Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Trường lớp và trường đời

của O. Henry

⏱ 24 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 20.994 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ông già Giê-rôm Oa-ren sống trong một ngôi nhà…
  2. 4:03Người ta vẫn quen gọi cái rắc rối thường…
  3. 6:50Được, được, được chứ cháu. Dĩ nhiên rồi. Sao…
  4. 10:43Ông già Giê-rôm đi thẳng lên gác với túi…
  5. 13:23Trong mười lăm giây, Bác-ba-ra nhìn Nê-va-đa chăm chăm…
  6. 17:20Nê-va-đa lao đi như một con chim hải âu…
  7. 20:21Lẽ ra anh phải nhận ra là em đồng…
  8. 23:08Anh bắt đầu loay hoay mặc một chiếc áo…

Ông già Giê-rôm Oa-ren sống trong một ngôi nhà giá trăm nghìn đô-la ở số ba mươi lăm, phố Năm Mươi Mấy Đông. Ông là một nhà môi giới chứng khoán ở khu phố dưới, giàu tới mức sáng nào cũng có thể đi bộ vài dãy phố về phía văn phòng, cho khoẻ người, rồi mới gọi xe.

Ông có một con trai nuôi, con của một người bạn cũ, tên là Ghin-bớt. Anh đang thành một hoạ sĩ thành đạt nhanh như anh nặn được màu ra khỏi tuýp. Một người nữa trong nhà là Bác-ba-ra Rốt, một cô cháu gái họ xa. Con người sinh ra là để gánh lấy phiền muộn. Vì thế, khi ông già Giê-rôm không có gia đình riêng, ông đi gánh lấy gánh nặng của người khác.

Ghin-bớt và Bác-ba-ra rất hợp nhau. Mọi người ngầm hiểu, và ngầm tính, rằng vào một buổi trưa đẹp trời nào đó, hai người sẽ đứng dưới một chiếc chuông kết hoa mà hứa với cha xứ sẽ làm cho tiền của ông già Giê-rôm luôn luôn chảy rần rật. Nhưng tới đây thì phải cho thêm chút rắc rối.

Ba mươi năm trước, khi ông già Giê-rôm còn là anh Giê-rôm trẻ, ông có một người em trai tên là Đích. Đích đi về miền Tây tìm vận may, của mình hay của ai cũng được. Chẳng ai nghe tin tức gì về chú cho tới một hôm ông già Giê-rôm nhận được thư em. Lá thư viết cẩu thả trên giấy kẻ dòng, bốc mùi thịt muối và bã cà phê. Nét chữ hổn hển như người hen, chính tả thì run rẩy như người lên cơn giật.

Hoá ra Đích chẳng bắt được thần Tài đứng lại nộp của, mà chính chú lại bị chặn đường cướp, phải nộp con tin cho kẻ thù. Nghĩa là, theo lá thư, chú sắp sửa chết vì một lô bệnh tật mà đến rượu cũng không chặn nổi. Tất cả những gì ba mươi năm đi dò vàng đem lại cho chú chỉ là một đứa con gái, mười chín tuổi, đúng như hoá đơn ghi, chú đang gửi nó về miền Đông, cước phí đã trả trước, để anh Giê-rôm cho nó ăn mặc, nuôi nấng, dạy dỗ, an ủi và thương yêu suốt phần đời còn lại của nó, hoặc cho tới khi chuyện cưới xin chia lìa họ.

Ông già Giê-rôm là một tấm ván lát đường. Ai cũng biết trái đất được đỡ trên vai thần Át-lát, thần Át-lát đứng trên một hàng rào gỗ, và hàng rào gỗ thì dựng trên lưng một con rùa. Nhưng con rùa thì cũng phải đứng trên một cái gì chứ. Đó là một lối đi lát ván, làm bằng những người như ông già Giê-rôm.

Tôi không biết con người có được bất tử hay không. Nhưng nếu không, thì tôi muốn biết bao giờ những người như ông già Giê-rôm mới nhận được phần xứng đáng của mình?

Họ ra ga đón Nê-va-đa Oa-ren. Cô là một cô gái nhỏ nhắn, da rám nắng đậm, xinh xắn khoẻ khoắn, cử chỉ thẳng thắn chân chất, nhưng là kiểu cử chỉ khiến đến một anh chào hàng xì gà cũng phải nghĩ kỹ trước khi sấn tới. Nhìn cô, chẳng hiểu sao người ta cứ tưởng sẽ thấy cô mặc váy ngắn, quấn xà cạp da, đang bắn những quả bóng thuỷ tinh hay thuần ngựa hoang. Nhưng trong chiếc áo sơ mi trắng giản dị và chiếc váy đen, cô lại khiến người ta phải đoán lại lần nữa. Cô xách một chiếc va-li nặng trịch, nhẹ nhàng khoe sức, mấy anh khuân vác mặc đồng phục giằng mãi cũng không lấy được khỏi tay cô.

— Chị chắc chắn chúng mình sẽ thành bạn thân nhất, — Bác-ba-ra nói, hôn chụt lên gò má rắn rỏi rám nắng.

— Em mong thế, — Nê-va-đa nói.

— Cháu gái bé bỏng của bác, — ông già Giê-rôm nói, — bác đón cháu về nhà bác như chính nhà của cha cháu vậy.

— Cảm ơn bác, — Nê-va-đa nói.

— Còn anh sẽ gọi em là "em họ", — Ghin-bớt nói với nụ cười duyên dáng.

— Anh xách hộ em cái va-li nhé, — Nê-va-đa nói. — Nặng cả triệu cân. Trong đó có mẫu quặng của sáu cái mỏ cũ của bố em, — cô giải thích với Bác-ba-ra. — Em tính phân tích ra thì cả nghìn tấn được chừng chín xu, nhưng em đã hứa với bố là mang theo.

Người ta vẫn quen gọi cái rắc rối thường gặp giữa một chàng và hai nàng, hay một nàng và hai chàng, hay một nàng, một chàng và một nhà quý tộc, hay, thôi thì bất cứ bài toán nào kiểu ấy, là chuyện tình tay ba. Nhưng chẳng bao giờ có tam giác nào đơn thuần. Bao giờ chúng cũng là tam giác cân, chẳng bao giờ là tam giác đều. Thế là, khi Nê-va-đa Oa-ren tới, cô cùng Ghin-bớt và Bác-ba-ra Rốt xếp hàng thành một tam giác tượng trưng như thế. Và trong tam giác ấy, Bác-ba-ra là cạnh huyền.

Một buổi sáng, ông già Giê-rôm nán lại rất lâu sau bữa điểm tâm bên tờ báo buổi sáng nhạt nhẽo nhất thành phố, trước khi lên đường tới cái bẫy ruồi của ông ở khu phố dưới. Ông đã khá quý Nê-va-đa, thấy ở cô nhiều nét tự lập lặng lẽ và thẳng thắn không chút nghi kỵ của người em đã khuất.

Một cô hầu mang vào một lá thư gửi cô Nê-va-đa Oa-ren.

— Thưa cô, một cậu bé đưa thư mang tới cửa ạ, — cô hầu nói. — Cậu ấy đang chờ trả lời.

Nê-va-đa, đang huýt sáo khe khẽ một điệu van Tây Ban Nha qua kẽ răng, ngắm những cỗ xe ngựa và ô tô chạy dưới phố, cầm lấy phong bì. Chưa mở cô đã biết là thư của Ghin-bớt, nhờ hình chiếc bảng pha màu nhỏ mạ vàng ở góc trên bên trái.

Xé phong bì ra, cô chăm chú nhìn những gì viết bên trong một lúc lâu. Rồi, với vẻ mặt nghiêm trang, cô tới đứng bên khuỷu tay bác.

— Bác Giê-rôm ơi, anh Ghin-bớt là người tử tế phải không bác?

— Ồ, con bé này! — Ông già Giê-rôm nói, giũ tờ báo kêu sột soạt. — Dĩ nhiên rồi. Chính tay bác nuôi nó mà.

— Anh ấy sẽ không viết cho ai điều gì không hoàn toàn... ý cháu là điều gì mà không phải ai cũng được biết, được đọc, phải không bác?

— Bác chỉ muốn xem nó thử làm thế xem, — bác nói, xé toạc một nắm báo. — Sao thế, cái gì...

— Bác đọc lá thư anh ấy vừa gửi cháu đi, bác xem có ổn không, có đứng đắn không. Bác biết đấy, cháu chẳng biết mấy về người thành phố với lối sống của họ.

Ông già Giê-rôm quăng tờ báo xuống, đặt cả hai chân lên. Ông cầm lá thư của Ghin-bớt, đọc ngấu nghiến hai lần, rồi lần thứ ba.

— Ơ kìa, cháu, — ông nói, — cháu làm bác suýt phát hoảng, tuy bác vẫn tin chắc thằng bé ấy. Nó giống hệt bố nó, mà bố nó là kim cương thượng hạng. Nó chỉ hỏi cháu với Bác-ba-ra bốn giờ chiều nay có sẵn sàng đi ô tô một vòng sang đảo Lông Ai-lơn không. Bác chẳng thấy có gì đáng chê, ngoại trừ cái giấy viết thư. Bác xưa nay vẫn ghét cái màu xanh ấy.

— Đi thì có được không bác? — Nê-va-đa háo hức hỏi.

— Được, được, được chứ cháu. Dĩ nhiên rồi. Sao lại không? Nhưng bác vui khi thấy cháu cẩn thận và thật thà thế. Cứ đi đi.

— Cháu không biết mà, — Nê-va-đa nói, vẻ ngoan ngoãn. — Cháu nghĩ nên hỏi bác. Bác đi cùng chúng cháu được không bác?

— Bác á? Không, không, không, không! Bác đã ngồi xe thằng ấy lái một lần rồi. Không bao giờ nữa! Nhưng cháu với Bác-ba-ra đi thì hoàn toàn đứng đắn. Phải, phải. Nhưng bác thì không. Không, không, không, không!

Nê-va-đa chạy vụt ra cửa, nói với cô hầu:

— Đi chứ, chắc chắn rồi. Tôi trả lời luôn cho cô Bác-ba-ra. Chị bảo cậu bé nói với anh Oa-ren là: "Đi chứ, chắc chắn rồi."

— Nê-va-đa, — ông già Giê-rôm gọi với, — bác xin lỗi, cháu ạ, nhưng viết một lá thư trả lời có phải hay hơn không? Chỉ một dòng thôi cũng được.

— Thôi, cháu chẳng bận tâm chuyện ấy đâu, — Nê-va-đa vui vẻ nói. — Anh Ghin-bớt sẽ hiểu, anh ấy lúc nào cũng hiểu. Cả đời cháu chưa ngồi ô tô bao giờ. Nhưng cháu đã chèo xuồng xuôi sông Quỷ Con qua hẻm núi Ngựa Lạc, và nếu ô tô mà còn ghê hơn thế thì cháu cũng muốn biết cho bằng được!

Coi như hai tháng đã trôi qua.

Bác-ba-ra ngồi trong phòng đọc sách của ngôi nhà trăm nghìn đô-la. Đó là một chỗ tốt cho cô. Trên đời có nhiều chỗ để đàn ông đàn bà lui về mà gỡ mình khỏi đủ thứ khó khăn. Có tu viện, có nơi khóc than, có suối nước khoáng, có phòng xưng tội, có am ẩn tu, có văn phòng luật sư, có thẩm mỹ viện, có khí cầu, và có phòng đọc sách. Mà trong tất cả những chỗ ấy, phòng đọc sách là nhất.

Cạnh huyền thường phải mất rất lâu mới phát hiện ra mình là cạnh dài nhất của tam giác. Nhưng đường dài mấy rồi cũng có chỗ rẽ.

Bác-ba-ra ngồi một mình. Bác Giê-rôm và Nê-va-đa đã đi xem hát. Bác-ba-ra không thiết đi. Cô muốn ở nhà mà suy nghĩ trong phòng đọc sách. Nếu cô là một cô gái New York đẹp lộng lẫy, mà ngày nào cũng thấy một mụ phù thuỷ miền Tây da nâu, ngây thơ, đang tròng dây trói chân và quăng thòng lọng vào chàng trai mà cô muốn giữ cho riêng mình, thì hẳn cô cũng sẽ chẳng còn thiết gì tới vẻ hào nhoáng của một vở nhạc kịch hài.

Bác-ba-ra ngồi bên chiếc bàn đọc sách bằng gỗ sồi. Cánh tay phải cô tựa trên bàn, những ngón tay phải bồn chồn mân mê một lá thư dán kín. Lá thư đề gửi Nê-va-đa Oa-ren, ở góc trên bên trái phong bì có hình chiếc bảng pha màu nhỏ mạ vàng của Ghin-bớt. Nó được đưa tới lúc chín giờ, sau khi Nê-va-đa đã đi.

Bác-ba-ra sẵn lòng đổi chuỗi ngọc trai của mình để biết trong thư viết gì. Nhưng cô không thể hơ hơi nước, hay dùng cán bút, hay cái kẹp tóc, hay bất cứ cách nào thường được ưa chuộng, để mở ra đọc, vì địa vị xã hội không cho phép cô làm thế. Cô đã thử đọc vài dòng bằng cách giơ phong bì lên trước ánh đèn sáng, ép thật mạnh vào tờ giấy, nhưng Ghin-bớt quá sành chọn giấy viết thư nên chẳng thể đọc được.

Mười một giờ rưỡi, những người đi xem hát trở về. Đó là một đêm đông tuyệt đẹp. Chỉ một quãng ngắn từ xe vào tới cửa mà họ đã phủ một lớp dày những bông tuyết lớn rơi xiên xiên từ phía đông. Ông già Giê-rôm cằn nhằn vui vẻ về dịch vụ xe ngựa tệ hại và đường phố tắc nghẽn. Nê-va-đa, má hồng như hoa hồng, mắt xanh như ngọc bích, ríu rít kể chuyện những đêm bão tuyết trên núi quanh túp lều của bố. Suốt những lời than thở về mùa đông ấy, Bác-ba-ra, lòng lạnh giá, cứ lặng thinh, việc thích hợp duy nhất cô nghĩ ra được.

Ông già Giê-rôm đi thẳng lên gác với túi chườm nước nóng và thuốc ký ninh. Nê-va-đa chạy ào vào phòng đọc sách, căn phòng duy nhất sáng đèn vui vẻ, buông mình xuống ghế bành, và trong lúc cặm cụi với cái việc dài bất tận là cởi khuy đôi găng tay dài tới khuỷu, cô kể về những chỗ dở của buổi biểu diễn.

— Ừ, chị nghĩ ông diễn viên hài ấy cũng buồn cười thật, đôi khi thôi, — Bác-ba-ra nói. — Đây có lá thư gửi em này, em ạ. Người ta đưa tới bằng chuyển phát nhanh ngay sau khi em đi.

— Thư của ai thế chị? — Nê-va-đa hỏi, tay vẫn giật giật một chiếc khuy.

— Chà, thật ra, — Bác-ba-ra mỉm cười nói, — chị chỉ đoán được thôi. Trên phong bì có cái hình nhỏ kỳ cục ở một góc mà Ghin-bớt gọi là bảng pha màu, nhưng chị thấy giống trái tim mạ vàng trên tấm thiệp Va-lăng-tin của nữ sinh hơn.

— Không biết anh ấy viết gì cho em nhỉ, — Nê-va-đa nói, giọng hờ hững.

— Chúng mình ai cũng thế cả, — Bác-ba-ra nói, — đàn bà ai cũng thế. Chúng mình cố đoán xem trong thư có gì bằng cách nghiên cứu dấu bưu điện. Cuối cùng thì phải dùng tới kéo, rồi đọc từ dưới lên. Thư đây.

Cô làm như định ném lá thư qua bàn cho Nê-va-đa.

— Trời đất quỷ thần ơi! — Nê-va-đa kêu lên. — Mấy cái khuy này khó chịu quá. Em thà mặc đồ da hoẵng còn hơn. Ôi, chị Bác-ba-ra, chị lột hộ em cái vỏ lá thư ấy rồi đọc giúp em đi. Phải tới nửa đêm em mới cởi xong đôi găng này mất!

— Ơ kìa, em, em không định bảo chị mở thư của Ghin-bớt gửi em đấy chứ? Thư gửi cho em, dĩ nhiên em đâu muốn ai khác đọc nó!

Nê-va-đa ngước đôi mắt xanh ngọc bích điềm tĩnh, vững vàng khỏi đôi găng tay.

— Chẳng ai viết cho em điều gì mà mọi người không được đọc cả, — cô nói. — Chị đọc đi. Có khi anh Ghin-bớt muốn mai mình lại đi ô tô với anh ấy.

Tò mò làm được nhiều việc hơn là giết một con mèo. Và nếu những cảm xúc vốn được công nhận là của đàn bà đều có hại cho mạng sống của loài mèo, thì chỉ riêng lòng ghen cũng chẳng mấy chốc làm cả thế giới không còn con mèo nào. Bác-ba-ra mở lá thư, với vẻ chiều chuộng, hơi chán chường.

— Thôi được, em ạ, — cô nói, — chị sẽ đọc nếu em muốn.

Cô rọc phong bì, đọc lá thư bằng đôi mắt lướt nhanh, đọc lại lần nữa, rồi liếc một cái nhìn nhanh, tinh quái sang Nê-va-đa. Lúc ấy Nê-va-đa có vẻ như coi đôi găng tay là cả thế giới của mình, còn thư từ của một hoạ sĩ đang lên chẳng hơn gì thông điệp từ sao Hoả.

Trong mười lăm giây, Bác-ba-ra nhìn Nê-va-đa chăm chăm một cách lạ lùng. Rồi một nụ cười nhỏ xíu, nhỏ tới mức chỉ làm miệng cô rộng thêm chừng một li, mắt cô hẹp lại chừng nửa li, loé lên trên mặt cô như một ý nghĩ thần diệu.

Từ thuở khai thiên lập địa, chưa từng có người đàn bà nào là điều bí ẩn đối với một người đàn bà khác. Nhanh như ánh sáng, người này nhìn thấu tim óc người kia, sàng lọc lời nói của chị em mình khỏi mọi lớp nguỵ trang khôn khéo nhất, đọc được những ước muốn thầm kín nhất, nhổ những lý lẽ quanh co khỏi câu chuyện xảo quyệt nhất như nhặt sợi tóc khỏi chiếc lược, mân mê chúng giữa ngón cái và ngón trỏ một cách mỉa mai, trước khi thả chúng bay theo làn gió của mối hoài nghi muôn thuở. Từ xa xưa, con trai của bà Ê-va đã bấm chuông ngôi nhà của gia đình ở Vườn Địa Đàng, khoác tay một cô gái lạ mà cậu giới thiệu với mẹ. Bà Ê-va kéo con dâu ra một chỗ, nhướng một bên lông mày cổ điển.

— Xứ Nốt, — cô dâu nói, uể oải phe phẩy một tàu lá cọ. — Chắc là mẹ đã tới đó rồi nhỉ?

— Dạo này thì chưa, — bà Ê-va nói, chẳng hề nao núng. — Con không thấy món táo nghiền ở bên ấy dở tệ à? Mẹ khá thích kiểu áo bằng lá dâu tằm của con đấy, con ạ, nhưng dĩ nhiên ở bên ấy làm gì có lá vả xịn. Ra sau bụi tử đinh hương này với mẹ một lát, trong lúc mấy ông đàn ông uống nước. Mẹ thấy hình như mấy lỗ sâu ăn làm váy con hở một chút đằng sau.

Thế là ngay lúc ấy, ở chỗ ấy, theo sử sách ghi lại, liên minh giữa hai người đàn bà danh giá duy nhất trên đời được hình thành. Hai bên thoả thuận rằng đối với những người đàn bà khác, đàn bà mãi mãi phải trong suốt như tấm kính, dù kính thì hồi ấy chưa được phát minh. Còn đối với đàn ông, đàn bà phải đóng vai một điều bí ẩn.

Bác-ba-ra có vẻ ngập ngừng.

— Thật ra, Nê-va-đa ạ, — cô nói, làm ra vẻ hơi lúng túng, — lẽ ra em không nên nài chị mở thư này. Chị... chị chắc là anh ấy không định cho ai khác biết đâu.

Nê-va-đa quên đôi găng tay trong giây lát.

— Thế thì chị đọc to lên đi, — cô nói. — Chị đã đọc rồi thì có khác gì đâu? Nếu anh Oa-ren viết cho em điều gì mà người khác không nên biết, thì càng có lý do để mọi người được biết.

— Thôi được, — Bác-ba-ra nói, — thư viết thế này: "Nê-va-đa yêu dấu nhất. Mười hai giờ đêm nay hãy tới xưởng vẽ của anh. Đừng sai hẹn."

Bác-ba-ra đứng dậy, thả lá thư vào lòng Nê-va-đa.

— Chị rất tiếc, — cô nói, — là chị đã biết chuyện. Không giống Ghin-bớt chút nào. Chắc là có nhầm lẫn gì đó. Em cứ coi như chị không biết gì nhé, em? Giờ chị phải lên gác đây, chị nhức đầu quá. Chị chắc là chị không hiểu lá thư này đâu. Có lẽ Ghin-bớt ăn tối say sưa quá, rồi anh ấy sẽ giải thích. Chúc em ngủ ngon!

Nê-va-đa nhón chân ra hành lang, nghe tiếng cửa phòng Bác-ba-ra đóng lại trên gác. Chiếc đồng hồ đồng trong phòng đọc sách chỉ còn mười lăm phút nữa là điểm mười hai giờ. Cô chạy vụt ra cửa trước, lao vào cơn bão tuyết. Xưởng vẽ của Ghin-bớt Oa-ren cách đó sáu dãy phố.

Những đạo quân trắng xoá, lặng lẽ của cơn bão vượt qua không trung từ bên kia dòng sông Ít âm u tấn công thành phố. Tuyết đã dày ba tấc trên vỉa hè, những đống tuyết dồn lại như thang leo thành áp vào tường của thành phố bị vây hãm. Đại lộ im ắng như một con phố ở thành Pôm-pê. Thỉnh thoảng một chiếc xe ngựa lướt qua như cánh hải âu trắng trên biển dưới trăng. Còn những chiếc ô tô, hiếm hơn, thì cứ theo phép so sánh ấy, rít lên rẽ những con sóng bọt trắng như những chiếc tàu ngầm trên chuyến hải hành vui nhộn mà hiểm nguy.

Nê-va-đa lao đi như một con chim hải âu bão bị gió xô. Cô ngước nhìn những rặng núi lởm chởm là những toà nhà đội mây vươn lên trên các con phố, được ánh đèn đêm và hơi sương đông cứng tô thành những sắc xám, xám xỉn, tro, tím nhạt, nâu xám và xanh da trời. Chúng giống những dãy núi mùa đông ở quê nhà miền Tây của cô tới mức cô thấy một niềm mãn nguyện mà ngôi nhà trăm nghìn đô-la hiếm khi đem lại cho cô.

Một anh cảnh sát làm cô chùn bước ở một góc phố, chỉ bằng ánh mắt và tầm vóc của anh.

— Chào cô em! — Anh ta nói. — Khuya thế này còn ra đường à?

— Em... em chỉ ra hiệu thuốc thôi, — Nê-va-đa nói, vội vã đi qua.

Cái cớ ấy là tấm hộ chiếu cho cả những kẻ sành sỏi nhất. Phải chăng điều đó chứng tỏ đàn bà chẳng bao giờ tiến bộ, hay họ sinh ra từ xương sườn của A-đam đã có sẵn đầy đủ trí khôn và mưu mẹo?

Rẽ sang hướng đông, luồng gió thẳng mặt cắt mất một nửa tốc độ của Nê-va-đa. Cô để lại những vết chân ngoằn ngoèo trên tuyết, nhưng cô dẻo dai như cây thông non, và nghiêng mình trước gió cũng duyên dáng như thế. Bỗng toà nhà có xưởng vẽ sừng sững hiện ra trước mặt cô, một mốc quen thuộc, như vách đá trên một hẻm núi cô nhớ rõ. Nơi trú ngụ của thương mại và người láng giềng thù địch của nó là nghệ thuật tối om và im lìm. Thang máy đã ngừng chạy lúc mười giờ.

Nê-va-đa leo tám tầng cầu thang tối như âm phủ, gõ mạnh vào cánh cửa số tám mươi chín. Cô đã tới đây nhiều lần, cùng Bác-ba-ra và bác Giê-rôm.

Ghin-bớt ra mở cửa. Một tay anh cầm cây bút chì màu, mắt đeo tấm che màu xanh lá, miệng ngậm tẩu thuốc. Cái tẩu rơi xuống sàn.

— Em có tới muộn không? — Nê-va-đa hỏi. — Em tới nhanh nhất có thể. Tối nay em với bác đi xem hát. Em đây rồi, anh Ghin-bớt!

Ghin-bớt diễn lại chuyện bức tượng hoá thành người. Từ một pho tượng sững sờ, anh biến thành một chàng trai đang đứng trước một bài toán phải giải. Anh mời Nê-va-đa vào, lấy cái chổi phất, bắt đầu phủi tuyết trên quần áo cô. Một ngọn đèn lớn có chụp màu xanh lá treo trên giá vẽ, nơi người hoạ sĩ đang phác hoạ bằng bút chì màu.

— Anh cần em, — Nê-va-đa nói giản dị, — thế là em tới. Anh viết thế trong thư mà. Anh gọi em tới làm gì thế?

— Em đọc thư anh rồi à? — Ghin-bớt hỏi, cố câu giờ để lấy lại hơi.

— Chị Bác-ba-ra đọc cho em nghe. Em có nhìn thấy nó sau đó. Thư viết: "Mười hai giờ đêm nay hãy tới xưởng vẽ của anh. Đừng sai hẹn." Em cứ tưởng anh ốm, nhưng trông anh đâu có ốm.

— À ha! — Ghin-bớt nói, chẳng ăn nhập gì. — Để anh nói em nghe vì sao anh mời em tới, Nê-va-đa. Anh muốn em lấy anh ngay lập tức. Ngay đêm nay. Chút bão tuyết thì đã sao? Em có đồng ý không?

— Lẽ ra anh phải nhận ra là em đồng ý từ lâu rồi chứ, — Nê-va-đa nói. — Mà em cũng khoái cái vụ bão tuyết lắm. Em thật ghét mấy đám cưới buổi trưa trong nhà thờ đầy hoa. Anh Ghin-bớt, em không ngờ anh đủ gan cầu hôn kiểu này. Mình làm cho họ một phen hết hồn đi. Chuyện của mình mà, phải không anh?

— Chắc chắn rồi! — Ghin-bớt nói.

Rồi anh tự nhủ: "Mình nghe câu ấy ở đâu rồi nhỉ?"

— Chờ anh một phút, Nê-va-đa. Anh phải gọi điện một chút.

Anh đóng cửa trong một phòng thay đồ nhỏ, gọi tới những tia chớp trên trời, đã được nén lại thành những con số và những khu phố chẳng chút lãng mạn.

— Giắc đấy à? Đồ ngủ gật chết tiệt! Phải, dậy đi, tớ đây. Tớ sắp cưới vợ ngay bây giờ. Phải! Đánh thức em gái cậu dậy. Đừng cãi, đưa cô ấy đi cùng, nhất định phải đưa! Nhắc Ác-nét cái lần tớ cứu cô ấy khỏi chết đuối ở hồ Rôn-côn-cô-ma ấy. Tớ biết nhắc chuyện ấy là hèn, nhưng cô ấy phải đi cùng cậu. Phải. Nê-va-đa đang ở đây, đang chờ. Bọn tớ đính hôn lâu rồi. Họ hàng có người phản đối, cậu biết đấy, nên bọn tớ phải làm kiểu này. Bọn tớ chờ cậu ở đây. Đừng để Ác-nét cãi thắng cậu, đưa cô ấy tới! Cậu đi nhé? Bạn tốt! Tớ sẽ gọi xe ngựa tới đón cậu, nhanh như chớp. Khỉ thật, Giắc, cậu là nhất!

Ghin-bớt quay lại phòng, nơi Nê-va-đa đang chờ.

— Ông bạn cũ của anh là Giắc Pây-tơn với em gái cậu ấy lẽ ra phải tới đây lúc mười hai giờ kém mười lăm, — anh giải thích, — nhưng Giắc chậm chạp kinh khủng. Anh vừa gọi giục rồi. Mấy phút nữa họ tới. Anh là người hạnh phúc nhất trên đời, Nê-va-đa ạ! Em để lá thư anh gửi hôm nay đâu rồi?

— Em giữ chặt nó đây này, — Nê-va-đa nói, rút lá thư từ dưới tấm áo choàng đi xem hát ra.

Ghin-bớt rút lá thư khỏi phong bì, xem xét cẩn thận. Rồi anh nhìn Nê-va-đa, vẻ trầm ngâm.

— Em không thấy lạ khi anh bảo em nửa đêm tới xưởng vẽ của anh à? — Anh hỏi.

— Sao lại lạ, — Nê-va-đa nói, mắt tròn xoe. — Nếu anh cần em thì có gì lạ. Ở miền Tây, khi một người bạn gửi lời gọi gấp, ở đây gọi thế phải không anh, thì bọn em cứ tới đó trước đã, xong việc rồi mới bàn. Mà ở đó, mỗi khi có chuyện thì trời cũng thường có tuyết. Nên em chẳng ngại gì.

Ghin-bớt chạy vội sang một phòng khác, quay lại với cả ôm áo khoác bảo đảm chống gió, chống mưa, chống tuyết.

— Em mặc cái áo mưa này vào, — anh nói, cầm áo giúp cô. — Mình phải đi một quãng chừng bốn trăm mét. Giắc với em gái cậu ấy sắp tới rồi.

Anh bắt đầu loay hoay mặc một chiếc áo khoác dày.

— À, Nê-va-đa, — anh nói, — em xem giùm anh mấy dòng tít trên trang nhất tờ báo buổi chiều trên bàn kia được không? Tin về vùng miền Tây quê em đấy, anh biết em sẽ thích.

Anh chờ suốt một phút, giả vờ mặc áo khoác khó khăn, rồi quay lại. Nê-va-đa không nhúc nhích. Cô đang nhìn anh, thẳng thắn một cách lạ lùng và trầm ngâm. Đôi má cô ửng hồng hơn cả màu mà gió và tuyết đã tô lên, nhưng mắt cô vẫn vững vàng.

— Dù sao thì em cũng định nói với anh, — cô nói, — trước khi anh... trước khi mình... trước khi... thôi, trước khi có chuyện gì. Bố em chưa bao giờ cho em đi học lấy một ngày. Em chưa bao giờ học đọc, học viết, chẳng biết lấy một chữ khỉ gió nào. Bây giờ nếu...

Có tiếng chân nện thình thịch, lúng túng trên cầu thang. Đó là Giắc ngủ gật và Ác-nét biết ơn đang đi lên.

Khi ông bà Ghin-bớt Oa-ren nhẹ nhàng ngồi xe ngựa kín về nhà sau lễ cưới, Ghin-bớt nói:

— Nê-va-đa, em có thật muốn biết anh viết gì cho em trong lá thư em nhận tối nay không?

— Cứ nói đi! — Cô dâu nói.

— Từng chữ một, — Ghin-bớt nói, — thế này: "Cô Oa-ren thân mến. Cô nói đúng về bông hoa. Đó là hoa cẩm tú cầu, không phải tử đinh hương."

— Được rồi, — Nê-va-đa nói. — Nhưng thôi, quên nó đi. Dù sao thì người bị lừa cũng là chị Bác-ba-ra mà!

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1909
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Schools and Schools, O. Henry, in trong tuyển tập Options
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →