Chương 1: Đêm Giáng sinh ở quán trọ
Đám mây vàng đã ngủ qua đêm
Trên ngực một vách đá khổng lồ...
Léc-môn-tốp
Trong căn phòng mà chính ông chủ quán, anh cô-dắc Xê-miôn Chi-xtô-plui, gọi là "phòng khách qua đường", tức là dành riêng cho khách đi đường, có một người đàn ông chừng bốn mươi tuổi, cao lớn, vai rộng, đang ngồi bên chiếc bàn to không sơn. Tì khuỷu tay lên bàn, lấy nắm tay chống đầu, ông ta đang ngủ. Mẩu nến mỡ cắm trong một cái lọ sáp chải tóc soi lên bộ râu màu nâu nhạt, cái mũi to bè, đôi má rám nắng, cặp lông mày đen rậm rủ xuống đôi mắt nhắm của ông... Cả cái mũi, đôi má, cặp lông mày, mọi đường nét, xét riêng từng cái, đều thô và nặng nề như đồ đạc và chiếc lò sưởi trong "phòng khách qua đường", nhưng gộp lại thì chúng tạo nên một cái gì hài hoà, thậm chí đẹp đẽ. Như người ta vẫn nói, số phận của khuôn mặt Nga là thế: đường nét càng to, càng sắc, thì khuôn mặt càng có vẻ dịu dàng, hiền hậu. Người đàn ông mặc chiếc áo vét kiểu nhà quý phái, đã sờn nhưng được viền một dải băng rộng còn mới, chiếc gi-lê nhung tuyết và chiếc quần đen rộng nhét trong đôi ủng to.
Trên một chiếc ghế dài chạy liền dọc theo bức tường, trên tấm lông của chiếc áo choàng lông cáo, một cô bé chừng tám tuổi đang ngủ, mặc chiếc váy nâu nhỏ và đôi bít tất đen dài. Mặt cô bé xanh xao, tóc vàng hoe, vai hẹp, cả thân hình gầy guộc, mỏng manh, nhưng cái mũi thì nhô ra thành một cục to và xấu y như của người đàn ông. Cô bé ngủ say, không cảm thấy chiếc lược hình bán nguyệt tuột khỏi đầu đang cứa vào má mình.
"Phòng khách qua đường" mang vẻ ngày lễ. Trong không khí thoang thoảng mùi sàn nhà vừa lau, trên sợi dây căng chéo khắp căn phòng không treo giẻ như mọi khi, và ở góc phòng, phía trên bàn, một ngọn đèn dầu nhỏ đang le lói, in một vệt đỏ lên bức tượng thánh Ghê-oóc Chiến thắng. Tuân thủ một trình tự chuyển tiếp hết sức nghiêm ngặt và thận trọng từ thánh thần sang trần tục, từ bức tượng thánh, hai bên góc tường kéo dài một dãy tranh in dân gian. Trong ánh sáng lờ mờ của mẩu nến và ngọn đèn đỏ, những bức tranh chỉ là một dải liền phủ đầy những vết mực đen. Còn khi chiếc lò sưởi lát gạch men, muốn hát cùng giọng với thời tiết, rú lên hít không khí vào, và những thanh củi như bừng tỉnh, bùng lên ngọn lửa sáng rực và giận dữ lầm bầm, thì trên những bức tường gỗ súc bắt đầu nhảy múa những vệt hồng, và có thể thấy phía trên đầu người đàn ông đang ngủ khi thì hiện lên cụ thánh Xê-ra-phim, khi thì vua Ba Tư Na-xơ-ê-đin, khi thì một đứa bé bụ bẫm da nâu trợn mắt thì thầm điều gì vào tai một cô gái có khuôn mặt đờ đẫn và lạnh lùng lạ thường...
Ngoài trời thời tiết đang gào thét. Một cái gì điên cuồng, độc ác, nhưng bất hạnh sâu sắc, đang lồng lộn như thú dữ quanh quán trọ, tìm cách xông vào bên trong. Đập cửa, gõ vào cửa sổ và mái nhà, cào vào tường, nó khi thì đe doạ, khi thì van nài, khi thì lặng đi một lúc, rồi với một tiếng hú hân hoan, phản trắc, xông vào ống khói lò sưởi. Nhưng đến đây những thanh củi bùng lên, và ngọn lửa như con chó bị xích, giận dữ lao ra đón kẻ thù. Cuộc vật lộn bắt đầu, rồi sau đó là tiếng nức nở, tiếng rít, tiếng gầm giận dữ. Trong tất cả những âm thanh ấy nghe ra cả nỗi buồn cay độc, cả lòng căm hờn không được thoả mãn, cả sự bất lực bị xúc phạm của một kẻ từng quen chiến thắng...
Bị thứ âm nhạc hoang dã, phi nhân ấy mê hoặc, "phòng khách qua đường" dường như đã lặng đi mãi mãi. Nhưng kìa, cánh cửa kêu cót két, và một thằng bé làm thuê trong quán bước vào, mặc chiếc áo sơ mi vải bông mới. Khập khiễng một chân, chớp chớp đôi mắt ngái ngủ, nó lấy ngón tay cắt bấc nến, cho thêm củi vào lò rồi đi ra. Ngay lập tức, ở nhà thờ làng Rô-ga-chi, cách quán trọ ba trăm bước, chuông bắt đầu điểm nửa đêm. Gió đùa với tiếng chuông như đùa với những bông tuyết. Đuổi theo những tiếng chuông, nó xoay chúng tít trên một khoảng không mênh mông, khiến có những tiếng bị đứt ngang hoặc kéo dài thành một âm thanh lượn sóng, có những tiếng mất hẳn trong tiếng gào chung. Có một tiếng chuông ngân vang rõ trong phòng đến nỗi như có người đánh chuông ngay dưới cửa sổ. Cô bé đang ngủ trên tấm lông cáo giật mình ngẩng đầu lên. Một lúc, cô ngơ ngác nhìn ô cửa sổ tối, nhìn vua Na-xơ-ê-đin, lúc ấy đang có ánh lửa đỏ thẫm từ lò sưởi lướt qua, rồi đưa mắt sang người đàn ông đang ngủ.
- Bố! - cô bé nói.
Nhưng người đàn ông không nhúc nhích. Cô bé giận dỗi cau mày, nằm xuống, co chân lên. Sau cánh cửa, trong quán, có ai ngáp thật to, kéo dài. Ít lâu sau nghe tiếng ròng rọc cửa kêu ken két và những giọng nói không rõ. Có ai đó bước vào, rũ tuyết khỏi người, giậm đôi ủng dạ thình thịch.
- Gì thế? - một giọng đàn bà uể oải hỏi.
- Cô I-lô-vai-xcai-a đến... - một giọng trầm đáp.
Ròng rọc cửa lại kêu ken két. Nghe tiếng gió ùa vào. Có ai đó, có lẽ là thằng bé khập khiễng, chạy đến cánh cửa dẫn vào "phòng khách qua đường", lễ phép đằng hắng rồi chạm vào then cửa.
- Mời cô vào đây, - một giọng đàn bà ngân nga nói, - ở đây sạch sẽ lắm, cô xinh đẹp ạ...
Cánh cửa mở toang, và trên ngưỡng cửa hiện ra một bác nông dân râu rậm, mặc áo khoác của xà ích, vác trên vai một chiếc va li to, từ đầu đến chân phủ đầy tuyết. Theo sau bác là một bóng đàn bà thấp, thấp gần bằng nửa người xà ích, không mặt không tay, quấn kín, bọc kín, trông như một cái bọc, cũng phủ đầy tuyết. Từ bác xà ích và cái bọc, một luồng hơi ẩm như từ dưới hầm phả về phía cô bé, và ngọn nến chao đảo.
- Thật vớ vẩn! - cái bọc giận dữ nói. - Thừa sức đi tiếp ấy chứ! Chỉ còn có mười hai dặm, phần lớn là qua rừng, có lạc được đâu...
- Lạc thì chẳng lạc, nhưng ngựa không chịu đi nữa, thưa cô! - bác xà ích đáp. - Lạy Chúa, cứ như là tôi cố tình ấy!
- Có Chúa biết chở tôi đến chỗ nào đây... Nhưng khẽ chứ... Hình như ở đây có người đang ngủ. Bác đi ra đi...
Bác xà ích đặt chiếc va li xuống sàn, những mảng tuyết rơi từ vai bác xuống, bác phát ra từ mũi một tiếng sụt sịt rồi đi ra. Rồi cô bé thấy từ giữa cái bọc thò ra hai bàn tay nhỏ, vươn lên, bắt đầu giận dữ gỡ mớ khăn choàng, khăn vuông, khăn quàng rối tung. Đầu tiên một tấm khăn choàng to rơi xuống sàn, rồi chiếc mũ trùm, rồi chiếc khăn len trắng. Gỡ được đầu ra rồi, người khách cởi chiếc áo khoác dài, và lập tức thu nhỏ đi một nửa. Giờ cô mặc một chiếc áo khoác dài màu xám, khuy to, túi căng phồng. Từ một túi, cô lôi ra một gói giấy đựng thứ gì đó, từ túi kia lôi ra một chùm chìa khoá to, nặng, đặt xuống vụng về đến nỗi người đàn ông đang ngủ giật mình mở mắt. Một lúc ông ngây ra nhìn quanh, như không hiểu mình đang ở đâu, rồi lắc đầu, đi vào góc phòng ngồi xuống... Người khách cởi áo khoác, vì thế lại thu nhỏ đi một nửa, rồi kéo đôi ủng nhung ra khỏi chân và cũng ngồi xuống.
Giờ cô không còn giống cái bọc nữa. Đó là một cô gái tóc đen nhỏ nhắn, gầy guộc, chừng hai mươi tuổi, mảnh như một con rắn nhỏ, khuôn mặt trắng thuôn dài, tóc quăn. Mũi cô dài, nhọn, cằm cũng dài và nhọn, hàng mi dài, khoé miệng nhọn, và nhờ cái nhọn khắp nơi ấy, nét mặt cô có vẻ gai góc. Bó trong chiếc váy đen, cổ và tay áo đầy đăng ten, khuỷu tay nhọn, những ngón tay hồng hào thon dài, cô gợi nhớ đến chân dung những phu nhân nước Anh thời trung cổ. Vẻ mặt nghiêm trang, tập trung càng làm tăng thêm sự giống nhau ấy...
Cô gái tóc đen nhìn quanh căn phòng, liếc nhìn người đàn ông và cô bé, nhún vai rồi chuyển sang ngồi bên cửa sổ. Những ô cửa tối rung lên vì cơn gió tây ẩm ướt. Những bông tuyết to, trắng lấp lánh, đậu xuống mặt kính nhưng lập tức biến mất, bị gió cuốn đi. Thứ âm nhạc hoang dã mỗi lúc một dữ dội hơn...
Sau một hồi im lặng lâu, cô bé bỗng trở mình, nói rành rọt từng chữ một cách giận dỗi:
- Lạy Chúa! Lạy Chúa! Con khổ quá! Khổ hơn tất cả mọi người!
Người đàn ông đứng dậy, với dáng đi có lỗi, chẳng hợp chút nào với vóc người to lớn và bộ râu rậm của ông, lật đật bước đến chỗ cô bé.
- Con chưa ngủ à, con yêu? - ông hỏi, giọng xin lỗi. - Con muốn gì?
- Con chẳng muốn gì cả! Con đau vai! Bố là người xấu, Chúa sẽ phạt bố! Rồi bố xem, Chúa sẽ phạt bố!
- Con ơi, bố biết con đau vai, nhưng bố biết làm sao được, con yêu? - người đàn ông nói, bằng cái giọng của những ông chồng ngà ngà say đang xin lỗi những bà vợ nghiêm khắc. - Xa-sa ạ, con đau vai là vì đi đường đấy. Mai mình đến nơi, nghỉ ngơi là khỏi ngay...
- Mai, mai... Ngày nào bố cũng bảo con là mai. Mình còn đi hai mươi ngày nữa!
- Nhưng con ơi, bố hứa danh dự với con, mai mình đến nơi. Bố chẳng bao giờ nói dối, còn nếu bão tuyết giữ chân mình lại thì đâu phải lỗi tại bố.
- Con không chịu được nữa! Không chịu được, không chịu được!
Xa-sa đạp mạnh chân một cái, và làm vang cả phòng một tiếng khóc the thé khó chịu. Bố cô vung tay, bối rối nhìn cô gái tóc đen. Cô gái nhún vai, ngập ngừng đến bên Xa-sa.
- Nghe này, em yêu, - cô nói, - khóc làm gì? Đau vai thì đúng là khó chịu, nhưng biết làm sao được?
- Cô thấy đấy, thưa cô, - người đàn ông nói nhanh, như để thanh minh, - chúng tôi đã hai đêm không ngủ, lại đi một cỗ xe tồi tệ. Thế thì dĩ nhiên là con bé mệt và buồn bực... Rồi lại còn, cô biết không, chúng tôi gặp phải một anh xà ích say rượu, va li thì bị mất cắp... suốt dọc đường bão tuyết, nhưng việc gì phải khóc, thưa cô? Mà giấc ngủ ngồi này làm tôi mệt rã, cứ như người say ấy. Thề có Chúa, Xa-sa, không có con khóc thì bố đã đủ khổ rồi, thế mà con còn khóc nữa!
Người đàn ông lắc đầu, vung tay rồi ngồi xuống.
- Dĩ nhiên là không nên khóc, - cô gái tóc đen nói. - Chỉ có trẻ còn bú mới khóc thôi. Nếu em ốm, em yêu, thì phải cởi áo ra mà ngủ... Nào, mình cởi áo ra nhé!
Khi cô bé đã được cởi áo và dỗ dành xong, im lặng lại bao trùm. Cô gái tóc đen ngồi bên cửa sổ, ngơ ngác nhìn khắp căn phòng quán trọ, bức tượng thánh, chiếc lò sưởi... Có vẻ như cô thấy lạ cả căn phòng, cả cô bé có cái mũi to, mặc chiếc sơ mi ngắn như con trai, cả người bố của cô bé. Con người kỳ lạ ấy ngồi trong góc, bối rối như người say, nhìn quanh và lấy lòng bàn tay vò vò khuôn mặt mình. Ông im lặng, chớp mắt, và nhìn cái dáng có lỗi của ông thì khó mà đoán ông sắp nói chuyện. Nhưng người mở lời trước lại chính là ông. Xoa xoa đầu gối, đằng hắng một tiếng, ông cười khẩy và nói:
- Thật là hài kịch, thề có Chúa... Tôi nhìn mà không tin vào mắt mình: quỷ thần nào xui số phận lùa chúng ta vào cái quán trọ tồi tàn này? Số phận muốn nói gì qua chuyện ấy? Cuộc đời có khi nhào lộn những cú chết người đến nỗi người ta chỉ biết nhìn mà ngơ ngác chớp mắt. Thưa cô, cô đi xa không?
- Không, không xa, - cô gái tóc đen đáp. - Tôi đi từ điền trang nhà tôi, cách đây hai mươi dặm, về trang trại cũng của nhà tôi, về với bố và anh trai. Tôi là I-lô-vai-xcai-a, và trang trại cũng gọi là trang trại I-lô-vai-xki, cách đây mười hai dặm. Thời tiết khó chịu quá!
- Còn gì tệ hơn!
Thằng bé khập khiễng bước vào, cắm một mẩu nến mới vào lọ sáp.
- Này chú bé, đun cho chúng tôi ấm sa-mô-va nhé! - người đàn ông bảo nó.
- Bây giờ ai lại uống trà? - thằng bé khập khiễng cười khẩy. - Chưa dự lễ mà uống là có tội.
- Không sao, chú bé ạ, có phải chú bị đốt trong địa ngục đâu, mà là chúng tôi...
Bên ấm trà, hai người mới quen bắt đầu chuyện trò. Cô I-lô-vai-xcai-a biết được người đối thoại với mình tên là Gri-gô-ri Pê-tơ-rô-vích Li-kha-ri-ốp, là em ruột của chính ông Li-kha-ri-ốp đang làm thủ lĩnh quý tộc ở một huyện bên cạnh, và chính ông ngày trước cũng là điền chủ, nhưng đã "cháy túi đúng lúc". Còn Li-kha-ri-ốp biết được cô I-lô-vai-xcai-a tên là Ma-ri-a Mi-khai-lốp-na, rằng điền trang của bố cô rộng mênh mông, nhưng chỉ một mình cô phải lo việc quản lý, vì bố và anh trai cô sống nhắm mắt làm ngơ, vô tư lự và quá mê chó săn.
- Bố với anh tôi ở trang trại có một mình trơ trọi, - cô I-lô-vai-xcai-a nói, ngón tay động đậy (khi nói chuyện cô có thói quen động đậy những ngón tay trước khuôn mặt gai góc của mình, và sau mỗi câu lại lấy cái lưỡi nhọn liếm môi), - đàn ông là cái giống vô tư lự, tự mình chẳng nhấc ngón tay lên vì mình bao giờ. Tôi đang hình dung không biết ai sẽ cho họ ăn xả chay đêm nay! Nhà tôi không có mẹ, còn người làm thì thế nào ấy, không có tôi thì đến cái khăn bàn cũng trải không ra hồn. Ông thử hình dung xem họ đang ra sao! Họ sẽ không được ăn xả chay, còn tôi thì phải ngồi đây suốt đêm. Mọi chuyện mới kỳ lạ làm sao!
Cô I-lô-vai-xcai-a nhún vai, nhấp một ngụm trà rồi nói:
- Có những ngày lễ mang mùi hương riêng của nó. Vào lễ Phục sinh, lễ Chúa Ba Ngôi, lễ Giáng sinh, trong không khí có một mùi gì đó đặc biệt. Ngay cả những người không có đức tin cũng yêu những ngày lễ ấy. Chẳng hạn anh tôi cứ bảo là không có Chúa, thế mà đến lễ Phục sinh lại là người đầu tiên chạy đi dự lễ sáng.
Li-kha-ri-ốp ngước mắt nhìn cô I-lô-vai-xcai-a rồi bật cười.
- Người ta bảo là không có Chúa, - cô I-lô-vai-xcai-a nói tiếp, cũng bật cười, - nhưng ông nói giùm tôi, sao tất cả các nhà văn nổi tiếng, các nhà bác học, nói chung là những người thông minh, về cuối đời lại tin?
- Thưa cô, ai thời trẻ không biết tin thì về già cũng chẳng tin, dù có là nhà văn viết nhiều đến đâu đi nữa.
Nghe tiếng ho thì biết Li-kha-ri-ốp có giọng trầm, nhưng có lẽ vì sợ nói to, hay vì quá rụt rè, ông nói giọng nam cao. Im lặng một lúc, ông thở dài rồi nói:
- Tôi hiểu thế này, đức tin là một khả năng của tâm hồn. Nó cũng như tài năng: phải sinh ra đã có. Theo chỗ tôi có thể xét đoán qua bản thân mình, qua những người tôi đã gặp trong đời, qua tất cả những gì đã diễn ra quanh mình, thì khả năng ấy có ở người Nga ở mức cao nhất. Đời sống Nga là một chuỗi liên tiếp những niềm tin và những say mê, còn sự không tin hay phủ nhận thì nó, nếu cô muốn biết, còn chưa từng ngửi thấy. Nếu một người Nga không tin vào Chúa, thì có nghĩa là anh ta tin vào một thứ gì khác.
Li-kha-ri-ốp đỡ lấy cốc trà cô I-lô-vai-xcai-a đưa, uống ngay một hơi hết nửa cốc rồi nói tiếp:
- Tôi xin kể cô nghe về bản thân tôi. Tạo hoá đã đặt vào tâm hồn tôi một khả năng tin phi thường. Nửa đời tôi nằm trong hàng ngũ những người vô thần và hư vô chủ nghĩa, nói ra giữa đêm thế này chẳng hay, vậy mà trong đời tôi không có lấy một giờ nào tôi không tin. Mọi tài năng thường bộc lộ từ thuở ấu thơ, khả năng của tôi cũng thế, nó đã tỏ ra khi tôi còn đi lững chững dưới gầm bàn. Mẹ tôi thích con cái ăn nhiều, nên mỗi lần cho tôi ăn, bà lại nói: "Ăn đi! Điều chính trong đời là món xúp!" Tôi tin, tôi ăn món xúp ấy mười lần một ngày, ăn như cá mập, ăn đến ghê tởm và ngất xỉu. Bà vú kể chuyện cổ tích, và tôi tin vào ma nhà, vào thần rừng, vào đủ thứ quỷ quái. Có lần tôi lấy trộm thuốc độc của bố, rắc lên bánh mật ong rồi mang lên gác xép, để, cô thấy đấy, cho ma nhà ăn mà lăn ra chết hết. Còn khi tôi học được cách đọc và hiểu những gì mình đọc, thì thôi rồi, tha hồ mà náo loạn! Tôi đã bỏ trốn sang châu Mỹ, đã bỏ đi làm kẻ cướp, đã xin vào tu viện, đã thuê bọn trẻ con hành hạ mình vì Chúa Ki-tô. Và cô để ý xem, đức tin của tôi bao giờ cũng là đức tin hành động, chứ không chết. Nếu tôi trốn sang châu Mỹ, thì không đi một mình mà còn rủ rê thêm một đứa nào đó, ngốc như tôi, và tôi sung sướng khi bị rét cóng ngoài trạm gác cổng thành, khi bị đánh đòn. Nếu tôi bỏ đi làm kẻ cướp, thì thế nào cũng về với cái mặt sưng vếu. Một tuổi thơ không yên ổn nhất trần đời, tôi xin thưa với cô! Còn khi người ta cho tôi vào trường trung học, và trút lên đầu tôi đủ thứ chân lý như trái đất quay quanh mặt trời, hay màu trắng không phải là màu trắng mà gồm bảy màu, thì đầu óc tôi quay cuồng! Mọi thứ trong tôi lộn tùng phèo: cả ông Giô-suê đã làm mặt trời dừng lại, cả mẹ tôi, nhân danh tiên tri Ê-li, đã phủ nhận cột thu lôi, cả bố tôi, người thờ ơ với những chân lý tôi vừa biết. Sự sáng mắt của tôi làm tôi hăng hái. Như kẻ mất trí, tôi đi khắp nhà, khắp chuồng ngựa, rao giảng chân lý của mình, kinh hoàng trước sự dốt nát, bừng bừng căm ghét tất cả những ai trong màu trắng chỉ thấy màu trắng... Nhưng thôi, tất cả những chuyện ấy là vớ vẩn, là trò trẻ con. Những say mê nghiêm túc, có thể nói là đàn ông, của tôi bắt đầu từ thời đại học. Thưa cô, cô có học xong trường nào không?
- Ở Nô-vô-tréc-cát-xcơ, trường nữ học vùng sông Đông.
- Thế cô không học các lớp đại học à? Vậy thì cô không biết khoa học là gì. Tất cả các ngành khoa học trên đời đều có chung một tấm hộ chiếu, thiếu nó thì chúng coi như không thể tồn tại: khát vọng đi tìm chân lý! Ngành nào trong số đó, kể cả cái môn dược liệu học gì đó, đều lấy chân lý làm mục đích, chứ không phải lợi ích hay tiện nghi trong đời sống. Tuyệt vời! Khi cô bắt đầu học một môn khoa học nào đó, trước hết cô sẽ sững sờ vì phần mở đầu của nó. Tôi xin nói với cô, không có gì cuốn hút hơn, vĩ đại hơn, không có gì làm tinh thần con người choáng ngợp và mê say hơn là phần mở đầu của một ngành khoa học. Ngay từ năm sáu bài giảng đầu, cô đã được chắp cánh bởi những hy vọng rực rỡ nhất, cô đã tưởng mình là chủ nhân của chân lý. Và tôi đã dâng hiến mình cho khoa học không chút giữ gìn, say đắm, như cho một người đàn bà mình yêu. Tôi là nô lệ của khoa học, và ngoài nó ra, tôi không muốn biết một mặt trời nào khác. Ngày cũng như đêm, chẳng thẳng lưng lên, tôi học gạo, tán gia bại sản vì sách, tôi khóc khi trước mắt mình người ta bóc lột khoa học vì mục đích riêng. Nhưng tôi say mê không được lâu. Vấn đề là ngành khoa học nào cũng có phần mở đầu, nhưng hoàn toàn không có phần kết thúc, y như một số thập phân vô hạn tuần hoàn. Động vật học đã phát hiện ba mươi lăm nghìn loài côn trùng, hoá học đếm được sáu mươi đơn chất. Nếu theo thời gian, bên phải những con số ấy có thêm mười con số không nữa, thì động vật học và hoá học vẫn xa cái đích cuối cùng như bây giờ, mà toàn bộ công việc khoa học hiện đại chính là ở chỗ tăng thêm những con số. Tôi hiểu ra cái trò ảo thuật ấy khi tôi phát hiện ra loài thứ ba mươi lăm nghìn lẻ một mà không thấy thoả mãn. Ấy thế mà tôi còn chưa kịp nếm trải nỗi thất vọng, vì chẳng mấy chốc một đức tin mới đã chiếm lấy tôi. Tôi lao vào chủ nghĩa hư vô với những truyền đơn, những cuộc chia lại ruộng đất và đủ thứ trò khác. Tôi đi về với dân, làm việc trong các nhà máy, làm thợ tra dầu, làm phu kéo thuyền. Rồi khi đi lang thang khắp nước Nga, ngửi được hơi thở đời sống Nga, tôi trở thành một người sùng bái nồng nhiệt cuộc sống ấy. Tôi yêu dân tộc Nga đến đau khổ, yêu và tin vào Chúa của dân, vào ngôn ngữ, vào sáng tác của dân... Và vân vân, vân vân... Có thời tôi là người thân Xla-vơ, làm phiền ông Ác-xa-cốp bằng những lá thư, rồi là người thân U-crai-na, là nhà khảo cổ, là người sưu tầm văn hoá dân gian... tôi say mê những tư tưởng, những con người, những sự kiện, những vùng đất... say mê không ngừng nghỉ! Năm năm trước, tôi phụng sự sự phủ nhận quyền tư hữu. Đức tin gần đây nhất của tôi là không chống lại cái ác bằng bạo lực.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn