiếp giữ lại, chàng sẽ hiểu rằng giúp thiếp cũng là giúp chính chàng. Gra-di-en-la."

Trước khi bay về, con bồ câu nhớ tới bông hoa, thấy trên áo công chúa có cài một bông, liền ngậm lấy bay đi.

Hoàng tử mừng như điên khi bồ câu mang thư về. Sau một giờ nghỉ ngơi, con chim nhỏ tin cẩn lại được phái đi, mang theo một bức chân dung nhỏ của hoàng tử, may mà chàng có mang theo người.

Tới toà tháp, bồ câu thấy công chúa đang ở trong vườn. Nàng vội tháo dải lụa, mở hộp chân dung ra, thì ngạc nhiên và vui sướng biết bao khi thấy nó rất giống bức tranh bà gia sư đã vẽ cho nàng. Nàng vội gửi bồ câu về, và bạn hãy tưởng tượng hoàng tử vui sướng thế nào khi thấy nàng đã giữ lại bức chân dung.

Bà tiên bảo:

— Giờ thì ta đừng phí thì giờ nữa. Ta chỉ có thể làm cho cháu hạnh phúc bằng cách biến cháu thành một con chim. Nhưng ta sẽ lo trả lại hình dạng thật cho cháu vào đúng lúc.

Hoàng tử nóng lòng muốn đi ngay. Bà tiên chạm đũa thần vào người chàng, biến chàng thành một con chim ruồi xinh đẹp nhất trần đời, mà vẫn để chàng giữ được tiếng nói. Bồ câu được dặn dẫn đường cho chàng.

Gra-di-en-la rất ngạc nhiên khi thấy một con chim lạ hoắc, và còn ngạc nhiên hơn khi nó bay tới, nói:

— Chào buổi sáng, công chúa dịu hiền.

Nàng thích con chim xinh xắn lắm, để nó đậu lên ngón tay mình. Chim nói:

— Hôn nào, hôn nào, chim nhỏ ơi.

Nàng vui vẻ hôn nó, vừa hôn vừa vuốt ve.

Một lúc sau, công chúa đã dậy từ sáng sớm nên thấy mệt. Trời lại nắng gắt, nàng tới nằm nghỉ trên một bãi rêu dưới bóng giàn hoa. Nàng ôm con chim xinh xắn vào lòng, vừa sắp thiếp đi, thì bà tiên tìm được cách trả lại hình dạng thật cho hoàng tử. Thế là khi Gra-di-en-la mở mắt ra, nàng thấy mình đang nằm trong vòng tay một chàng trai yêu nàng mà nàng cũng yêu!

Cùng lúc ấy, phép yêu nhốt nàng chấm dứt. Toà tháp bắt đầu chao đảo, nứt toác. Bô-nét-ta vội vàng chạy lên nóc tháp, để ít ra được chết cùng nàng công chúa thân yêu. Bà vừa lên tới vườn thì bà tiên tốt bụng đã giúp hoàng tử cũng vừa tới, cùng bà tiên Pla-xi-đa, ngồi trên một cỗ xe bằng thuỷ tinh Vơ-ni-dơ, sáu con đại bàng kéo.

Hai bà kêu lên:

— Mau lên đi, toà tháp sắp chìm rồi!

Hoàng tử, công chúa và Bô-nét-ta vội vã bước lên xe. Cỗ xe vừa bay lên không trung, thì toà tháp đổ sập ầm ầm, chìm xuống đáy biển sâu, vì bà tiên Ma-ri-na và bọn người cá đã phá nền móng của nó để trả thù Gra-di-en-la. May mà mưu độc của chúng bị phá, và các bà tiên tốt bụng đưa mọi người về vương quốc của cha mẹ Gra-di-en-la.

Tới nơi, họ biết hoàng hậu Mu-ti-nô-da đã mất từ mấy năm trước, còn người chồng tốt bụng của bà vẫn sống yên ổn, cai trị đất nước tốt đẹp, an vui. Vua đón con gái vui mừng khôn xiết, và khắp nơi mở hội mừng nàng công chúa xinh đẹp trở về.

Ngay hôm sau, lễ cưới được cử hành. Rồi suốt bao nhiêu ngày sau đó, khiêu vũ, tiệc tùng, đấu thương, hoà nhạc, đủ mọi cuộc vui diễn ra suốt ngày suốt đêm.

Các bà tiên đều được mời chu đáo. Các bà tới rất long trọng, hứa che chở đôi vợ chồng trẻ, tặng họ đủ thứ quà tốt lành. Hoàng tử Blông-đen và công chúa Gra-di-en-la sống tới tuổi già, ai cũng yêu quý, và càng về sau càng thương nhau hơn.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1785
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện tiên Pháp thế kỷ 18 in trong bộ Le Cabinet des fées, 1785–1789; dịch từ bản tiếng Anh An Impossible Enchantment, Andrew Lang, The Grey Fairy Book, 1900
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →