Tôi đi từ phương bắc xuống đông nam, đi vòng qua thăm quê nhà, rồi tới thành S. Thành này cách quê tôi chẳng qua ba mươi dặm, đi thuyền nhỏ, non nửa ngày là tới. Tôi từng dạy học một năm ở trường học nơi đây. Giữa mùa đông sau tuyết, cảnh vật lạnh lẽo hiu quạnh. Cái lười nhác với nỗi hoài cổ quyện vào nhau, thế là tôi lại tạm trọ ở lữ quán Lạc Tư ở thành S. Lữ quán này trước kia chưa có. Thành vốn chẳng lớn, tôi đi tìm mấy đồng nghiệp cũ tưởng có thể gặp, không một ai còn ở đây, đã tản đi đâu từ lâu chẳng biết. Đi qua cổng trường, thì tên gọi lẫn dáng vẻ cũng đã thay đổi, tôi thấy xa lạ lắm. Chưa tới hai canh giờ, hứng thú của tôi đã cạn sạch, khá hối hận vì chuyến tới đây là lắm chuyện.
Lữ quán tôi ở chỉ cho thuê phòng, không bán cơm, cơm canh phải gọi riêng, mà lại nhạt nhẽo, ăn vào như nhai đất. Ngoài cửa sổ chỉ có bức tường loang lổ vết ố, dán đầy rêu khô chết. Bên trên là bầu trời màu chì, trắng xoá chẳng chút sinh khí, mà tuyết nhẹ lại bắt đầu bay lả tả. Bữa trưa tôi vốn ăn chưa no, lại chẳng có việc gì tiêu khiển, nên rất tự nhiên nghĩ tới một quán rượu nhỏ ngày trước tôi rất quen, tên là Nhất Thạch Cư, tính ra cách lữ quán cũng không xa. Thế là tôi lập tức khoá cửa phòng, ra phố đi về phía quán rượu ấy. Thật ra cũng chẳng qua muốn tạm trốn nỗi buồn tẻ của kẻ làm khách, chứ không chuyên để tìm say. Nhất Thạch Cư vẫn còn, mặt tiền hẹp, âm u ẩm thấp và tấm biển cũ nát vẫn như xưa. Nhưng từ ông chủ cho tới người hầu bàn đã không còn một ai quen, ở Nhất Thạch Cư tôi cũng hoàn toàn thành khách lạ. Thế nhưng rốt cuộc tôi vẫn bước lên chiếc cầu thang ở góc nhà đã đi quen, từ đó lên thẳng tầng gác nhỏ. Bên trên vẫn là năm chiếc bàn gỗ nhỏ như cũ. Chỉ có cửa sổ phía sau vốn là song gỗ thì đã thay bằng kính.
— Một cân rượu Thiệu Hưng. Món ăn à? Mười miếng đậu phụ rán, nhiều tương ớt nhé!
Tôi vừa nói với người hầu bàn theo tôi lên, vừa đi về phía cửa sổ sau, ngồi xuống chiếc bàn sát cửa sổ. Trên gác trống trơn, tha hồ cho tôi chọn chỗ ngồi tốt nhất: có thể nhìn xuống khu vườn hoang dưới gác. Khu vườn này có lẽ không thuộc về quán rượu, ngày trước tôi cũng từng nhìn ngắm nhiều lần, có khi cả những ngày tuyết rơi. Nhưng giờ nhìn bằng con mắt đã quen với phương bắc, thì thấy thật đáng kinh ngạc: mấy gốc mai già lại đua với tuyết mà nở đầy cây hoa, như chẳng hề để ý tới giữa mùa đông. Bên cạnh ngôi đình đổ nát còn một cây sơn trà, giữa đám lá xanh rậm rạp lộ ra hơn chục bông hoa đỏ, rực sáng như lửa giữa tuyết, giận dữ mà kiêu ngạo, như khinh bỉ kẻ lữ khách cam lòng đi xa. Lúc ấy tôi lại bỗng nghĩ tới tuyết đọng ở đây ẩm mịn, bám vào vật thì không rời, long lanh có ánh sáng, chẳng như tuyết phương bắc khô như bột, gió lớn thổi qua là bay đầy trời như khói…
— Rượu của ông đây…
Người hầu bàn uể oải nói, đặt xuống chén, đũa, bầu rượu với bát đĩa. Rượu tới rồi. Tôi quay mặt về chiếc bàn gỗ, bày đồ ra, rót rượu. Tôi thấy phương bắc vốn không phải quê cũ của tôi, mà về nam thì cũng chỉ được coi là khách. Dù tuyết khô bên kia bay tơi bời thế nào, tuyết mềm bên này quyến luyến thế nào, với tôi đều chẳng liên quan gì. Tôi hơi buồn, nhưng rất khoan khoái nhấp một ngụm rượu. Rượu vị rất thuần. Đậu phụ rán cũng nấu rất ngon. Tiếc là tương ớt nhạt quá, vốn người thành S không biết ăn cay.
Có lẽ vì đang buổi chiều, nên lúc này nói là quán rượu, mà chẳng có chút không khí quán rượu nào. Tôi đã uống hết ba chén, mà ngoài tôi ra vẫn là bốn chiếc bàn trống. Tôi nhìn khu vườn hoang, dần dần thấy cô đơn, nhưng lại không muốn có khách rượu nào khác lên. Thỉnh thoảng nghe tiếng chân trên cầu thang, tôi lại bất giác hơi bực, tới khi thấy là người hầu bàn mới yên tâm. Cứ thế lại uống thêm hai chén.
Tôi nghĩ, lần này chắc là khách rượu rồi, vì nghe tiếng chân chậm hơn người hầu bàn nhiều. Đoán chừng người ấy đã lên hết cầu thang, tôi bèn như sợ hãi ngẩng đầu lên nhìn người bạn rượu chẳng liên quan gì tới mình này, đồng thời cũng giật mình đứng dậy. Tôi không ngờ lại tình cờ gặp bạn ở đây, nếu bây giờ anh còn cho phép tôi gọi anh là bạn. Người vừa lên rõ ràng là bạn học cũ của tôi, cũng là đồng nghiệp cũ thời dạy học. Mặt mũi tuy đã thay đổi khá nhiều, nhưng nhìn một cái là nhận ra ngay. Chỉ có cử chỉ thì chậm chạp khác thường, chẳng giống chàng Lã Vĩ Phủ nhanh nhẹn tinh anh năm xưa chút nào.
— Ồ, Vĩ Phủ, anh đấy à? Tôi không ngờ lại gặp anh ở đây.
— Ồ ồ, anh đấy à? Tôi cũng không ngờ…
Tôi bèn mời anh ngồi cùng, nhưng anh dường như hơi ngần ngừ rồi mới ngồi xuống. Thoạt đầu tôi lấy làm lạ, tiếp đó lại hơi buồn, và không vui. Nhìn kỹ dung mạo anh, vẫn là mái tóc bộ râu bù xù. Khuôn mặt dài xanh xao, nhưng đã gầy yếu. Tinh thần trầm tĩnh, hay có lẽ là uể oải. Đôi mắt dưới cặp lông mày vừa rậm vừa đen cũng mất hết tinh anh. Nhưng khi anh chậm rãi nhìn quanh, thì nhìn ra khu vườn hoang, bỗng loé lên cái ánh mắt sắc như muốn xuyên người mà thời đi học tôi thường thấy.
— Chúng ta… — Tôi vui vẻ, nhưng khá gượng gạo nói. — Chúng ta xa nhau lần này, chắc tới mười năm rồi nhỉ. Tôi biết anh ở Tế Nam từ lâu, nhưng thật lười quá, rốt cuộc chẳng viết được lá thư nào…
— Hai bên đều thế cả. Nhưng giờ tôi ở Thái Nguyên rồi, đã hơn hai năm, với mẹ tôi. Lúc về đón mẹ, tôi biết anh đã dọn đi từ lâu, dọn sạch trơn.
— Anh ở Thái Nguyên làm gì? — Tôi hỏi.
— Dạy học, ở nhà một người đồng hương.
— Trước đó thì sao?
— Trước đó à?
Anh móc trong túi áo ra một điếu thuốc lá, châm lửa ngậm vào miệng, nhìn làn khói phả ra, như trầm ngâm mà nói:
— Chẳng qua làm mấy việc vô vị, cũng như chẳng làm gì.
Anh cũng hỏi tình cảnh của tôi từ ngày xa cách. Tôi vừa kể đại khái với anh, vừa gọi người hầu bàn mang thêm chén đũa, để anh uống rượu của tôi trước, rồi gọi thêm hai cân nữa. Trong lúc ấy còn gọi món. Ngày trước chúng tôi vốn chẳng khách sáo gì với nhau, vậy mà lúc này lại nhường nhau mãi, rốt cuộc chẳng biết món nào là ai gọi, cứ theo lời người hầu bàn kể mà chỉ định bốn món: đậu hồi hương, thịt đông, đậu phụ rán, cá trắm khô.
— Về tới nơi, tôi đã thấy mình buồn cười. — Anh một tay cầm điếu thuốc, một tay vịn chén rượu, cười như không cười nói với tôi. — Hồi còn nhỏ, tôi thấy con ong hay con ruồi đậu ở một chỗ, bị cái gì làm cho giật mình, lập tức bay đi, nhưng bay một vòng nhỏ, lại quay về đậu đúng chỗ cũ. Tôi cho thế thật là buồn cười, cũng đáng thương. Ai ngờ giờ chính tôi cũng bay về, chẳng qua vòng một vòng nhỏ. Lại không ngờ anh cũng về. Anh không bay xa hơn được sao?
— Khó nói lắm, có lẽ cũng chẳng ngoài vòng mấy vòng nhỏ. — Tôi cũng cười như không cười nói. — Nhưng anh bay về vì việc gì?
— Cũng vẫn vì việc vô vị. — Anh uống cạn một chén rượu, hút mấy hơi thuốc, mắt hơi mở to ra. — Vô vị lắm. Nhưng thôi, ta cứ nói chuyện vậy.
Người hầu bàn bưng rượu thức ăn mới gọi lên, bày đầy cả bàn, trên gác lại thêm khói thuốc với hơi nóng của đậu phụ rán, như náo nhiệt hẳn lên. Tuyết ngoài gác cũng càng rơi dày.
— Có lẽ anh vốn biết. — Anh nói tiếp. — Tôi từng có một đứa em trai nhỏ, chết năm lên ba, chôn ở dưới quê này. Mặt mũi nó tôi cũng chẳng nhớ rõ nữa, nhưng nghe mẹ kể, nó là đứa bé rất đáng yêu, lại rất hợp với tôi, tới giờ mẹ nhắc tới vẫn như sắp rơi nước mắt. Mùa xuân năm nay, một người anh họ gửi tới một lá thư, bảo mộ nó nước đã dần dần ngấm vào, chẳng bao lâu sợ sụt xuống sông mất, phải mau tìm cách. Mẹ tôi biết chuyện thì cuống lắm, mấy đêm liền gần như không ngủ được. Mẹ lại tự đọc được thư. Nhưng tôi có cách gì đâu? Không tiền, không thì giờ, lúc ấy chẳng có cách nào cả.
— Lần lữa mãi tới bây giờ, nhân dịp nghỉ tết rảnh rỗi, tôi mới về nam bốc mộ cho nó được.
Anh lại uống cạn một chén rượu, nhìn ra cửa sổ, nói:
— Bên kia làm sao được thế này? Giữa tuyết đọng mà có hoa, dưới đất tuyết mà không đóng băng. Ngay hôm kia, tôi lên thành mua một cỗ quan tài nhỏ, vì tôi đoán cái dưới đất chắc đã mục nát từ lâu, mang theo bông với chăn đệm, thuê bốn người phu đất, về quê bốc mộ. Lúc ấy tôi bỗng rất vui, muốn đào một ngôi mộ, muốn thấy một lần hài cốt đứa em nhỏ từng rất thân thiết với mình. Những việc này cả đời tôi chưa từng trải qua. Tới nghĩa địa, quả nhiên nước sông cứ gặm vào, chỉ còn cách mộ chưa tới hai thước. Ngôi mộ đáng thương, hai năm không vun đất, cũng đã bẹp xuống. Tôi đứng giữa tuyết, quả quyết chỉ vào nó mà bảo những người phu: Đào ra! Tôi thật là một kẻ tầm thường, lúc ấy tôi thấy giọng mình có phần lạ lùng, mệnh lệnh ấy cũng là mệnh lệnh vĩ đại nhất trong đời tôi. Nhưng những người phu chẳng chút ngạc nhiên, cứ thế bắt tay đào xuống. Đợi đào tới huyệt, tôi bèn lại gần xem, quả nhiên quan tài đã gần như mục hết, chỉ còn lại một đống sợi gỗ với mảnh gỗ vụn. Tim tôi run lên, tự mình gạt những thứ ấy ra, rất cẩn thận, muốn xem đứa em nhỏ của mình, nhưng thật không ngờ! Chăn đệm, quần áo, xương cốt, chẳng có gì cả. Tôi nghĩ, những thứ ấy đã tan hết rồi, xưa nay nghe nói khó mục nhất là tóc, có lẽ vẫn còn. Tôi bèn cúi rạp xuống, xem xét tỉ mỉ trong lớp đất đáng lẽ là chỗ đặt gối, cũng không có. Không còn chút dấu vết nào!
Tôi bỗng thấy vành mắt anh hơi đỏ, nhưng lập tức biết là anh đã ngà say. Anh chẳng mấy khi ăn thức ăn, chỉ uống rượu không ngừng, đã uống hơn một cân, thần sắc với cử chỉ đều linh hoạt hẳn, dần dần gần với Lã Vĩ Phủ tôi thấy ngày trước. Tôi gọi người hầu bàn thêm hai cân rượu nữa, rồi quay người lại, cũng cầm chén rượu, ngồi đối diện lặng lẽ nghe.
— Thật ra, vốn có thể chẳng cần bốc nữa, chỉ cần san phẳng đất, bán cỗ quan tài đi, là xong chuyện. Tôi đi bán quan tài tuy hơi kỳ quặc, nhưng chỉ cần giá thật rẻ, cửa hàng cũ có khi cũng mua lại, ít ra cũng gỡ lại được mấy đồng tiền rượu. Nhưng tôi không làm thế. Tôi vẫn trải chăn đệm, lấy bông gói một ít đất ở chỗ trước kia là thân thể nó, bọc lại, đặt vào quan tài mới, chở tới nghĩa địa nơi cha tôi nằm, chôn bên cạnh mộ cha. Vì bên ngoài xây gạch, hôm qua tôi lại bận mất nửa ngày, đứng trông thợ. Nhưng thế cũng coi như xong được một việc, đủ để lừa mẹ tôi, cho mẹ yên lòng. Ồ ồ, anh nhìn tôi thế, anh trách sao tôi khác trước nhiều quá phải không? Phải, tôi vẫn còn nhớ lúc chúng ta cùng vào miếu Thành Hoàng nhổ râu tượng thần, lúc mấy ngày liền bàn chuyện cải cách Trung Quốc tới mức đánh nhau. Nhưng giờ tôi là thế này đây, qua loa cho xong, mơ mơ hồ hồ. Có khi chính tôi cũng nghĩ, nếu bạn bè ngày trước thấy tôi, sợ không nhận tôi là bạn nữa. Nhưng giờ tôi là thế này đây.
Anh lại móc ra một điếu thuốc, ngậm vào miệng, châm lửa.
— Nhìn vẻ mặt anh, hình như anh vẫn còn chút kỳ vọng ở tôi. Bây giờ tôi dĩ nhiên đã tê dại hơn nhiều, nhưng có những điều vẫn còn nhìn ra được. Điều ấy khiến tôi rất cảm kích, nhưng cũng khiến tôi rất bất an: sợ rốt cuộc mình phụ lòng người bạn cũ tới giờ vẫn còn dành cho mình thiện ý…
Anh bỗng ngừng lại, hút mấy hơi thuốc, rồi mới chậm rãi nói tiếp:
— Ngay hôm nay, vừa trước khi tới Nhất Thạch Cư này, tôi cũng làm một việc vô vị, nhưng cũng là việc tự tôi muốn làm. Người hàng xóm phía đông nhà tôi ngày trước tên là Trường Phú, làm nghề chở thuyền. Ông ta có một đứa con gái tên là A Thuận. Hồi ấy anh tới nhà tôi, có lẽ cũng từng gặp, nhưng chắc anh không để ý, vì hồi ấy cô bé còn nhỏ. Về sau cô cũng chẳng xinh đẹp gì, chỉ là khuôn mặt trái xoan gầy gầy bình thường, da mặt vàng vọt. Chỉ có đôi mắt to lạ thường, lông mi rất dài, lòng trắng xanh như bầu trời đêm quang đãng, mà phải là bầu trời quang đãng không gió ở phương bắc, ở đây không trong được như thế. Cô rất tháo vát, mười mấy tuổi đã mất mẹ, chăm sóc hai đứa em nhỏ đều trông vào cô, lại phải hầu hạ cha, việc gì cũng chu đáo. Cũng biết tằn tiện, nên cảnh nhà dần dần vững vàng. Hàng xóm gần như không ai không khen cô, đến Trường Phú cũng thường nói những lời cảm kích. Lần này lúc tôi lên đường về đây, mẹ tôi lại nhớ tới cô, người già trí nhớ thật dai. Mẹ bảo từng biết cô Thuận vì thấy trên đầu ai đó cài bông hoa nhung đỏ, mình cũng muốn có một bông, không kiếm được, bèn khóc, khóc tới gần nửa đêm, bị cha đánh cho một trận, về sau vành mắt còn sưng đỏ hai ba ngày. Thứ hoa nhung này là hàng tỉnh ngoài, trong thành S còn chẳng mua được, cô làm sao mà có được? Nhân dịp tôi về nam lần này, mẹ bèn bảo tôi mua hai bông mang tới tặng cô.
— Tôi chẳng thấy việc ấy phiền chút nào, trái lại còn rất thích. Vì A Thuận, tôi thật còn muốn ra sức đôi chút. Năm kia, lúc tôi về đón mẹ, có một hôm Trường Phú ở nhà, chẳng biết sao tôi với ông ta ngồi nói chuyện phiếm. Ông bèn muốn mời tôi ăn điểm tâm, bột kiều mạch, lại còn bảo tôi là có cho đường trắng. Anh nghĩ xem, nhà làm nghề thuyền mà có đường trắng, đủ thấy tuyệt không phải nhà nghề thuyền nghèo, nên ông ta ăn uống cũng sang. Tôi không từ chối được, bèn nhận lời, nhưng xin chỉ dùng bát nhỏ. Ông ta cũng rất hiểu đời, bèn dặn A Thuận: Bọn văn nhân ấy à, chẳng biết ăn đâu. Con lấy bát nhỏ, cho nhiều đường vào! Thế nhưng tới lúc pha xong bưng ra, vẫn khiến tôi giật mình, là một bát to, đủ cho tôi ăn cả ngày. Nhưng so với bát của Trường Phú, thì bát của tôi đúng là bát nhỏ thật. Cả đời tôi chưa ăn bột kiều mạch bao giờ, lần này nếm thử, thật chẳng ngon chút nào, mà lại ngọt lạ thường. Tôi lơ đãng ăn mấy miếng, đã muốn thôi. Nhưng vô tình, bỗng thấy A Thuận đứng xa xa ở góc nhà, tôi lập tức mất hết can đảm đặt bát đũa xuống. Nhìn vẻ mặt cô, vừa sợ hãi vừa hy vọng, có lẽ sợ mình pha không ngon, mong chúng tôi ăn thấy ngon miệng. Tôi biết nếu bỏ thừa hơn nửa bát, chắc chắn sẽ khiến cô rất thất vọng, lại rất áy náy. Thế là tôi đồng thời quyết tâm, há to cổ họng mà dốc vào, ăn gần nhanh bằng Trường Phú. Từ đó tôi mới biết nỗi khổ của việc cố ăn. Tôi chỉ nhớ hồi còn bé ăn hết một bát đường cát trộn thuốc tẩy giun mới khó như thế. Nhưng tôi chẳng chút oán trách, vì nụ cười đắc ý cố nén của cô khi tới dọn bát không, đã thừa đủ bù cho nỗi khổ của tôi. Cho nên đêm ấy tuy no căng ngủ không yên, lại mơ cả một chuỗi ác mộng, tôi vẫn chúc cô cả đời hạnh phúc, mong thế giới vì cô mà tốt lên. Nhưng những ý nghĩ ấy cũng chẳng qua là dấu vết của những giấc mơ cũ của tôi, lập tức tôi tự cười mình, rồi cũng quên đi.
— Trước kia tôi không biết cô từng vì một bông hoa nhung mà bị đánh, nhưng mẹ vừa nhắc tới, tôi cũng nhớ ra chuyện bột kiều mạch, bỗng trở nên siêng năng lạ thường. Tôi tìm khắp thành Thái Nguyên trước, đều không có. Mãi tới tận Tế Nam…
Ngoài cửa sổ vang lên một tràng tiếng sột soạt, bao nhiêu tuyết đọng từ cành sơn trà bị tuyết đè cong trượt xuống, cành cây vươn thẳng tắp, càng lộ ra những chiếc lá dày đen mượt với những bông hoa đỏ như máu. Màu chì trên bầu trời càng đậm, mấy con chim sẻ nhỏ kêu chiêm chiếp, có lẽ hoàng hôn đã gần, mặt đất lại phủ kín tuyết, chẳng tìm ra thức ăn gì, đều vội về tổ sớm nghỉ ngơi.
— Mãi tới tận Tế Nam. — Anh nhìn ra cửa sổ một lúc, quay lại uống cạn một chén rượu, lại hút mấy hơi thuốc, rồi nói tiếp. — Tôi mới mua được hoa nhung. Tôi cũng không biết thứ làm cô bị đánh có phải loại này không, dù sao cũng là làm bằng nhung. Tôi cũng không biết cô thích màu đậm hay màu nhạt, bèn mua một bông đỏ thắm, một bông hồng phấn, mang cả về đây.
— Chính chiều nay, ăn cơm xong, tôi liền đi thăm Trường Phú. Tôi cố ý nán lại thêm một ngày vì việc ấy. Nhà ông ta vẫn còn đó, chỉ trông có vẻ xui xẻo, nhưng có lẽ đó chỉ là cảm giác của tôi. Con trai ông với con gái thứ hai là A Chiêu đều đứng ở cửa, đã lớn cả. A Chiêu chẳng giống chị chút nào, cứ như một con ma, nhưng thấy tôi đi về phía nhà mình, liền chạy biến vào trong. Tôi bèn hỏi thằng con trai, biết Trường Phú không có nhà. Thế chị cả mày đâu? Nó lập tức trợn mắt, hỏi dồn tôi tìm chị nó có việc gì, mà còn hung dữ như sắp lao tới cắn tôi. Tôi ấp úng lui ra. Giờ tôi là thế đấy, qua loa cho xong…
— Anh không biết đâu, tôi bây giờ còn sợ đi thăm người ta hơn trước. Vì tôi đã biết quá rõ mình đáng ghét, đến chính mình cũng ghét mình, việc gì phải biết mà vẫn cố làm cho người ta thầm khó chịu? Nhưng việc lần này không thể không làm cho xong, nên nghĩ một lúc, tôi rốt cuộc quay lại cửa hàng củi ngay chéo trước cửa. Mẹ của chủ hàng là bà Lão Phát vẫn còn, lại còn nhận ra tôi, lại mời tôi vào hàng ngồi. Hàn huyên mấy câu, tôi bèn nói rõ lý do về thành S và tìm Trường Phú. Không ngờ bà thở dài bảo: Tiếc thật, cô Thuận không có phúc cài hoa nhung này nữa rồi.
— Rồi bà kể tỉ mỉ cho tôi nghe, rằng có lẽ từ mùa xuân năm ngoái, cô đã thấy vàng vọt gầy đi, về sau bỗng hay khóc, hỏi vì sao cũng không nói. Có khi còn khóc suốt đêm, khóc tới mức Trường Phú cũng không nhịn được mà nổi giận, mắng cô lớn rồi mà phát điên. Nhưng tới đầu thu, thoạt đầu chỉ là cảm nhẹ, rồi rốt cuộc nằm liệt, từ đó không dậy được nữa. Mãi tới mấy hôm trước khi tắt thở, cô mới chịu nói với Trường Phú rằng mình đã như mẹ từ lâu, thỉnh thoảng nôn ra máu và đổ mồ hôi trộm. Nhưng cô giấu, sợ cha vì thế mà lo. Có một đêm, ông bác cô là Trường Canh lại tới vay tiền ép, chuyện ấy vẫn thường xảy ra, cô không cho, Trường Canh bèn cười nhạt mà bảo: Mày đừng có kiêu, chồng mày còn chẳng bằng tao! Từ đó cô sinh buồn, lại xấu hổ, không dám hỏi, chỉ biết khóc. Trường Phú vội kể cho cô nghe chồng sắp cưới của cô chịu khó làm ăn thế nào, nhưng còn kịp gì nữa? Huống hồ cô cũng không tin, lại còn bảo: May mà con đã thế này rồi, chẳng còn gì quan trọng nữa.
— Bà còn bảo: Nếu chồng nó thật không bằng Trường Canh, thì đáng sợ thật! Không bằng một thằng ăn cắp gà, thì là cái thứ gì? Nhưng lúc anh ta tới đưa ma, chính mắt tôi thấy, quần áo sạch sẽ, người cũng đường hoàng. Lại còn nước mắt lưng tròng mà bảo, mình chống thuyền nhỏ nửa đời người, chịu khổ tằn tiện dành dụm mới hỏi được một người vợ, thế mà lại chết mất. Đủ thấy anh ta thật là người tốt, Trường Canh nói toàn là dối. Chỉ tiếc cô Thuận lại tin lời dối của cái thằng xương trộm ấy, uổng mạng. Nhưng cũng chẳng trách được ai, chỉ trách cô Thuận không có phần phúc ấy.
— Thế cũng được, việc của tôi lại xong. Nhưng hai bông hoa nhung mang theo người thì làm sao? Thôi, tôi bèn nhờ bà đưa cho A Chiêu. Con A Chiêu này thấy tôi là chạy biến, có lẽ coi tôi như con sói hay gì đó, thật tôi chẳng muốn tặng nó. Nhưng tôi cũng tặng rồi, về chỉ cần nói với mẹ là A Thuận thấy thì mừng lắm là được. Những việc vô vị này có đáng gì? Chỉ cần mơ mơ hồ hồ. Mơ mơ hồ hồ qua tết, rồi lại đi dạy Tử viết, Thi vân của tôi.
— Anh dạy Tử viết, Thi vân à?
Tôi thấy lạ, bèn hỏi.
— Dĩ nhiên. Anh còn tưởng tôi dạy a bê xê đê chắc? Lúc đầu tôi có hai học trò, một đứa học Kinh Thi, một đứa học Mạnh Tử. Gần đây lại thêm một đứa, con gái, học Nữ nhi kinh. Đến môn tính cũng không dạy, không phải tôi không dạy, mà họ không muốn dạy.
— Thật tôi không ngờ anh lại đi dạy những sách ấy…
— Bố chúng muốn chúng học những thứ ấy, tôi là người ngoài, thế nào cũng được. Những việc vô vị này có đáng gì? Chỉ cần tuỳ tiện cho qua…
Mặt anh đã đỏ gay, có vẻ đã khá say, nhưng ánh mắt lại chìm xuống. Tôi khẽ thở dài, nhất thời không biết nói gì. Trên cầu thang vang lên một tràng tiếng động hỗn loạn, mấy người khách rượu ùa lên: người đi đầu là một gã lùn, mặt tròn núng nính. Người thứ hai cao, trên mặt nổi bật một cái mũi đỏ. Sau đó còn người nữa, đi liền một mạch làm cả căn gác nhỏ rung lên. Tôi quay mắt nhìn Lã Vĩ Phủ, anh cũng đang quay mắt nhìn tôi. Tôi bèn gọi người hầu bàn tính tiền rượu.
— Anh nhờ việc ấy mà vẫn sống được à? — Tôi vừa chuẩn bị đi, vừa hỏi.
— Ừ. Mỗi tháng tôi được hai mươi đồng, cũng chẳng xoay xở đủ được.
— Thế sau này anh định thế nào?
— Sau này à? Tôi không biết. Anh xem những điều chúng ta dự tính hồi ấy, có điều nào được như ý không? Bây giờ tôi chẳng biết gì cả, đến ngày mai ra sao cũng không biết, đến một phút sau…
Người hầu bàn mang hoá đơn tới, đưa cho tôi. Anh cũng không còn khiêm nhường như lúc mới tới, chỉ nhìn tôi một cái, rồi hút thuốc, mặc tôi trả tiền.
Chúng tôi cùng ra khỏi quán. Lữ quán anh ở ngược hướng với tôi, nên chia tay ngay ở cửa. Tôi một mình đi về lữ quán của mình, gió lạnh với bông tuyết táp vào mặt, lại thấy rất sảng khoái. Thấy trời đã hoàng hôn, cùng nhà cửa phố xá đều được dệt vào tấm lưới trắng tinh mà chập chờn của tuyết dày.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn