Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Ước mơ

của Anton Chekhov

⏱ 16 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 17.602 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:03Hai người lính xã đang áp giải lên thị…
  2. 3:26Chứ còn sao nữa? Tôi có phải người Thổ…
  3. 5:44Lạy Chúa, xin ban cho mẹ chốn tươi xanh,…
  4. 7:04Tất cả những lời ấy, cái «ông quý tộc…
  5. 8:08Vì tội giết người, anh bạn tốt ạ! Hồi…
  6. 9:46Kẻ lang thang bỏ mũ ra, làm dấu thánh…
  7. 14:07Hai người lính xã vẽ ra trong đầu những…
  8. 16:09Kẻ không nhớ gốc gác kinh hoàng nhìn những…

Hai người lính xã đang áp giải lên thị trấn huyện một kẻ lang thang không chịu khai tên tuổi, gốc gác. Một người râu đen, chắc nịch, hai chân ngắn lạ thường, đến nỗi nhìn từ đằng sau, cứ tưởng chân anh ta bắt đầu ở thấp hơn chân mọi người khác nhiều. Người kia cao, gầy, thẳng như cây gậy, chòm râu lưa thưa màu hung sẫm. Người thứ nhất đi lắc lư, nhìn ngang nhìn dọc, lúc thì nhai cọng rơm, lúc thì nhai ống tay áo, vỗ vỗ vào đùi, ư ử hát, nói chung có vẻ vô tư lự, nhẹ dạ. Còn người kia, dù mặt mũi gầy guộc, vai hẹp, trông lại đường bệ, nghiêm trang, đâu ra đấy. Cái dáng dấp và vẻ mặt của anh ta giống những ông cố đạo phái Cựu tín, hay những chiến binh vẽ trên các bức ảnh thánh cổ. Chúa đã «thưởng thêm trán cho anh ta vì sự khôn ngoan», nghĩa là anh ta hói, điều đó càng làm sự giống nhau kể trên thêm rõ. Người thứ nhất tên là An-đrây Ptá-kha, người thứ hai là Ni-can-đrơ Xa-pô-giơ-ni-cốp.

Người mà họ áp giải hoàn toàn chẳng giống cái hình dung mà ai cũng có về những kẻ lang thang. Đó là một người nhỏ thó, ốm o, yếu ớt và bệnh tật, nét mặt nhỏ nhắn, nhợt nhạt và mờ nhạt vô cùng. Lông mày lưa thưa, ánh mắt nhẫn nhục, hiền lành, ria mép mới lún phún, dù kẻ lang thang đã ngoài ba mươi. Anh ta bước rụt rè, lưng còng, hai tay thọc vào ống tay áo. Cổ chiếc áo khoác dạ ngắn, sờn hết lông tuyết, chẳng phải áo của dân cày, dựng đứng lên tận vành mũ, nên chỉ mỗi cái mũi đỏ ửng dám nhìn ra ánh sáng của Chúa. Anh ta nói bằng một giọng tê-no nhỏ, khúm núm, chốc chốc lại ho khan. Khó lắm, rất khó mà nhận ra ở anh ta một kẻ lang thang đang giấu tên thật của mình. Đúng hơn, anh ta là một cậu con nhà cha đạo thất bại, nghèo túng, bị Chúa bỏ quên, một anh thư ký bị đuổi việc vì rượu chè, một cậu con trai hay cậu cháu nhà buôn đã thử chút sức lực ít ỏi của mình trên sân khấu, và nay đang trở về nhà để diễn nốt màn cuối của dụ ngôn người con hoang đàng. Hay có lẽ, nhìn cái vẻ kiên nhẫn đờ đẫn mà anh ta vật lộn với bùn lầy mùa thu không lối thoát, thì đây là một kẻ cuồng tín, một chú tiểu chạy việc ở tu viện, lang thang khắp các tu viện nước Nga, cố công tìm kiếm «một cuộc đời yên ổn và không tội lỗi» mà mãi chẳng tìm thấy…

Những người bộ hành đã đi từ lâu lắm, mà vẫn không sao ra khỏi một mảnh đất nhỏ. Trước mặt họ là chừng mười thước đường lầy lội, đen nâu, sau lưng cũng chừng ấy, còn xa hơn nữa, nhìn đâu cũng chỉ thấy một bức tường sương trắng đặc. Họ đi mãi, đi mãi, mà mặt đất vẫn thế, bức tường chẳng gần thêm, mảnh đất vẫn chỉ là mảnh đất. Thấp thoáng một hòn đá trắng góc cạnh, một cái hố, hay một bó cỏ khô người qua đường đánh rơi, loáng lên trong chốc lát một vũng nước đục ngầu to tướng, rồi bỗng bất ngờ phía trước hiện ra một cái bóng mờ mờ không rõ hình thù. Càng lại gần, nó càng nhỏ đi và sẫm lại, gần hơn nữa, và trước mặt những người bộ hành mọc lên một cột cây số cong vẹo, con số đã mờ, hay một cây bạch dương thảm hại, ướt sũng, trơ trụi như kẻ ăn mày bên đường. Cây bạch dương thì thầm điều gì đó bằng mấy chiếc lá vàng còn sót lại, một chiếc lá rời cành, uể oải bay xuống đất… Rồi lại sương mù, bùn lầy, cỏ úa nâu hai bên vệ đường. Trên cỏ treo lơ lửng những giọt nước mắt đục mờ, ác nghiệt. Đó không phải những giọt nước mắt của niềm vui lặng lẽ mà mặt đất khóc khi đón và tiễn mặt trời mùa hè, những giọt mà lúc rạng đông mặt đất cho chim cút, chim gà nước và những con chim mỏ nhát mỏ dài thanh mảnh uống! Chân những người bộ hành lún trong lớp bùn nặng, dẻo quánh. Mỗi bước đi đều phải gắng sức.

An-đrây Ptá-kha hơi bị kích động. Anh ta nhìn kẻ lang thang, cố hiểu sao một người còn sống, còn tỉnh táo, lại có thể không nhớ tên mình.

— Thế mày có phải người theo đạo Chính thống không? anh ta hỏi.

— Có chứ, kẻ lang thang hiền lành đáp.

— Hừm!.. thế ra mày có được rửa tội?

— Chứ còn sao nữa? Tôi có phải người Thổ đâu. Tôi vẫn đi nhà thờ, vẫn ăn chay đi xưng tội, những ngày cấm thì tôi không ăn mặn. Đạo giáo tôi giữ gìn đúng phép…

— Thế mày tên gì?

— Anh thích gọi gì thì gọi, anh bạn ạ.

Ptá-kha nhún vai, ngơ ngác vô cùng, vỗ vỗ vào đùi. Còn người lính xã kia, Ni-can-đrơ Xa-pô-giơ-ni-cốp, thì im lặng đường bệ. Anh ta không ngây ngô như Ptá-kha, và hình như biết rất rõ những lý do khiến một người theo đạo Chính thống phải giấu tên mình với mọi người. Gương mặt giàu biểu cảm của anh ta lạnh lùng, nghiêm khắc. Anh ta đi riêng ra một mình, không hạ cố chuyện trò vu vơ với bạn đồng hành, và như cố phô ra cho tất cả, kể cả màn sương, thấy sự đường bệ và chín chắn của mình.

— Có Chúa mới biết phải hiểu mày thế nào, Ptá-kha vẫn tiếp tục gặng. Dân cày thì chẳng phải dân cày, quý tộc thì chẳng phải quý tộc, cứ lưng lửng ở giữa thế nào ấy… Hôm nọ tao rửa cái rây ở ao, bắt được một con bé bằng ngón tay, có mang, có đuôi. Thoạt đầu tao tưởng nó là cá, rồi nhìn kỹ, chết tiệt thật, nó có chân. Chẳng ra cá, chẳng ra rắn, quỷ biết nó là cái gì… Mày cũng thế đấy… Mày thuộc hạng người nào?

— Tôi là dân cày, gốc nông dân, kẻ lang thang thở dài. Mẹ tôi là gia nhân nông nô. Nhìn bề ngoài thì tôi không giống dân cày, cái đó đúng, vì số tôi nó thế, anh bạn tốt ạ. Mẹ tôi làm vú em cho nhà các ông chủ, được hưởng đủ mọi sung sướng, còn tôi là máu thịt của mẹ, nên được ở với mẹ trong nhà các ông chủ. Họ nâng niu tôi, chiều chuộng tôi, và cố hết sức để đưa tôi từ hạng người hèn kém lên hàng người tử tế. Tôi ngủ giường, ngày nào cũng được ăn một bữa trưa tử tế, mặc quần, đi giày cổ ngắn như một cậu quý tộc con. Mẹ ăn gì, tôi được ăn nấy. Các ông chủ cho mẹ quần áo, là mẹ may cho tôi mặc… Sống sướng lắm! Hồi bé tôi đã ăn bao nhiêu kẹo, bao nhiêu bánh gừng, giờ mà đem bán đi thì mua được một con ngựa tốt. Mẹ dạy tôi biết chữ, từ bé đã dạy tôi biết kính sợ Chúa, và uốn nắn tôi đến nỗi bây giờ tôi không thể nói một lời nào thô tục, không tế nhị kiểu dân cày được. Tôi không uống rượu, anh bạn ạ, ăn mặc sạch sẽ, và có thể giữ mình đứng đắn trong chốn tử tế. Nếu mẹ còn sống, cầu Chúa cho mẹ được mạnh khoẻ, còn nếu đã mất, thì lạy Chúa, xin cho linh hồn mẹ được yên nghỉ trong nước Chúa, nơi những người công chính an nghỉ!

Kẻ lang thang bỏ mũ ra, để lộ cái đầu lơ thơ mấy sợi tóc cứng dựng đứng, ngước mắt lên trời, làm dấu thánh giá hai lần.

— Lạy Chúa, xin ban cho mẹ chốn tươi xanh, chốn bình yên! anh ta nói giọng kéo dài, giống giọng bà già hơn là giọng đàn ông. Lạy Chúa, xin dạy cho tôi tớ của Chúa là Xê-ni-a biết luật lệ của Ngài! Nếu không có người mẹ yêu quý, thì tôi đã là một anh dân cày tầm thường, chẳng hiểu biết gì! Bây giờ, anh bạn ạ, anh hỏi gì tôi cũng hiểu: cả sách đời lẫn sách đạo, đủ các thứ kinh, cả sách giáo lý. Mà tôi sống theo sách… Tôi không ức hiếp ai, giữ thân thể trong sạch và trinh bạch, giữ chay, ăn uống đúng giờ. Người khác thì chỉ có thú vui là rượu với chè chén ồn ào, còn tôi, những lúc rảnh, tôi ngồi vào một góc mà đọc sách. Đọc mà cứ khóc mãi, khóc mãi…

— Thế mày khóc làm gì?

— Người ta viết thương lắm! Có quyển chỉ mất năm cô-pếch, mà khóc than ghê gớm lắm.

— Bố mày chết rồi à? Ptá-kha hỏi.

— Tôi không biết, anh bạn ạ. Tôi không biết cha đẻ tôi là ai, chẳng có gì phải giấu giếm. Tôi tự nghĩ thế này, tôi là đứa con không giá thú của mẹ. Mẹ tôi cả đời sống với các ông chủ, không muốn lấy một anh dân cày tầm thường…

— Thế là vớ được ông chủ, Ptá-kha cười khẩy.

— Mẹ không giữ được mình, cái đó thì đúng. Mẹ ngoan đạo, kính sợ Chúa, nhưng không giữ được trinh tiết. Dĩ nhiên đấy là tội, tội lớn, khỏi phải nói, nhưng bù lại, có khi trong người tôi có dòng máu quý tộc. Có khi tôi chỉ là dân cày về danh phận, còn về bản chất thì là một ông quý tộc cao sang.

Tất cả những lời ấy, cái «ông quý tộc cao sang» nói bằng một giọng tê-no nhỏ, ngọt xớt, nhăn cái trán hẹp, và cái mũi đỏ ửng lạnh cóng cứ phát ra những tiếng khụt khịt. Ptá-kha lắng nghe, ngạc nhiên liếc nhìn anh ta, và không ngừng nhún vai.

Đi được chừng sáu dặm, hai người lính xã và kẻ lang thang ngồi xuống một mô đất nghỉ chân.

— Đến con chó còn nhớ tên nó, Ptá-kha lẩm bẩm. Tao tên là An-đriu-sca, anh này tên là Ni-can-đrơ, mỗi người đều có tên thánh của mình, và không cách gì quên cái tên ấy được! Không cách gì!

— Ai cần biết tên tôi làm gì? kẻ lang thang thở dài, chống nắm tay nhỏ lên má. Mà biết thì tôi được lợi gì? Giá người ta cho tôi đi đến chỗ tôi muốn, đằng này thì còn tệ hơn bây giờ. Thưa các anh em Chính thống, tôi biết luật. Bây giờ tôi là kẻ lang thang không nhớ gốc gác, thì cùng lắm người ta xử tôi đi đày sang miền Đông Xi-bia, với ba mươi hay bốn mươi roi. Còn nếu tôi khai tên thật và thân phận thật của mình, thì người ta lại đưa tôi đi khổ sai. Tôi biết mà!

— Thế mày từng đi khổ sai rồi à?

— Rồi, anh bạn ạ. Bốn năm trời đầu cạo trọc, chân đeo xiềng.

— Vì tội gì?

— Vì tội giết người, anh bạn tốt ạ! Hồi tôi còn là thằng nhóc, chừng mười tám tuổi, mẹ tôi lỡ tay bỏ thạch tín vào cốc của ông chủ, thay cho bột sô-đa với axit. Trong buồng kho có bao nhiêu là hộp, nhầm lẫn cũng chẳng khó gì…

Kẻ lang thang thở dài, lắc đầu, rồi nói:

— Mẹ ngoan đạo lắm, nhưng ai mà biết được, lòng người như rừng sâu! Có khi là lỡ tay, mà có khi trong lòng mẹ không chịu nổi nỗi tủi nhục vì ông chủ đã gần gũi một cô hầu mới… Có khi là cố ý bỏ vào cho ông ấy, có Chúa mới biết! Hồi ấy tôi còn nhỏ, chẳng hiểu hết mọi chuyện… Bây giờ tôi nhớ ra, đúng là ông chủ đã lấy một người tình khác, và mẹ buồn khổ lắm. Sau đó người ta xử mẹ con tôi gần hai năm trời… Mẹ bị kết án hai mươi năm khổ sai, còn tôi, vì còn ít tuổi, chỉ bị bảy năm.

— Thế mày thì tội gì?

— Tội đồng loã. Chính tôi là người đưa cốc cho ông chủ. Lúc nào cũng thế: mẹ pha sô-đa, còn tôi bưng lên. Có điều, các anh em ơi, tôi kể tất cả chuyện này với các anh như với người cùng đạo, như trước mặt Chúa, các anh đừng kể với ai nhé…

— Thì có ai hỏi gì chúng tao đâu, Ptá-kha nói. Thế ra là mày trốn trại khổ sai à?

— Trốn, anh bạn ạ. Cả bọn chúng tôi trốn chừng mười bốn người. Cầu Chúa cho họ mạnh khoẻ, họ tự trốn, lại còn mang tôi đi theo. Giờ thì anh xét cho công tâm, anh bạn, tôi có lý gì mà khai thân phận ra? Người ta lại đưa tôi đi khổ sai mất! Mà tôi có phải loại người khổ sai đâu? Tôi là người mềm yếu, ốm đau, thích ngủ nghê, ăn uống cho sạch sẽ. Khi cầu nguyện, tôi thích thắp ngọn đèn dầu hay ngọn nến, và xung quanh phải yên tĩnh. Khi phủ phục sát đất, thì sàn nhà không được rác rưởi, khạc nhổ lung tung. Mà sáng nào tối nào tôi cũng phủ phục bốn mươi lần cầu cho mẹ.

Kẻ lang thang bỏ mũ ra, làm dấu thánh giá.

— Còn đày đi miền Đông Xi-bia thì cứ đày, anh ta nói. Tôi không sợ!

— Thế thì hơn à?

— Khác hẳn ấy chứ! Ở trại khổ sai thì như con tôm trong giỏ: chật chội, chen chúc, xô đẩy, không thở nổi, đúng là địa ngục, địa ngục đến nỗi lạy Đức Bà Nữ Hoàng trên trời đừng bắt ai phải chịu! Mày là kẻ cướp thì người ta đối xử với mày như kẻ cướp, còn tệ hơn con chó. Chẳng được ăn, chẳng được ngủ, chẳng được cầu nguyện. Còn ở nơi đi đày định cư thì khác. Ở nơi định cư, việc đầu tiên là tôi ghi tên vào công xã như mọi người. Theo luật, nhà chức trách phải chia phần đất cho tôi… thế đấy! Nghe nói ở đấy đất chẳng đáng giá gì, cứ như tuyết ấy: muốn lấy bao nhiêu thì lấy! Người ta sẽ cho tôi đất, anh bạn ạ, cả đất cày, đất làm vườn, đất làm nhà… Tôi sẽ cày, sẽ gieo hạt như mọi người, sẽ nuôi gia súc, gây dựng đủ thứ của cải, nuôi ong, nuôi cừu, nuôi chó… Nuôi một con mèo Xi-bia, để chuột nhắt chuột cống khỏi ăn của cải của mình… Các anh em ạ, tôi sẽ dựng một căn nhà gỗ, sắm ảnh thánh… Chúa thương thì tôi sẽ lấy vợ, sẽ có con cái.

Kẻ lang thang lẩm bẩm, không nhìn những người nghe mà nhìn đi đâu đó. Những mơ ước của anh ta ngây thơ đến đâu thì đến, nhưng chúng được nói ra bằng một giọng thành thật, tha thiết đến nỗi khó mà không tin. Cái miệng nhỏ của kẻ lang thang méo đi vì một nụ cười, còn cả gương mặt, đôi mắt, cái mũi nhỏ thì đờ ra, ngây dại đi vì niềm sung sướng trước hạnh phúc xa xôi. Hai người lính xã lắng nghe, nhìn anh ta nghiêm trang, không phải không có chút cảm thông. Họ cũng tin.

— Tôi không sợ Xi-bia, kẻ lang thang lẩm bẩm tiếp. Xi-bia cũng là nước Nga, cũng có Chúa, có Sa hoàng như ở đây, người ta cũng nói tiếng của người Chính thống như tôi với anh. Có điều ở đấy tự do thoải mái hơn, người ta sống sung túc hơn. Ở đấy cái gì cũng hơn. Cứ lấy sông ngòi ở đấy làm ví dụ, hơn sông ở đây không biết bao nhiêu mà kể! Cá, chim muông thì nhiều vô kể! Mà thú vui hàng đầu của tôi, các anh em ạ, là câu cá. Chẳng cần cho tôi ăn bánh mì, chỉ cần cho tôi ngồi với cái cần câu. Có Chúa chứng giám. Tôi câu bằng cần, bằng lưỡi thả, đặt cả lờ, đến mùa băng trôi thì tôi kéo vợt. Tôi không đủ sức kéo vợt, nên thuê một anh dân cày năm cô-pếch. Lạy Chúa, đấy mới là thú vui! Câu được con cá nheo hay con cá chày, thì như gặp anh em ruột thịt. Mà anh xem, mỗi loài cá lại có cái khôn riêng của nó: con này phải câu bằng mồi sống, con kia bằng giun đất, con nọ bằng ếch hay châu chấu. Tất cả những cái ấy đều phải hiểu! Ví dụ như con cá nheo. Cá nheo là loài cá chẳng tế nhị gì, đến cá vược gai nó cũng đớp. Cá chó thì thích cá đục, cá tầm thì thích con bướm. Còn câu cá chày ở chỗ nước chảy xiết thì chẳng thú nào bằng. Thả dây câu chừng hai chục thước, không cần chì, mắc con bướm hay con bọ cánh cứng cho mồi nổi trên mặt nước, rồi đứng dưới nước, chẳng cần quần, thả mồi trôi theo dòng, thế là con cá chày giật một cái! Có điều lúc ấy phải khéo léo, sao cho cái đồ chết tiệt ấy không giật đứt mồi. Nó vừa giật dây câu một cái, là phải giật cần ngay, chẳng chờ gì nữa. Cả đời tôi câu được không biết bao nhiêu là cá! Hồi đang trốn, những tù nhân khác ngủ trong rừng, còn tôi thì không ngủ được, cứ tìm đường ra sông. Mà sông ở đấy rộng lắm, chảy xiết lắm, bờ dựng đứng, khiếp lắm! Dọc bờ toàn rừng rậm. Cây cối cao đến nỗi nhìn lên ngọn là chóng cả mặt. Nếu tính theo giá ở đây, thì mỗi cây thông ấy phải đáng giá mười rúp.

Dưới sức đẩy hỗn loạn của những mộng mơ, của những hình ảnh tuyệt đẹp của quá khứ và niềm linh cảm ngọt ngào về hạnh phúc, con người khốn khổ ấy im bặt, chỉ còn mấp máy môi, như đang thì thầm với chính mình. Nụ cười đờ đẫn, sung sướng không rời khỏi gương mặt anh ta. Hai người lính xã im lặng. Họ trầm ngâm, gục đầu xuống. Trong sự tĩnh lặng mùa thu, khi màn sương lạnh lẽo, khắc nghiệt từ mặt đất phủ lên tâm hồn, khi nó đứng sừng sững trước mắt như bức tường nhà tù và nhắc con người về giới hạn của tự do, thì thật ngọt ngào khi nghĩ đến những dòng sông rộng, chảy xiết với đôi bờ dựng đứng, thênh thang, đến những cánh rừng không lối vào, những thảo nguyên không bờ bến. Trí tưởng tượng chậm rãi và thanh thản vẽ ra cảnh một sáng sớm, khi trên trời ráng hồng còn chưa tắt, dọc theo bờ sông dựng đứng không một bóng người, một con người như một chấm nhỏ đang len lỏi bước đi. Những cây thông cổ thụ cao vút như cột buồm, chồng lên nhau thành từng bậc hai bên dòng nước, nghiêm khắc nhìn con người tự do và rì rầm cau có. Rễ cây, những tảng đá khổng lồ và bụi gai chắn lối anh ta, nhưng anh ta khoẻ mạnh về thể xác và vững vàng về tinh thần, chẳng sợ những cây thông, những tảng đá, chẳng sợ sự cô độc của mình, chẳng sợ cả tiếng vang rền rĩ nhắc lại từng bước chân anh ta.

Hai người lính xã vẽ ra trong đầu những bức tranh về một cuộc sống tự do mà họ chưa bao giờ sống. Có phải họ mơ hồ nhớ lại những hình ảnh đã nghe kể từ lâu, hay những hình dung về cuộc sống tự do đã truyền lại cho họ cùng với máu thịt từ những tổ tiên tự do xa xưa, có Chúa mới biết!

Người phá tan sự im lặng trước tiên là Ni-can-đrơ Xa-pô-giơ-ni-cốp, người từ đầu đến giờ chưa thốt ra một lời nào. Không biết anh ta ghen tị với cái hạnh phúc hão huyền của kẻ lang thang, hay có lẽ trong thâm tâm anh ta cảm thấy những ước mơ về hạnh phúc chẳng ăn nhập gì với màn sương xám xịt và bùn lầy đen nâu này, chỉ biết anh ta nhìn kẻ lang thang nghiêm khắc mà nói:

— Thì đúng thế, cái gì cũng hay cả, nhưng anh bạn ạ, mày chẳng đến được những miền thênh thang ấy đâu. Mày thì làm sao nổi? Đi được ba trăm dặm là mày đã về chầu Chúa rồi. Nhìn mày mà xem, ốm o thế kia! Mới đi có sáu dặm mà đã thở không ra hơi!

Kẻ lang thang chậm rãi quay về phía Ni-can-đrơ, và nụ cười sung sướng biến mất trên gương mặt anh ta. Anh ta nhìn gương mặt đường bệ của người lính xã, sợ hãi và tội lỗi, hình như sực nhớ ra điều gì, rồi cúi gằm đầu xuống. Lại im lặng… Cả ba người đều suy nghĩ. Hai người lính xã căng óc ra, cố hình dung cái điều mà có lẽ chỉ Chúa mới hình dung nổi, ấy là cái khoảng cách khủng khiếp đang ngăn cách họ với miền đất tự do. Còn trong đầu kẻ lang thang thì chen chúc những bức tranh rõ ràng, sắc nét, và còn khủng khiếp hơn cả khoảng cách ấy. Trước mắt anh ta hiện lên sống động cảnh toà án dây dưa, những nhà tù chuyển tiếp và nhà tù khổ sai, những chiếc xà lan chở tù, những chặng dừng mỏi mệt dọc đường, những mùa đông giá buốt, bệnh tật, cái chết của những người bạn tù…

Kẻ lang thang chớp chớp mắt vẻ tội lỗi, lấy tay áo lau trán, nơi những giọt mồ hôi nhỏ đang lấm tấm, thở phì phò như vừa nhảy ra khỏi một nhà tắm hơi đốt nóng, rồi lấy ống tay áo kia lau trán lần nữa, sợ sệt nhìn quanh.

— Mà đúng là mày chẳng đi tới nơi được đâu! Ptá-kha đồng tình. Mày thì đi đường thế nào được? Nhìn lại mày xem: da bọc xương! Mày chết mất thôi, anh bạn ạ!

— Ai chả biết, nó chết thôi! Làm sao mà nổi! Ni-can-đrơ nói. Ngay bây giờ người ta đã phải đưa nó vào nhà thương rồi… Chắc chắn!

Kẻ không nhớ gốc gác kinh hoàng nhìn những gương mặt nghiêm khắc, vô cảm của hai người bạn đường gở mồm gở miệng, rồi chẳng bỏ mũ, trợn tròn mắt, làm dấu thánh giá lia lịa… Anh ta run lên khắp người, lắc lắc đầu, và cả người anh ta bắt đầu quằn quại, như con sâu bị ai giẫm lên…

— Thôi, đi thôi, Ni-can-đrơ nói, đứng dậy. Nghỉ thế đủ rồi!

Một phút sau, những người bộ hành đã lại bước trên con đường lầy lội. Kẻ lang thang còng lưng xuống hơn nữa, thọc tay sâu hơn nữa vào ống tay áo. Ptá-kha im lặng.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1886
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Мечты, 1886
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →