Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Thành phố bị chiếm đóng

Viên mỡ bò · Chương 1/5 · của Guy de Maupassant

⏱ 11 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 11.501 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Nhiều ngày liền, những mảnh vụn của một đạo…
  2. 2:26Rồi một sự yên lặng sâu thẳm, một nỗi…
  3. 4:48Sau một thời gian, khi cơn khiếp sợ ban…
  4. 7:22Cuối cùng, vì những kẻ xâm lăng, tuy bắt…
  5. 8:44Một người nói:
  6. 8:57Ai cũng có những dự định giống nhau, vì…
  7. 10:35Chắc là họ chưa nghĩ tới, và họ vội…
  8. 11:15Xe lên đường.

Chương 1: Thành phố bị chiếm đóng

Nhiều ngày liền, những mảnh vụn của một đạo quân tan tác đã kéo qua thành phố. Đó không còn là quân đội nữa, mà là những đám người rã đám. Râu ria họ dài và bẩn, quân phục rách bươm, và họ bước đi uể oải, không cờ, không trung đoàn. Ai cũng có vẻ rã rời, kiệt sức, chẳng còn nghĩ ngợi hay quyết định được gì, chỉ bước đi theo thói quen, hễ dừng lại là ngã quỵ vì mệt. Người ta thấy nhiều nhất là những người bị gọi nhập ngũ, những người hiền lành, những kẻ sống bằng lợi tức yên ổn, còng lưng dưới sức nặng của khẩu súng. Rồi những chú lính cơ động trẻ, nhanh nhẹn, dễ hoảng sợ mà cũng dễ hăng hái, sẵn sàng xông lên cũng như sẵn sàng bỏ chạy. Rồi giữa họ, vài chiếc quần đỏ, tàn quân của một sư đoàn đã bị nghiền nát trong một trận lớn. Những người lính pháo binh u ám đi lẫn với đủ loại lính bộ. Và đôi khi, chiếc mũ sắt sáng loáng của một anh kỵ binh nặng nề, chân bước khó nhọc theo nhịp đi nhẹ nhàng hơn của lính bộ binh.

Những đội du kích mang những cái tên anh hùng: "Những người báo thù cho thất bại", "Những công dân của nấm mồ", "Những kẻ chia nhau cái chết", tới lượt họ đi qua, với dáng vẻ của những tên cướp.

Chỉ huy của họ, vốn là những nhà buôn dạ hay buôn hạt giống, những người bán mỡ hay bán xà phòng cũ, những chiến binh nhất thời, được phong sĩ quan nhờ tiền bạc hay nhờ bộ ria dài, mang đầy vũ khí, áo nỉ và lon lá, nói năng oang oang, bàn chuyện chiến lược, và tự cho rằng chỉ mình họ đang gánh nước Pháp hấp hối trên đôi vai khoác lác. Nhưng đôi khi chính họ lại sợ lính của mình, những kẻ đầu trộm đuôi cướp, nhiều khi dũng cảm tới liều mạng, mà cũng cướp bóc và trác táng.

Người ta đồn rằng quân Phổ sắp tiến vào Ru-ăng.

Đội Vệ quốc quân, từ hai tháng nay vẫn đi trinh sát hết sức thận trọng trong những khu rừng lân cận, đôi khi bắn nhầm cả lính gác của chính mình, và sẵn sàng chiến đấu mỗi khi có một con thỏ con động đậy dưới bụi rậm, giờ đã về nhà. Vũ khí, quân phục, tất cả đồ nghề giết chóc mà gần đây họ vẫn dùng để doạ những cột cây số trên các quốc lộ trong vòng ba dặm, bỗng chốc biến đâu mất cả.

Những người lính Pháp cuối cùng vừa vượt qua sông Xen để tới Pông Ô-đơ-me, qua ngả Xanh Xơ-ve và Bua A-sa. Và đi sau tất cả, viên tướng, tuyệt vọng, chẳng làm được gì với những mảnh vụn hỗn tạp ấy, chính ông cũng rối bời trong cuộc tan rã lớn của một dân tộc quen chiến thắng mà nay bại trận thảm hại mặc dù dũng cảm lừng danh, đi bộ giữa hai sĩ quan tuỳ tùng.

Rồi một sự yên lặng sâu thẳm, một nỗi chờ đợi khiếp sợ và câm lặng bao trùm thành phố. Nhiều ông tư sản bụng phệ, đã bị việc buôn bán làm cho mất hết khí phách, lo âu chờ đợi kẻ chiến thắng, run sợ không biết người ta có coi những cái xiên nướng thịt hay những con dao bếp to của họ là vũ khí hay không.

Cuộc sống như ngừng lại. Cửa hàng đóng cửa, đường phố câm lặng. Thỉnh thoảng một người dân, sợ hãi vì sự im lặng ấy, lủi nhanh dọc theo chân tường.

Nỗi khắc khoải của sự chờ đợi khiến người ta mong cho kẻ thù tới quách.

Chiều hôm sau ngày quân Pháp rút đi, vài tên kỵ binh Phổ, chẳng biết từ đâu tới, phóng nhanh qua thành phố. Rồi lát sau, một khối đen đặc đổ xuống từ đồi Xanh Ca-tơ-rin, trong khi hai dòng quân xâm lược khác xuất hiện trên những con đường từ Đác-nơ-tan và Boa-ghi-ôm. Tiền quân của ba cánh quân, đúng vào cùng một lúc, gặp nhau ở quảng trường toà thị chính. Và theo mọi con phố xung quanh, quân Đức kéo tới, trải dài những tiểu đoàn, làm mặt đường lát đá vang lên dưới những bước chân nặng nề và đều đặn.

Những tiếng hô lệnh bằng một giọng xa lạ, khàn đục, vọng lên dọc theo những ngôi nhà như đã chết, bỏ hoang. Trong khi đó, sau những cánh cửa chớp đóng kín, những đôi mắt đang rình nhìn những con người chiến thắng ấy, những ông chủ của thành phố, của tài sản và của sinh mạng, theo cái gọi là "quyền của chiến tranh". Dân chúng, trong những căn phòng tối om của mình, hoảng loạn như trước những thảm hoạ, những cơn đảo lộn chết chóc lớn của trái đất, mà mọi khôn ngoan và mọi sức mạnh đều vô ích. Vì cảm giác ấy bao giờ cũng trở lại mỗi khi trật tự quen thuộc của mọi vật bị lật đổ, khi không còn an toàn nữa, khi tất cả những gì luật lệ của con người hay của tự nhiên vẫn che chở bỗng nằm trong tay một sự tàn bạo vô ý thức và hung dữ. Trận động đất vùi cả một dân tộc dưới những ngôi nhà đổ nát. Dòng sông tràn bờ cuốn trôi những người nông dân chết đuối cùng xác bò và những thanh xà bị giật khỏi mái nhà. Hay đạo quân vinh quang tàn sát những ai chống cự, bắt những người khác làm tù binh, cướp bóc nhân danh thanh Gươm, và tạ ơn một vị Chúa trong tiếng đại bác. Tất cả đều là những tai ương khủng khiếp làm lung lay mọi niềm tin vào công lý muôn đời, mọi lòng tin mà người ta dạy ta vào sự che chở của Trời và vào lý trí của con người.

Nhưng ở mỗi cánh cửa, những toán lính nhỏ gõ cửa, rồi biến vào trong nhà. Đó là sự chiếm đóng sau cuộc xâm lăng. Đối với kẻ chiến bại, bổn phận bắt đầu: tỏ ra niềm nở với kẻ chiến thắng.

Sau một thời gian, khi cơn khiếp sợ ban đầu đã qua, một sự yên ổn mới được thiết lập. Trong nhiều gia đình, viên sĩ quan Phổ ngồi ăn cùng mâm. Đôi khi hắn có giáo dục, và vì lịch sự, hắn tỏ ra thương hại nước Pháp, nói rằng mình ghê tởm khi phải tham gia cuộc chiến tranh này. Người ta biết ơn hắn vì tình cảm ấy. Vả lại, ngày nào đó người ta có thể cần tới sự che chở của hắn. Biết chiều chuộng hắn, có khi người ta sẽ phải nuôi ít lính hơn. Mà việc gì phải làm mếch lòng một người mà mình hoàn toàn lệ thuộc? Làm như thế không phải là can đảm, mà là liều lĩnh. Và liều lĩnh thì đã không còn là tật xấu của dân tư sản Ru-ăng nữa, như cái thời những cuộc phòng thủ anh hùng đã làm rạng danh thành phố của họ. Cuối cùng người ta tự nhủ, lý lẽ tối thượng rút ra từ phép lịch sự của người Pháp, rằng ở trong nhà mình thì cứ việc lịch sự, miễn là ra đường đừng tỏ ra thân mật với người lính nước ngoài. Ở ngoài thì không quen biết nhau nữa, nhưng trong nhà thì người ta sẵn lòng trò chuyện, và tối nào người Đức cũng ngồi lại lâu hơn để sưởi bên bếp lửa chung.

Chính thành phố cũng dần dần lấy lại vẻ thường ngày. Người Pháp vẫn còn ít ra đường, nhưng lính Phổ thì lúc nhúc khắp phố. Vả lại, những sĩ quan khinh kỵ áo xanh ngạo mạn kéo lê trên vỉa hè những thanh gươm lớn, công cụ chết chóc của chúng, có vẻ cũng chẳng khinh miệt người dân thường hơn bao nhiêu so với những sĩ quan kỵ binh Pháp, những người năm trước vẫn uống rượu ở cùng những quán cà phê ấy.

Thế nhưng trong không khí vẫn có một cái gì đó, một cái gì tinh tế và xa lạ, một bầu không khí ngoại bang không sao chịu nổi, như một mùi hương lan toả, mùi của sự xâm lăng. Nó tràn ngập nhà cửa và quảng trường, làm thay đổi cả vị của thức ăn, khiến người ta có cảm giác như đang đi xa, rất xa, giữa những bộ lạc man rợ và nguy hiểm.

Kẻ chiến thắng đòi tiền, rất nhiều tiền. Dân chúng bao giờ cũng trả. Vả lại họ giàu. Nhưng một nhà buôn Noóc-măng-đi càng giàu thì càng đau đớn vì mọi sự hy sinh, vì từng mẩu tài sản nhỏ mà ông ta thấy rơi vào tay kẻ khác.

Thế nhưng, cách thành phố hai ba dặm, xuôi theo dòng sông, về phía Croa-xê, Đi-ép-đan hay Bi-ê-xa, những người chở thuyền và những người đánh cá vẫn thường vớt lên từ đáy nước xác một tên lính Đức trương phình trong bộ quân phục, bị giết bằng một nhát dao hay một cú đá, đầu bị đá đập nát, hay bị xô từ trên cầu xuống nước. Bùn sông vùi lấp những cuộc trả thù tăm tối ấy, man rợ mà chính đáng, những chiến công vô danh, những cuộc tấn công câm lặng, nguy hiểm hơn những trận đánh giữa ban ngày, mà chẳng được tiếng vang của vinh quang.

Vì lòng căm thù kẻ ngoại bang bao giờ cũng vũ trang cho một vài người gan dạ sẵn sàng chết cho một Lý tưởng.

Cuối cùng, vì những kẻ xâm lăng, tuy bắt thành phố phải tuân theo kỷ luật sắt của chúng, vẫn chưa làm điều ghê tởm nào trong số những điều mà tiếng đồn bảo chúng đã làm suốt dọc đường chiến thắng, người ta bạo dạn lên, và nhu cầu buôn bán lại bắt đầu giày vò trái tim các nhà buôn trong vùng. Một số người có những quyền lợi lớn ở Lơ Ha-vrơ, nơi quân Pháp đang chiếm giữ, và họ muốn thử tới được hải cảng ấy bằng cách đi đường bộ tới Đi-ép, rồi xuống tàu ở đó.

Người ta dùng ảnh hưởng của những sĩ quan Đức đã quen biết, và xin được giấy phép ra đi của viên tướng tổng chỉ huy.

Thế là một cỗ xe ngựa lớn bốn ngựa kéo được thuê cho chuyến đi này, và có mười người đăng ký ở chỗ chủ xe. Người ta quyết định khởi hành vào một sáng thứ ba, trước lúc trời sáng, để tránh mọi sự tụ tập.

Đã ít lâu nay sương giá làm mặt đất cứng lại. Và chiều thứ hai, khoảng ba giờ, những đám mây đen dày đặc từ phương Bắc kéo tới mang theo tuyết, tuyết rơi không ngớt suốt cả buổi tối và cả đêm.

Bốn giờ rưỡi sáng, các hành khách tập trung trong sân khách sạn Noóc-măng-đi, nơi họ sẽ lên xe.

Họ còn ngái ngủ, và run cầm cập vì rét dưới những tấm chăn. Trong bóng tối, người ta nhìn nhau không rõ. Và những lớp quần áo mùa đông dày cộm chồng chất khiến tất cả những thân hình ấy trông như những ông cha xứ béo phị trong bộ áo chùng dài. Nhưng có hai người đàn ông nhận ra nhau, người thứ ba bước tới, họ trò chuyện.

Một người nói:

"Tôi đưa nhà tôi đi cùng."

"Tôi cũng thế."

"Tôi cũng vậy."

Người thứ nhất nói thêm:

"Chúng tôi sẽ không quay về Ru-ăng nữa, và nếu quân Phổ tới gần Lơ Ha-vrơ, chúng tôi sẽ sang Anh."

Ai cũng có những dự định giống nhau, vì họ cùng một bản tính.

Thế nhưng người ta vẫn chưa thắng ngựa vào xe. Một cây đèn lồng nhỏ do một anh coi chuồng ngựa cầm, thỉnh thoảng lại ló ra từ một cánh cửa tối om, rồi lập tức biến vào một cánh cửa khác. Tiếng vó ngựa nện xuống đất, bị lớp phân rơm lót chuồng làm cho êm đi, và nghe thấy tiếng một người đàn ông vừa nói với ngựa vừa chửi thề ở cuối dãy nhà. Một tiếng lục lạc khẽ rung báo hiệu người ta đang xếp bộ yên cương. Tiếng rung ấy chẳng mấy chốc thành một tiếng ngân trong trẻo và liên tục, nhịp theo cử động của con vật, đôi khi ngừng lại, rồi lại tiếp tục bằng một cú giật đột ngột kèm theo tiếng đục của một chiếc móng sắt nện xuống đất.

Cánh cửa bỗng đóng lại. Mọi tiếng động đều tắt. Những người tư sản lạnh cóng đã im bặt. Họ đứng bất động, cứng đờ.

Một tấm màn bông tuyết trắng không dứt cứ lấp lánh mãi khi rơi xuống mặt đất. Nó xoá nhoà mọi hình dáng, rắc lên mọi vật một lớp bọt băng. Và trong sự im lặng lớn lao của thành phố yên tĩnh, bị vùi dưới mùa đông, người ta chỉ còn nghe thấy cái tiếng sột soạt mơ hồ, không gọi được tên, bồng bềnh, của tuyết đang rơi, cảm giác thì đúng hơn là tiếng động, một sự đan xen của những hạt nhỏ nhẹ như tràn ngập không gian, phủ kín cả thế giới.

Người đàn ông lại xuất hiện với chiếc đèn lồng, dắt ở đầu sợi dây một con ngựa buồn bã, đi chẳng mấy vui lòng. Anh ta đặt nó vào càng xe, buộc dây kéo, đi vòng quanh rất lâu để chằng lại yên cương, vì anh ta chỉ dùng được một tay, tay kia còn cầm đèn. Khi sắp đi dắt con ngựa thứ hai, anh ta để ý thấy tất cả những hành khách đang đứng im, đã trắng xoá tuyết, liền bảo họ:

"Sao các vị không lên xe đi, ít ra cũng được che tuyết."

Chắc là họ chưa nghĩ tới, và họ vội lao lên. Ba người đàn ông đưa vợ vào ngồi ở hàng ghế cuối, rồi lên theo. Rồi những bóng người mờ mịt, trùm kín khác lần lượt chiếm những chỗ còn lại mà chẳng nói với nhau một lời.

Sàn xe trải rơm, chân lún sâu vào đó. Các bà ngồi cuối xe đã mang theo những chiếc lò sưởi chân nhỏ bằng đồng đốt bằng than hoá chất. Họ châm những cái lò ấy, và một lúc lâu, họ thì thầm kể ra những cái lợi của chúng, nhắc đi nhắc lại với nhau những điều mà họ đã biết từ lâu.

Cuối cùng xe đã thắng xong, với sáu con ngựa chứ không phải bốn vì đường khó kéo hơn, một giọng nói bên ngoài hỏi:

"Mọi người lên cả rồi chứ?"

Một giọng bên trong đáp:

"Rồi."

Xe lên đường.

— Hết chương 1 —

Mục lục Viên mỡ bò

  1. 1Thành phố bị chiếm đóng11 phút
  2. 2Mười người trên cỗ xe ngựaĐang thu âm
  3. 3Viên sĩ quan PhổĐang thu âm
  4. 4Âm mưu trong quán trọĐang thu âm
  5. 5Trên đường tới Đi-épĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1880
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Boule de suif, in lần đầu trong tuyển tập Les Soirées de Médan năm 1880, theo bản trong tập Boule de suif, Ollendorff 1907
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →