Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Viên thanh tra muối

của Premchand

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Khánh📖 16.404 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Khi Sở Muối mới được lập ra, và thứ…
  2. 4:03Xe đi đâu?
  3. 5:17Chúc phúc cho cậu. Cậu nói xem tôi phạm…
  4. 6:56Cái chỗ dựa mà A-lô-pi-đin vẫn tưởng là tảng…
  5. 8:16Bằng cách nào cũng không được.
  6. 13:12Cứ thế một tuần nữa trôi qua. Một buổi…
  7. 15:18Ngài nói thế là do lòng rộng lượng của…
  8. 16:32Van-si-đa nghiêm trang nói:

Khi Sở Muối mới được lập ra, và thứ muối Trời cho bị cấm không được tự tiện mua bán, thì người ta bắt đầu buôn lậu muối. Đủ mọi mánh khoé gian trá nảy ra. Kẻ thì dùng tiền đút lót mà xong việc, kẻ thì dùng mưu mẹo. Bọn quan chức được dịp phất lên. Người ta bỏ cả cái chức thư lại ruộng đất vốn được mọi người trọng vọng để xin vào làm lính của sở này. Còn cái chức thanh tra muối thì đến các ông thầy cãi cũng phải thèm. Đó là cái thời người ta coi học chữ Anh và theo đạo Thiên Chúa là một. Tiếng Ba Tư đang thịnh. Những người thạo tiếng Ba Tư, đọc truyện tình với thơ ái ân, cũng được cất nhắc lên những chức cao nhất. Cậu Van-si-đa cũng vậy. Đọc xong thiên tình sử chia ly của nàng Du-lai-kha, cậu cho chuyện tình của chàng Mát-nun và chàng Phác-hát còn quan trọng hơn cả cuộc chiến của Nan với Nin hay việc tìm ra châu Mỹ, rồi lên đường đi tìm việc làm. Cha cậu là người từng trải. Ông khuyên bảo:

— Con ơi, con thấy cảnh nhà mình khốn đốn thế nào rồi đấy. Nợ nần đè nặng. Các em gái con thì cứ lớn lên vùn vụt như cỏ dại. Bố đã như cái cây đứng mép bờ sông lở, chẳng biết đổ lúc nào. Giờ con là chủ nhà rồi. Đi làm thì đừng để ý tới chức tước. Chức tước chỉ như ngôi mộ của ông thánh, cái đáng để mắt tới là lễ vật người ta đặt lên đấy. Con phải tìm chỗ nào có chút bổng lộc ngoài lương. Lương tháng như vầng trăng rằm, chỉ thấy được một ngày rồi khuyết dần khuyết dần tới mất hẳn. Bổng lộc thì như dòng suối chảy, lúc nào cũng có mà uống cho đỡ khát. Lương là người cho, nên chẳng bao giờ tăng. Bổng lộc là Trời cho, nên lúc nào cũng dồi dào. Con có học, bố chẳng cần dạy con nhiều. Việc này cần nhất là phải biết suy xét. Hãy nhìn người, nhìn cái cần của họ, nhìn thời cơ, rồi thấy nên làm gì thì làm. Rắn tay với kẻ đang cần mình thì chỉ có lợi. Còn kẻ chẳng cần gì mình thì khó mà bắt bí được. Con hãy ghi nhớ những lời này. Đây là vốn liếng cả đời bố đấy.

Khuyên xong, người cha ban phúc cho con. Van-si-đa là đứa con biết vâng lời. Cậu chăm chú nghe những lời ấy rồi mới rời nhà. Giữa thế gian rộng lớn này, kiên nhẫn là bạn của cậu, trí khôn là người dẫn đường, và chỉ có tự lực là chỗ dựa. Mà cậu ra đi đúng lúc gặp điềm lành, vừa tới nơi đã được bổ ngay vào chức thanh tra Sở Muối. Lương khá, còn bổng lộc thì khỏi phải nói. Ông cụ được tin vui thì sướng không để đâu cho hết. Các chủ nợ cũng dịu giọng hẳn. Dây leo hy vọng trong nhà xanh tốt hẳn lên. Còn trong bụng hàng xóm thì nhói lên từng cơn ghen tức.

Hôm ấy là một đêm mùa đông. Lính muối và lính gác đã say khướt. Cậu Van-si-đa tới đây mới được chưa đầy sáu tháng, nhưng chỉ trong thời gian ngắn ấy, cậu đã làm cấp trên mến phục vì sự giỏi giang và tư cách đứng đắn. Các quan rất tin cậu. Cách sở muối chừng một dặm về phía đông là sông Gia-mu-na, trên sông có một chiếc cầu phao nối bằng thuyền. Ông thanh tra đóng cửa ngủ say. Bỗng mở mắt, ông không nghe tiếng nước chảy nữa mà nghe tiếng xe chạy rầm rầm và tiếng phu thuyền ồn ào. Ông ngồi bật dậy. Đêm hôm khuya khoắt thế này sao xe lại qua sông? Chắc chắn có chuyện mờ ám gì đây. Lý lẽ càng củng cố mối nghi. Ông mặc đồng phục, nhét khẩu súng ngắn vào túi, phi ngựa một mạch ra tới cầu. Ông thấy một đoàn xe dài dằng dặc đang qua cầu. Ông quát hỏi:

— Xe của ai?

Một lúc lâu im phăng phắc. Đám người thì thầm với nhau, rồi người đi đầu mới đáp:

— Của ngài A-lô-pi-đin.

— A-lô-pi-đin nào?

— Ngài A-lô-pi-đin ở Đa-ta-ganj.

Cậu Van-si-đa giật mình. Ngài A-lô-pi-đin là địa chủ có thế lực nhất vùng. Ông cho vay mượn hàng trăm nghìn ru-pi. Ở vùng này từ người nhỏ tới người lớn, có ai không mắc nợ ông. Việc buôn bán của ông cũng rộng lắm. Ông là tay rất khôn lanh thạo việc đời. Các quan Anh tới vùng ông săn bắn đều được ông tiếp đãi. Quanh năm nhà ông mở bếp bố thí.

Cậu hỏi:

— Xe đi đâu?

Có tiếng đáp:

— Đi Kan-pua.

Nhưng tới câu hỏi trong xe chở gì, thì lại im phăng phắc. Mối nghi của ông thanh tra càng tăng. Chờ một lúc không thấy ai trả lời, ông lớn tiếng:

— Các người câm hết cả rồi à? Ta hỏi trong xe chở gì?

Lần này vẫn không ai trả lời, ông bèn thúc ngựa áp sát một chiếc xe, sờ vào bao hàng. Mối nghi tan biến. Đó là những tảng muối.

Ngài A-lô-pi-đin ngồi trên cỗ xe trang hoàng lộng lẫy của mình, nửa thức nửa ngủ đi tới. Bỗng mấy người phu xe hớt hải chạy tới đánh thức ông, thưa:

— Bẩm ngài! Ông thanh tra đã chặn xe lại, đang đứng ở bến cho gọi ngài.

Ngài A-lô-pi-đin có một niềm tin vững như bàn thạch vào nữ thần Lắc-sơ-mi, nữ thần của cải. Ông thường nói thế gian thì khỏi phải bàn, ngay cả trên thiên đường cũng là nữ thần Lắc-sơ-mi cai trị. Ông nói vậy cũng chẳng sai. Công lý và đạo lý đều là đồ chơi của nữ thần, nữ thần muốn chúng nhảy múa thế nào thì chúng nhảy múa thế ấy. Vẫn nằm nguyên, ông kiêu hãnh nói:

— Đi đi, ta tới ngay.

Nói rồi ngài thong thả têm mấy miếng trầu mà nhai, chẳng chút lo lắng. Sau đó ông khoác tấm chăn bông, tới chỗ ông thanh tra, nói:

— Chúc phúc cho cậu. Cậu nói xem tôi phạm tội gì mà xe bị chặn lại? Với chúng tôi là người Bà-la-môn, lẽ ra cậu phải đoái thương mới phải.

Van-si-đa lạnh lùng đáp:

— Lệnh nhà nước.

Ngài A-lô-pi-đin cười:

— Tôi chẳng biết lệnh nhà nước nào, cũng chẳng biết nhà nước nào. Nhà nước của tôi chính là cậu đấy thôi. Chuyện của tôi với cậu là chuyện người nhà, tôi đâu có bao giờ ra khỏi lòng cậu được? Cậu chịu khó vô ích rồi. Đi qua đây mà không dâng lễ cho vị thần giữ bến này thì làm sao được. Tôi cũng đang định tự mình tới hầu cậu đây.

Tiếng sáo mê hoặc của giàu sang ấy chẳng làm Van-si-đa mảy may xao động. Lòng ngay thẳng của cậu đang hăng hái như buổi đầu. Cậu quát:

— Tôi không thuộc hạng ăn cháo đá bát, đem lương tâm ra bán lấy mấy đồng xu. Lúc này ông đã bị bắt giữ. Sáng mai ông sẽ bị giải đi theo đúng luật. Thế thôi, tôi không rảnh để nói nhiều. Đội trưởng Bát-lu Xinh! Giải người này đi, tôi ra lệnh đấy.

Ngài A-lô-pi-đin sững sờ. Đám phu xe nhốn nháo. Có lẽ trong đời ngài, đây là lần đầu tiên ngài phải nghe những lời gay gắt như thế. Bát-lu Xinh bước tới, nhưng vì sợ uy, chẳng dám nắm tay ngài. Ngài chưa bao giờ thấy đạo lý coi thường đồng tiền tới vậy. Ông nghĩ bụng thằng này còn là đứa trẻ ngông cuồng, chưa sa vào lưới mê đắm của cõi đời, còn non dại, còn ngập ngừng. Ông hạ giọng hết sức nhún nhường:

— Thưa cậu, xin cậu đừng làm thế, tôi tiêu mất. Danh dự tôi sẽ thành tro bụi. Làm nhục tôi thì cậu được cái gì? Tôi nào có ra khỏi lòng cậu đâu?

Van-si-đa nghiêm giọng:

— Tôi không muốn nghe những lời ấy.

Cái chỗ dựa mà A-lô-pi-đin vẫn tưởng là tảng đá vững chắc, giờ như đang trượt khỏi chân ông. Lòng tự tôn và sự giàu sang của ông bị một đòn nặng. Nhưng ông vẫn còn tin trọn vẹn vào sức mạnh của tiền bạc, sức mạnh của những con số. Ông bảo viên quản lý của mình:

— Ông La-la, đem tờ bạc một nghìn biếu cậu đây. Lúc này cậu ấy đang là con sư tử đói.

Van-si-đa nổi nóng:

— Đừng nói một nghìn, một trăm nghìn cũng không làm tôi rời được con đường ngay thẳng.

Đồng tiền tức tối trước cái sự ngang bướng thiếu khôn ngoan và lòng hy sinh hiếm có cả trên trời ấy của đạo lý. Thế là hai sức mạnh lao vào đánh nhau. Đồng tiền nhảy chồm chồm mà tấn công. Từ một nghìn lên năm nghìn, năm nghìn lên mười, mười lên mười lăm, mười lăm lên hai mươi nghìn. Nhưng đạo lý vẫn đứng một mình trước đạo quân đông đảo ấy, can đảm phi thường, vững như núi, không hề lay chuyển.

A-lô-pi-đin thất vọng nói:

— Hơn thế thì tôi không dám nữa. Giờ tuỳ cậu.

Van-si-đa quát gọi viên đội trưởng. Bát-lu Xinh vừa thầm chửi ông thanh tra trong bụng, vừa bước về phía ngài A-lô-pi-đin. Ngài hoảng hốt lùi lại hai ba bước, nhún nhường hết mực mà nói:

— Thưa cậu, lạy Trời, xin cậu thương tôi, tôi xin dàn xếp hai mươi lăm nghìn.

— Không thể được.

— Ba mươi nghìn?

— Bằng cách nào cũng không được.

— Bốn mươi nghìn cũng không được sao?

— Đừng nói bốn mươi nghìn, bốn triệu cũng không được. Bát-lu Xinh! Bắt người này ngay. Tôi không muốn nghe thêm một lời nào nữa.

Đạo lý đã giẫm nát đồng tiền dưới chân. A-lô-pi-đin thấy một gã lực lưỡng cầm còng tay đi về phía mình. Ông nhìn quanh với ánh mắt tuyệt vọng, khiếp hãi. Rồi bỗng ông ngất lịm, ngã xuống.

Thiên hạ ngủ, nhưng lưỡi thiên hạ thì thức. Mới sáng ra, già trẻ ai cũng chỉ nói một chuyện ấy. Gặp ai cũng thấy đang bàn tán về việc làm của ngài A-lô-pi-đin. Lời chê bai tuôn ra như mưa, cứ như thể tội lỗi đã bị quét sạch khỏi thế gian. Kẻ bán nước lã mạo làm sữa, những ông quan ghi sổ sách bịa đặt, những kẻ đi tàu không vé, những ông chủ hiệu, chủ nợ làm giấy tờ giả, tất cả đều lên giọng như thần thánh. Hôm sau, khi ngài A-lô-pi-đin bị giải tới toà, đi giữa đám cảnh sát, tay đeo còng, lòng đầy uất hận nhục nhã, cổ cúi gằm vì xấu hổ, thì cả thị trấn náo động. Đến hội chợ có lẽ người ta cũng không háo hức nhìn tới thế. Người chen chúc tới mức mái nhà với tường rào chẳng còn phân biệt được nữa.

Nhưng chỉ cần tới được toà án là xong. Ngài A-lô-pi-đin là con sư tử của khu rừng sâu ấy. Các quan là tín đồ của ông, nha lại là đầy tớ của ông, thầy cãi, người đại diện là kẻ vâng lời ông, còn lính hầu, lính gác thì là nô lệ không công của ông. Vừa thấy ông, người ta từ khắp nơi chạy tới. Ai cũng kinh ngạc. Chẳng phải ngạc nhiên vì sao A-lô-pi-đin làm việc ấy, mà ngạc nhiên vì sao ông lại sa vào nanh vuốt của luật pháp. Một người có tiền của làm được cả những việc không thể làm, lại có tài ăn nói không ai bằng, thì sao lại sa vào nanh vuốt của luật pháp? Ai cũng tỏ lòng thương cảm với ông. Người ta hăng hái dựng ngay cả một đạo quân thầy cãi để chặn đứng cuộc tấn công này. Trên chiến trường công lý, đạo lý và đồng tiền giáp trận. Van-si-đa lặng lẽ đứng đó. Cậu chẳng có sức mạnh nào ngoài sự thật, chẳng có vũ khí nào ngoài lời nói thẳng. Nhân chứng thì có, nhưng lung lay vì lòng tham.

Tới mức cậu Van-si-đa thấy cả công lý cũng như ngả về phía bên kia. Đó là toà án công lý, nhưng những người làm việc ở đó đã say men thiên vị. Mà thiên vị với công lý thì sao hoà hợp được? Đâu có thiên vị thì đó không thể có công lý. Vụ án kết thúc rất nhanh. Viên phó quan toà viết trong bản án: "Những chứng cứ đưa ra chống lại ngài A-lô-pi-đin là vô căn cứ và nhầm lẫn. Ngài là một nhân vật rất lớn. Thật không thể tưởng tượng được rằng ngài lại liều lĩnh như thế vì một chút lợi nhỏ. Tuy lỗi của thanh tra muối Van-si-đa không nặng, nhưng thật đáng tiếc là vì sự ngông cuồng thiếu suy xét của y, một người tử tế đã phải chịu khổ. Chúng tôi vui mừng thấy y cẩn trọng, tỉnh táo trong công việc, nhưng lòng trung thành thái quá với Sở Muối đã làm hỏng óc suy xét của y. Từ nay y phải cẩn thận hơn."

Đám thầy cãi nghe bản án thì nhảy cẫng lên. Ngài A-lô-pi-đin mỉm cười bước ra. Họ hàng thân thích tha hồ vung tiền. Biển hào phóng dâng trào, sóng của nó lay tới tận nền móng toà án. Khi Van-si-đa bước ra, những mũi tên chế giễu từ bốn phía trút xuống như mưa. Đám lính hầu cúi rạp người chào cậu. Nhưng lúc này mỗi lời cay đắng, mỗi cái nháy mắt lại thổi bùng ngọn lửa tự ái trong lòng cậu. Có lẽ nếu thắng vụ này, cậu đã chẳng bước đi ngẩng cao đầu như thế. Hôm nay cậu nếm trải một điều lạ lùng đáng buồn của cõi đời. Công lý và học vấn, những học vị dài dằng dặc, những bộ râu dài, những tấm áo choàng thùng thình, chẳng thứ nào đáng được kính trọng thật lòng.

Van-si-đa đã chuốc lấy thù oán với đồng tiền, thì phải trả giá. Chưa được một tuần đã có giấy cách chức gửi tới. Cậu bị phạt vì làm tròn bổn phận. Tim tan nát, đau khổ, buồn bã, cậu lên đường về nhà. Ông cụ từ trước đã càu nhàu mãi rằng lúc ra đi đã dặn dò thằng con bao nhiêu điều mà nó chẳng nghe câu nào. Chỉ biết làm theo ý mình. Ông cụ thì phải chịu nhà hàng rượu, ông hàng thịt tới đòi nợ, về già phải ngồi làm ra vẻ mộ đạo, còn nó thì ở đó chỉ ăn đồng lương khô khốc. Ông cụ nghĩ: "Mình cũng từng đi làm, đâu phải chức to tát gì, nhưng làm gì cũng làm hết lòng. Thế mà nó lại đòi làm người ngay thẳng. Nhà mình tối om, lại đi thắp đèn ở đền thờ. Thật đáng tiếc cho cái đầu ấy. Học hành uổng công cả." Ít hôm sau, khi cậu Van-si-đa về tới nhà trong cảnh khốn đốn ấy, ông cụ nghe tin thì đấm đầu thùm thụp. Ông bảo:

— Bố chỉ muốn đập vỡ đầu mày rồi đập vỡ đầu bố luôn.

Ông cứ thế ân hận, vò tay mãi. Trong cơn giận ông nói mấy lời nặng nề, và nếu Van-si-đa không lánh đi thì hẳn cơn giận ấy còn dữ dội hơn. Bà mẹ già cũng buồn lắm. Bao nhiêu mong ước đi hành hương đền Gia-gan-nát và đền Ra-mê-xoa-ram đều thành tro bụi. Còn người vợ thì mấy ngày liền không thèm nói với cậu một câu tử tế.

Cứ thế một tuần nữa trôi qua. Một buổi chiều, ông cụ đang ngồi lần tràng hạt niệm danh thần Ra-ma, thì một cỗ xe trang hoàng lộng lẫy tới dừng trước cửa nhà. Rèm xanh rèm hồng, đôi bò giống miền tây, cổ đeo dây xanh, sừng bọc đồng thau. Mấy người đầy tớ vác gậy trên vai đi theo. Ông cụ chạy ra đón. Nhìn ra thì là ngài A-lô-pi-đin. Ông cụ cúi rạp người lạy, rồi nói những lời nịnh nọt:

— Thật là phúc lớn cho nhà chúng tôi, ngài đã đặt chân tới cửa này. Ngài là vị thần chúng tôi thờ kính, chúng tôi còn mặt mũi nào mà nhìn ngài, mặt chúng tôi bôi tro trát trấu cả rồi. Nhưng biết làm sao được, thằng con bất hạnh hư hỏng, không thì đâu phải giấu mặt với ngài. Trời cho không con cũng được, chứ đừng cho đứa con như thế.

A-lô-pi-đin nói:

— Không đâu ông anh, xin đừng nói thế.

Ông cụ ngạc nhiên:

— Đứa con như thế thì còn biết nói gì khác?

A-lô-pi-đin nói với giọng trìu mến:

— Trên đời này có được mấy người như thế, là niềm tự hào của dòng họ, làm rạng danh tổ tiên, dám hy sinh tất cả vì lẽ phải?

Rồi ngài A-lô-pi-đin quay sang Van-si-đa:

— Thưa ông thanh tra, xin đừng nghĩ đây là nịnh hót. Muốn nịnh hót thì tôi chẳng cần phải nhọc công tới thế này. Đêm ấy, cậu dùng quyền của mình mà bắt tôi. Còn hôm nay, tôi tự nguyện tới nộp mình cho cậu bắt. Tôi đã gặp hàng nghìn kẻ giàu sang quyền quý, đã làm việc với hàng nghìn ông quan cao chức trọng, nhưng người khiến tôi phải chịu thua thì chỉ có cậu. Tôi đã biến tất cả bọn họ thành nô lệ của tôi và của đồng tiền của tôi. Xin cậu cho phép tôi được thưa với cậu một điều.

Thấy A-lô-pi-đin tới, Van-si-đa đã đứng dậy đón tiếp, nhưng vẫn giữ lòng tự trọng. Cậu nghĩ vị này tới để làm mình bẽ mặt, xấu hổ. Cậu không hề định xin lỗi, trái lại còn thấy những lời xun xoe của cha mình thật khó chịu. Nhưng nghe những lời của ngài A-lô-pi-đin, thì cặn bẩn trong lòng cậu tan đi. Cậu liếc nhìn ngài. Trên mặt ngài ánh lên thiện ý. Lòng kiêu hãnh giờ cúi đầu trước sự ngượng ngùng. Cậu bẽn lẽn nói:

— Ngài nói thế là do lòng rộng lượng của ngài. Tôi đã có gì vô lễ, xin ngài tha thứ. Lúc ấy tôi bị trói bằng xiềng xích của bổn phận. Còn thường ngày thì tôi xin làm kẻ hầu của ngài. Ngài dạy gì, tôi xin đội lên đầu.

A-lô-pi-đin nhũn nhặn nói:

— Bên bờ sông, cậu đã không nhận lời xin của tôi. Nhưng hôm nay thì cậu phải nhận.

Van-si-đa nói:

— Tôi có đáng gì đâu. Nhưng việc gì tôi làm được để giúp ngài, tôi sẽ không để thiếu sót.

A-lô-pi-đin lấy ra một tờ giấy có dán tem, đặt trước mặt Van-si-đa, nói:

— Xin cậu nhận chức này và ký tên vào. Tôi là người Bà-la-môn, chừng nào cậu chưa nhận lời, tôi sẽ không rời khỏi cửa nhà này.

Cậu Van-si-đa đọc tờ giấy, mắt rưng rưng vì biết ơn. Ngài A-lô-pi-đin cử cậu làm người quản lý thường trực toàn bộ điền sản của ngài. Ngoài sáu nghìn ru-pi lương mỗi năm, còn tiền chi tiêu hằng ngày riêng, ngựa để cưỡi, nhà để ở, đầy tớ không phải trả công. Cậu nói, giọng run run:

— Thưa ngài, tôi không đủ sức để ngợi ca hết lòng rộng lượng của ngài. Nhưng tôi không xứng với chức vụ cao như thế.

A-lô-pi-đin cười:

— Lúc này tôi đang cần đúng một người không xứng đấy.

Van-si-đa nghiêm trang nói:

— Tôi vẫn xin làm kẻ hầu của ngài. Được phục vụ một người danh tiếng và tử tế như ngài là may mắn của tôi. Nhưng tôi chẳng có học vấn, chẳng có trí khôn, cũng chẳng có kinh nghiệm để bù đắp những thiếu sót ấy. Một việc lớn như thế cần một người thật thấu đáo, thật từng trải.

A-lô-pi-đin rút cây bút trong hộp bút, đặt vào tay Van-si-đa, nói:

— Tôi chẳng cần học vấn, chẳng cần kinh nghiệm, chẳng cần thấu đáo, cũng chẳng cần tháo vát. Giá trị của những thứ ấy tôi đã biết quá đủ rồi. Giờ đây vận may và thời cơ đã cho tôi viên ngọc mà trước nó mọi tài năng và học vấn đều phai nhạt. Cậu cầm lấy bút, đừng nghĩ ngợi nhiều nữa, ký đi. Tôi chỉ cầu xin Trời một điều, là cho cậu mãi mãi vẫn là ông thanh tra bên bờ sông hôm ấy, chẳng nể nang ai, ngang bướng, cứng rắn, nhưng một lòng giữ đạo lý.

Mắt Van-si-đa ngấn lệ. Cái bình nhỏ hẹp của trái tim không chứa nổi chừng ấy ân nghĩa. Cậu lại nhìn ngài A-lô-pi-đin một lần nữa bằng ánh mắt tôn kính, rồi run run ký tên vào tờ giấy nhận chức quản lý.

A-lô-pi-đin vui sướng ôm chầm lấy cậu.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảPremchand (1880 – 1936)
Năm mất1936
Xuất bản lần đầu1917
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác tiếng Hindi Namak ka Daroga của Premchand, trong tập Sapta Saroj, Hindi Pustak Agency, 1917
Giọng đọcBảo Khánh — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →