Chương 1: Phần một
Bôn-đi Út với lấy cái chai, và lấy được. Mỗi khi Bôn-đi với lấy thứ gì, hắn thường... mà thôi, đây không phải chuyện của Bôn-đi. Hắn rót ly thứ ba, đầy hơn ly thứ nhất và ly thứ hai một ngón tay. Bôn-đi đang được hỏi ý kiến, mà người cho lời khuyên thì cũng đáng được trả công bằng rượu.
"Tôi mà là anh thì tôi làm vua," Bôn-đi nói, quả quyết đến mức bao súng của hắn kêu cót két và đôi cựa giày kêu lanh canh.
Uép Dây-gơ đẩy chiếc mũ phớt vành phẳng ra sau, vò cho mớ tóc màu rơm của mình rối thêm. Cách chữa cháy bằng đầu tóc chẳng ăn thua gì, anh bèn noi gương Bôn-đi tháo vát hơn mình mà tìm tới cái chai.
"Một người đàn ông cưới bà hoàng thì đâu có lý gì lại thành quân hai," Uép tuyên bố, tóm gọn nỗi uất ức của mình.
"Chắc chắn là không," Bôn-đi nói, đầy cảm thông, vẫn còn khát, và thật lòng băn khoăn về giá trị tương đối của các quân bài. "Đúng ra thì anh là vua. Tôi mà là anh, tôi đòi chia bài lại. Người ta đã xếp bài gian để chơi anh. Tôi nói cho anh biết anh là cái gì nhé, Uép Dây-gơ."
"Cái gì?" Uép hỏi, đôi mắt xanh nhạt đầy hy vọng.
"Anh là hoàng phu."
"Nói nhẹ thôi," Uép nói. "Tôi có bao giờ chửi anh đâu."
"Đó là một tước hiệu," Bôn-đi giải thích, "nằm trên hàng quân bài có hình, nhưng chẳng ăn được nước nào. Tôi nói anh nghe, Uép. Đó là dấu sắt người ta đóng cho một số con vật bên châu Âu. Giả sử anh, hay tôi, hay một ông công tước Hà Lan nào đó, cưới vào một hoàng gia. Thế rồi đến lúc vợ chúng ta lên làm nữ hoàng. Chúng ta có làm vua không? Còn khuya. Trong lễ đăng quang, chúng ta đi giữa quân bài lép vế và ông Đại Thị Vệ Thứ Chín của Phòng Ngủ Hoàng Gia. Công dụng duy nhất của chúng ta là đứng trong ảnh, và chịu trách nhiệm về thái tử. Thế là không sòng phẳng. Phải, Uép ạ, anh là hoàng phu. Mà tôi là anh thì tôi làm một cuộc chính biến, một cuộc gì gì đó, và tôi sẽ làm vua dù phải rút bài dưới đáy cỗ."
Bôn-đi uống cạn ly để phê chuẩn vai trò quân sư đứng sau ngai vàng của mình.
"Bôn-đi," Uép trịnh trọng nói, "tôi với anh lùa bò chung một toán bao nhiêu năm. Mình chạy trên cùng một bãi cỏ, cưỡi ngựa trên cùng những con đường mòn từ hồi còn là con nít. Ngoài anh ra, tôi chẳng kể chuyện gia đình mình với ai. Anh là người tuần biên ở trại Nô-pa-li-tô hồi tôi cưới Xan-ta Mắc-a-lít-xtơ. Hồi ấy tôi là quản đốc, còn bây giờ tôi là cái gì? Tôi chẳng đáng một cái nút thắt trên sợi dây buộc ngựa."
"Hồi lão già Mắc-a-lít-xtơ còn là vua bò miền Tây Tếch-dát," Bôn-đi nói tiếp, ngọt ngào như quỷ Xa-tăng, "anh cũng có số có má lắm. Ở trại anh có tiếng nói ngang ngửa lão."
"Đúng thế," Uép thừa nhận, "cho tới lúc lão phát hiện ra tôi đang tìm cách quăng thòng lọng qua đầu Xan-ta. Từ đó lão giữ tôi ngoài đồng cỏ, càng xa nhà chính càng tốt. Khi lão già chết, người ta bắt đầu gọi Xan-ta là 'nữ hoàng bò'. Còn tôi là ông chủ bò, thế thôi. Nàng lo hết việc làm ăn, nàng nắm hết tiền nong. Đến một con bò thịt tôi cũng không tự bán cho một toán khách cắm trại được. Xan-ta là 'nữ hoàng', còn tôi là ông Chẳng Ai Cả."
"Tôi mà là anh thì tôi làm vua," Bôn-đi Út, người bảo hoàng, nhắc lại. "Khi một người đàn ông cưới bà hoàng, anh ta phải được nâng hạng ngang bà ấy, bò sống, bò làm thịt, bò phơi khô, bò muối, kiểu gì cũng được, từ bụi rậm tới lò mổ. Nhiều người thấy buồn cười, Uép ạ, là ở trại Nô-pa-li-tô anh chẳng có tiếng nói gì. Tôi không nói xấu gì bà Dây-gơ đâu nhé, bà ấy là người phụ nữ nhỏ nhắn tuyệt nhất từ sông Ri-ô Gran-đê cho tới tận lễ Giáng sinh năm sau, nhưng đàn ông thì phải làm chủ cái lán của mình."
Gương mặt nhẵn nhụi, nâu sạm của Dây-gơ dài ra thành một chiếc mặt nạ u sầu bị tổn thương. Với vẻ mặt ấy, mái tóc vàng rối bù và đôi mắt xanh chân thật, người ta có thể ví anh với một cậu học trò bị một đứa khoẻ hơn giành mất ngôi thủ lĩnh. Nhưng thân hình cao gần mét tám, nhanh nhẹn, gân guốc, cùng hai khẩu súng lục giắt bên hông, không cho phép so sánh như thế.
"Anh vừa gọi tôi là cái gì ấy nhỉ, Bôn-đi?" anh hỏi. "Hoàng gì? Hoàng hôn à?"
"Hoàng phu," Bôn-đi sửa lại. "Hoàng phu. Nó là một kiểu biệt danh trong bài cào. Anh lọt vào khoảng giữa con bồi lẻ và bộ bốn lá đồng chất còn thiếu một."
Uép Dây-gơ thở dài, nhặt dây đeo bao súng trường dưới sàn lên.
"Hôm nay tôi cưỡi ngựa về trại," anh nói, chẳng mấy hào hứng. "Sáng mai tôi phải lùa một đàn bò thịt đi Xan An-tôn."
"Tôi đi với anh tới Hồ Cạn," Bôn-đi tuyên bố. "Tôi có một trại dồn bò bên sông Xan Mác-cốt, đang tách lứa bò hai tuổi."
Hai người bạn đồng hành lên ngựa, chạy nước kiệu rời khỏi khu dân cư nhỏ bên đường sắt, nơi họ đã tụ tập vào buổi sáng khát khô ấy.
Tới Hồ Cạn, chỗ hai ngả đường rẽ ra, họ ghìm ngựa hút điếu thuốc chia tay. Suốt mấy dặm đường họ im lặng, chỉ có tiếng vó ngựa thình thịch êm êm trên thảm cỏ gai dày đặc, và tiếng cành cây bụi cọ lách cách vào bàn đạp gỗ. Nhưng ở Tếch-dát, chuyện trò hiếm khi liền một mạch. Giữa các đoạn văn của mình, bạn có thể chèn vào một dặm đường, một bữa ăn, một vụ giết người, mà chẳng hại gì cho luận đề. Thế nên, chẳng cần xin lỗi, Uép thêm một phụ lục vào câu chuyện đã bắt đầu từ mười dặm trước.
"Chính anh cũng nhớ đấy, Bôn-đi, có một thời Xan-ta không độc lập như bây giờ. Anh nhớ cái thời lão già Mắc-a-lít-xtơ cấm cản hai đứa tôi, và nàng thường gửi cho tôi dấu hiệu báo là muốn gặp tôi chứ? Lão già Mắc hứa sẽ bắn tôi thủng lỗ chỗ như cái rổ nếu tôi bén mảng vào tầm súng của trại. Anh nhớ cái dấu hiệu nàng hay gửi chứ, Bôn-đi, hình trái tim có chữ thập bên trong ấy?"
"Tôi á?" Bôn-đi kêu lên, tinh nghịch kiểu người say. "Đồ sói đồng cỏ ăn vụng đường kia! Sao tôi lại không nhớ! Trời đất, đồ chim gáy già sừng dài khốn kiếp, cả trại ai cũng biết thừa mấy cái chữ tượng hình ấy. Bọn tôi gọi nó là 'cái mề với xương chéo'. Bọn tôi thấy nó trên đồ đạc từ nhà chính gửi ra. Vẽ bằng than lên bao bột mì, viết bằng bút chì lên mặt báo. Có lần tôi còn thấy một cái vẽ bằng phấn sau lưng một tay đầu bếp mới mà lão già Mắc-a-lít-xtơ gửi ra trại, thề có trời là tôi thấy."
"Bố Xan-ta," Uép nhẹ nhàng giải thích, "bắt nàng hứa không được viết thư hay nhắn gửi gì cho tôi. Cái dấu trái tim và chữ thập ấy là mưu của nàng. Hễ nàng muốn gặp riêng tôi, nàng tìm cách vẽ dấu ấy lên một thứ gì đó ở trang trại mà nàng biết tôi sẽ thấy. Và lần nào thấy nó, ngay tối hôm ấy tôi cũng phi ngựa như gió về trại. Tôi thường gặp nàng ở lùm cây sau bãi quây ngựa nhỏ."
"Bọn tôi biết hết," Bôn-đi ngân nga, "nhưng chẳng bao giờ hé răng. Bọn tôi đều đứng về phía anh. Bọn tôi biết vì sao anh lúc nào cũng giữ con ngựa khoang chạy nhanh ấy ở trại. Và hễ thấy cái mề với xương chéo vẽ trên đồ từ nhà chính gửi ra là bọn tôi biết đêm ấy con Pin-tô già sẽ ngốn đường thay vì ngốn cỏ. Anh nhớ Xcơ-ri chứ, cái tay coi ngựa có học hồi ấy, cậu sinh viên bị rượu lùa ra đồng cỏ ấy? Mỗi lần Xcơ-ri thấy cái dấu sắt 'tới gặp người yêu' ấy trên thứ gì từ nhà chính gửi ra, cậu ta lại vẫy tay thế này, rồi nói: 'Chàng Lê-an-đơ của chúng ta đêm nay lại bơi qua eo biển để gặp nàng Hê-rô.'"
"Lần cuối cùng Xan-ta gửi dấu hiệu cho tôi," Uép nói, "là lúc nàng bị ốm. Vừa về tới trại là tôi thấy ngay, và đêm ấy tôi phi con Pin-tô bốn chục dặm. Nàng không có ở lùm cây. Tôi tới thẳng nhà, và lão già Mắc-a-lít-xtơ ra đón tôi ở cửa. 'Mày tới đây để chịu chết đấy à?' lão nói. 'Lần này tao không chiều mày đâu. Tao vừa sai một thằng làm công đi gọi mày. Xan-ta muốn gặp mày. Vào phòng kia mà gặp nó. Rồi ra đây gặp tao.'
Xan-ta nằm trên giường, ốm khá nặng. Nhưng nàng nở một nụ cười, tay nàng với tay tôi móc vào nhau như hai con bò húc sừng, và tôi ngồi xuống bên giường, nguyên cả bùn đất, cựa giày, quần da. 'Em nghe tiếng anh phi ngựa qua đồng cỏ hàng giờ liền, anh Uép,' nàng nói. 'Em chắc chắn anh sẽ tới. Anh thấy dấu hiệu chứ?' nàng thì thầm. 'Vừa về tới trại là thấy ngay,' tôi nói. 'Vẽ trên bao khoai tây với hành.' 'Chúng luôn đi cùng nhau,' nàng nói, giọng nhỏ nhẹ, 'luôn đi cùng nhau trong cuộc đời.' 'Chúng hợp nhau lắm,' tôi nói, 'trong nồi hầm.' 'Em muốn nói trái tim và chữ thập,' Xan-ta nói. 'Dấu hiệu của chúng mình, yêu và chịu khổ, nghĩa của chúng là thế.'
Còn lão bác sĩ già Mớt-grốp thì ngồi đó tiêu khiển với rượu uýt-ki và cái quạt lá cọ. Một lúc sau Xan-ta ngủ thiếp đi. Lão bác sĩ sờ trán nàng, rồi bảo tôi: 'Anh là thuốc hạ sốt cũng không tồi. Nhưng giờ anh nên chuồn đi thì hơn, vì chẩn đoán không kê anh thành liều dùng thường xuyên. Cô bé tỉnh dậy là khoẻ thôi.'
Tôi gặp lão già Mắc-a-lít-xtơ ở ngoài. 'Cô ấy ngủ rồi,' tôi nói. 'Giờ ông có thể bắt đầu bắn tôi thành cái rổ. Cứ thong thả, vì tôi để súng trên núm yên ngựa rồi.'
Lão già Mắc cười, rồi bảo tôi: 'Bơm chì vào người quản đốc trại giỏi nhất miền Tây Tếch-dát thì tao thấy chẳng phải chính sách làm ăn hay ho gì. Tao biết tìm đâu ra người giỏi bằng. Chính cái ý làm con rể, Uép ạ, mới khiến tao khoái lấy mày làm bia tập bắn. Mày không phải người tao muốn cho vào gia đình. Nhưng tao có thể dùng mày ở Nô-pa-li-tô, miễn là mày giữ mình ở ngoài một vòng tròn mà tâm là ngôi nhà chính. Mày lên gác nằm tạm cái giường gấp đi, ngủ một giấc rồi ta nói chuyện.'"
Bôn-đi Út kéo mũ sụp xuống, duỗi cái chân đang quặp quanh núm yên. Uép rút ngắn dây cương, con ngựa của anh nhảy chồm chồm, nóng lòng muốn đi. Hai người đàn ông bắt tay theo nghi thức miền Tây.
"Chào nhé, Bôn-đi," Uép nói. "Mừng là đã gặp anh và nói chuyện thế này."
Với một tiếng rầm rập như đàn chim cút vỗ cánh bay lên, hai kỵ sĩ phóng đi về hai hướng khác nhau của la bàn. Đi được trăm thước, Bôn-đi ghìm ngựa trên đỉnh một gò trọc, và rú lên một tiếng. Hắn lắc lư trên lưng ngựa. Nếu đi bộ thì mặt đất đã nhô lên quật ngã hắn rồi, nhưng ngồi trên yên thì hắn là bậc thầy giữ thăng bằng, cười vào mặt rượu uýt-ki và khinh bỉ cả trọng tâm.
Nghe tín hiệu, Uép xoay người trên yên.
"Tôi mà là anh," giọng Bôn-đi chói lói, xúi bẩy vọng tới, "thì tôi làm vua!"
Tám giờ sáng hôm sau, Bát Tơ-nơ lăn khỏi yên ngựa trước ngôi nhà chính của trại Nô-pa-li-tô, loạng choạng bước về phía hiên, cựa giày kêu xoành xoạch. Bát phụ trách đàn bò thịt sẽ lên đường đi Xan An-tô-ni-ô sáng hôm ấy. Bà Dây-gơ đang ở ngoài hiên, tưới một khóm lan dạ hương trồng trong chiếc chậu đất nung màu đỏ.
"Vua" Mắc-a-lít-xtơ đã để lại cho con gái nhiều nét tính cách mạnh mẽ của ông: sự quả quyết, lòng can đảm vui tươi, sự tự tin bướng bỉnh, niềm kiêu hãnh của một vị vua đang trị vì vương quốc móng guốc và sừng. Nếu Mắc-a-lít-xtơ là một bản nhạc thì nhịp của ông là nhanh, âm của ông là rất mạnh. Ở Xan-ta, bản nhạc ấy vẫn còn đó, chỉ chuyển sang giọng nữ. Về căn bản, nàng giữ nguyên hình ảnh người mẹ, người đã được gọi đi lang thang ở những đồng cỏ xanh khác, vô tận hơn, từ rất lâu trước khi những đàn bò ngày một đông đúc ban ngôi vua cho dòng họ. Nàng có dáng người mảnh dẻ mà khoẻ mạnh của mẹ, và vẻ đẹp dịu dàng, nghiêm trang, làm nhẹ bớt ở nàng sự nghiêm khắc của đôi mắt quyền uy nhà Mắc-a-lít-xtơ và dáng vẻ độc lập vương giả của dòng họ ấy.
Uép đứng ở một đầu hiên, ra lệnh cho hai ba người phụ trách của các trại và các toán khác nhau vừa cưỡi ngựa tới nhận chỉ thị.
"Chào," Bát nói ngắn gọn. "Đàn bò ấy anh muốn đưa tới chỗ nào trong thành phố, chỗ ông Ba-bơ như thường lệ à?"
Trả lời câu hỏi ấy vốn là đặc quyền của nữ hoàng. Mọi dây cương của việc làm ăn, mua, bán, giao dịch ngân hàng, đều nằm trong những ngón tay đảm đang của nàng. Việc chăn dắt bò thì giao trọn cho chồng. Hồi "Vua" Mắc-a-lít-xtơ còn sống, Xan-ta là thư ký và người phụ việc của ông, và nàng tiếp tục công việc ấy một cách khôn ngoan, có lời. Nhưng nàng chưa kịp trả lời thì vị hoàng phu đã lên tiếng, điềm tĩnh và dứt khoát:
"Anh lùa đàn ấy tới bãi quây của Dim-mơ-man và Nét-bít. Tôi đã nói chuyện với Dim-mơ-man về việc này từ trước rồi."
Bát quay gót trên đôi ủng cao gót.
"Khoan đã!" Xan-ta vội gọi. Nàng nhìn chồng, đôi mắt xám điềm tĩnh lộ vẻ ngạc nhiên.
"Ơ, anh nói gì thế, Uép?" nàng hỏi, một nếp nhăn nhỏ hiện ra giữa hai hàng lông mày. "Em không bao giờ giao dịch với Dim-mơ-man và Nét-bít. Năm năm nay, mọi con bò từ trại này đưa ra chợ ấy đều qua tay ông Ba-bơ. Em sẽ không lấy việc làm ăn khỏi tay ông ấy." Nàng quay sang Bát Tơ-nơ. "Giao đàn bò ấy cho ông Ba-bơ," nàng kết luận, chắc nịch.
Bát nhìn cái bình nước treo ngoài hiên, ra vẻ chẳng đứng về phía nào, đổi sang đứng chân kia, nhai một chiếc lá cây gai.
"Tôi muốn đàn bò thịt này tới chỗ Dim-mơ-man và Nét-bít," Uép nói, ánh mắt xanh lạnh như sương giá.
"Vớ vẩn," Xan-ta sốt ruột nói. "Anh lên đường đi, Bát, để kịp nghỉ trưa ở vũng nước Cây Du Nhỏ. Bảo ông Ba-bơ khoảng một tháng nữa chúng tôi sẽ có thêm một đàn bò loại thải nữa."
Bát để ánh mắt ngập ngừng lén ngước lên gặp mắt Uép. Uép thấy trong cái nhìn ấy một lời xin lỗi, và tưởng như thấy cả sự thương hại.
"Anh giao đàn bò ấy," anh nói, giọng nặng nề, "cho..."
"Ông Ba-bơ," Xan-ta nói gọn, sắc lẻm. "Thế là xong. Anh còn chờ gì nữa không, Bát?"
"Không ạ, thưa bà," Bát nói. Nhưng trước khi đi, anh ta còn nấn ná lâu bằng thời gian một cái đuôi bò quất ba lần, vì đàn ông là đồng minh của đàn ông, và ngay cả bọn Phi-li-tinh hẳn cũng phải đỏ mặt khi bắt Xam-xơn theo cái cách chúng đã bắt.
"Nghe lệnh bà chủ của anh rồi đấy!" Uép kêu lên, giọng mỉa mai. Anh bỏ mũ ra, cúi rạp người trước vợ cho tới khi mũ chạm sàn.
"Uép," Xan-ta trách, "hôm nay anh cư xử ngớ ngẩn quá."
"Thằng hề của triều đình đấy, tâu Bệ hạ," Uép nói, giọng chậm rãi đã đổi khác. "Bệ hạ còn trông chờ gì khác? Để thần thưa với Bệ hạ. Thần đã là một người đàn ông trước khi cưới một nữ hoàng bò. Còn giờ thần là gì? Trò cười cho cả các trại. Thần sẽ làm đàn ông trở lại."
Xan-ta nhìn anh chăm chú.
"Đừng vô lý thế, Uép," nàng bình thản nói. "Anh có bị coi thường gì đâu. Em có bao giờ can thiệp vào việc anh chăn dắt bò không? Mặt làm ăn của trại em hiểu rõ hơn anh nhiều. Em học từ bố. Anh khôn ngoan một chút đi."
"Vương quốc với chả nữ vương," Uép nói, "chẳng hợp với tôi, trừ khi tôi cũng có mặt trong tranh. Tôi lùa bò, còn em đội vương miện. Được thôi. Tôi thà làm Đại Pháp quan của một trại chăn bò còn hơn làm con tám trong bộ bài có bà đầm đứng đầu. Trại này là của em, và ông Ba-bơ sẽ nhận bò."
Ngựa của Uép buộc ở cột. Anh đi vào nhà, mang ra cuộn chăn mà anh chẳng bao giờ mang theo trừ những chuyến đi xa, cái áo mưa, và sợi dây thòng lọng dài nhất bện bằng da sống. Anh bắt đầu thong thả buộc chúng lên yên. Xan-ta, mặt hơi tái, đi theo anh.
Uép tung mình lên yên. Gương mặt nghiêm trang, nhẵn nhụi của anh không chút biểu cảm, chỉ có một ánh lửa bướng bỉnh âm ỉ trong mắt.
"Có một đàn bò cái với bê con," anh nói, "ở gần vũng nước Hôn-đô bên sông Phri-ô, phải dời ra xa rừng cây. Bầy sói đã giết ba con bê rồi. Tôi quên chưa dặn. Em nên bảo Xim lo việc ấy."
Xan-ta đặt tay lên dây cương ngựa, nhìn thẳng vào mắt chồng.
"Anh định bỏ em à, Uép?" nàng hỏi khẽ.
"Anh sẽ làm đàn ông trở lại," anh đáp.
"Chúc anh thành công trong một nỗ lực đáng khen," nàng nói, giọng bỗng lạnh lùng. Nàng quay người đi thẳng vào nhà.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn