Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Vỏ quýt dày có móng tay nhọn

của Andrew Lang

⏱ 12 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 12.029 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ngày xưa, ở một làng nọ bên Ấn Độ,…
  2. 2:17Bác lái buôn nài nỉ:
  3. 4:10Bác lái buôn hỏi:
  4. 5:23Bác ngồi đó bất động như hoá đá, trong…
  5. 6:15Ồ, vớ vẩn! Đi với cháu. Cháu nghĩ cháu…
  6. 8:05Bác còn nhớ bức tường chỗ cháu tìm thấy…
  7. 9:57Từ xa, bác lái buôn đã theo dõi hết.…
  8. 11:41Người đàn ông đóng vai người họ hàng đi…

Ngày xưa, ở một làng nọ bên Ấn Độ, có một bác lái buôn dậy sớm, làm lụng chăm chỉ, nghỉ ngơi muộn màng, vậy mà vẫn nghèo xác xơ. Vận rủi đeo đẳng mãi, cuối cùng bác quyết định tới một xứ thật xa tìm vận may. Mười hai năm trôi qua. Vận bác đã đổi, bác tích cóp được bao nhiêu của cải, đủ sống sung túc tới cuối đời. Bấy giờ bác lại nghĩ tới làng cũ, muốn về sống nốt quãng đời còn lại giữa bà con mình.

Để mang của cải về an toàn qua bao nhiêu dặm đường mỏi mệt, bác mua những viên ngọc quý thật đẹp, khoá vào một chiếc hộp nhỏ, giấu kín trong người. Rồi để khỏi lọt vào mắt bọn trộm cướp nhung nhúc dọc đường, chuyên sống bằng nghề cướp của khách bộ hành, bác mặc bộ áo quần rách rưới của kẻ chẳng còn gì để mất mà lên đường.

Sửa soạn như thế, bác đi rất nhanh. Còn cách làng mình vài ngày đường, bác tới một thành phố. Ở đây bác định mua mấy bộ áo quần tươm tất hơn, vì giờ đã chẳng còn sợ trộm cướp, để trông cho ra dáng người giàu có như bác bây giờ. Diện bộ áo mới, bác đi về phía thành. Gần cổng lớn có một khu chợ, giữa bao nhiêu cửa hiệu bày đầy lụa là, thảm quý và hàng hoá đủ các xứ, có một cửa hiệu sang trọng hơn cả. Ông chủ hiệu ngồi giữa đống hàng bày biện khéo léo, rít một chiếc tẩu bạc dài. Bác lái buôn rẽ vào đó, lễ phép chào chủ hiệu, ngồi xuống mua mấy món hàng.

Ông chủ hiệu tên là Bi-ca Mun, một tay rất ma mãnh. Trò chuyện với bác lái buôn một lúc, lão đã đoán chắc vị khách này giàu hơn vẻ ngoài, mà lại đang cố giấu điều ấy. Bác mua xong mấy món hàng, lão mời bác ở lại dùng chút gì cho lại sức, và chẳng mấy chốc hai người đã chuyện trò vui vẻ. Giữa câu chuyện, Bi-ca Mun hỏi bác đi đâu. Nghe tên làng, lão bảo:

— Chà, ông đi đường ấy phải cẩn thận đấy. Vùng ấy trộm cướp ghê lắm.

Nghe vậy, bác lái buôn tái mặt. Bác nghĩ, sắp về tới nhà mà bị cướp mất cả gia tài dành dụm bao năm cẩn thận thì cay đắng biết chừng nào. Nhưng ông Bi-ca Mun hoà nhã, giàu có thế kia hẳn là biết rõ hơn ai hết. Lát sau bác nói:

— Thưa ông chủ, ông có thể làm ơn giữ hộ tôi một chiếc hộp nhỏ ít lâu được không? Về tới làng, tôi sẽ dẫn năm sáu người họ hàng khoẻ mạnh tới nhận lại.

Ông chủ hiệu lắc đầu:

— Tôi không làm được. Tôi rất tiếc, nhưng việc ấy không phải nghề của tôi. Tôi ngại nhận lắm.

Bác lái buôn nài nỉ:

— Nhưng tôi chẳng quen ai ở thành này, mà ông thì hẳn phải có chỗ cất những đồ quý của mình. Tôi xin ông, ông làm ơn làm phước giúp tôi việc này.

Bi-ca Mun vẫn lễ phép mà cứng rắn từ chối. Nhưng bác lái buôn thấy mình đã để lộ ra rằng mình giàu hơn vẻ ngoài, lại ngại đi hỏi chỗ khác thì thêm người biết, nên cứ nài mãi, tới khi lão nhận lời. Bác lấy chiếc hộp ngọc nhỏ ra. Bi-ca Mun khoá nó vào một chiếc rương chắc chắn cùng với những viên ngọc quý khác. Rồi hai người chia tay, lời hứa hẹn và lời khen ngợi trao qua đổi lại không ngớt.

Ở một khu chợ phương Đông, cửa hiệu nào cũng mở toang mặt trước, hàng hoá bày không chỉ bên trong mà cả bên ngoài, trên những hiên, những bậc cao hơn mặt đường một chút, nên một cuộc trò chuyện dài như giữa Bi-ca Mun và bác lái buôn không thể không lọt vào mắt những chủ hiệu khác trong con phố hẹp. Giá bác lái buôn biết được rằng gần như chủ hiệu nào trong khu ấy cũng là kẻ cắp, mà tên cáo già nhất, gộc nhất chính là Bi-ca Mun! Nhưng bác không biết. Chỉ có điều bác không khỏi thấy hơi bồn chồn vì đã trao cả gia tài cho một người lạ. Vì thế, khi đi dọc phố, chỗ này mua một món, chỗ kia mua một món, bác khéo léo dò hỏi xem Bi-ca Mun có phải người thật thà không. Tên vô lại nào được hỏi cũng biết câu hỏi ắt có lý do, lại mong được chia phần, nên đều ca ngợi Bi-ca Mun là mẫu mực của mọi đức hạnh.

Thế là nỗi lo của bác lái buôn lắng xuống. Lòng nhẹ nhõm phần nào, bác đi tiếp về làng. Chừng một tuần sau, bác quay lại thành với năm sáu người cháu, người bạn trẻ khoẻ mạnh mà bác rủ đi cùng để giúp mang chiếc hộp quý về.

Tới khu chợ lớn giữa thành, bác để các bạn lại, bảo rằng bác đi lấy hộp ngọc rồi sẽ quay lại với họ. Họ đồng ý, và bác đi. Tới cửa hiệu Bi-ca Mun, bác bước lên chào lão:

— Chào ông chủ.

Nhưng ông chủ làm như không trông thấy. Bác lại chào lần nữa. Bi-ca Mun gắt:

— Anh muốn gì? Anh chào hai lần rồi, sao không nói việc của anh ra?

Bác lái buôn hỏi:

— Ông không nhớ tôi sao?

Lão kia làu bàu:

— Nhớ anh à? Không. Sao tôi phải nhớ? Nhớ khách sộp đã đủ mệt rồi, hơi đâu nhớ hết những thằng ăn mày tới đây rên rỉ xin bố thí.

Nghe vậy, bác lái buôn bắt đầu run lên.

— Ông chủ! Hẳn ông phải nhớ tôi, nhớ chiếc hộp nhỏ tôi gửi ông giữ hộ chứ? Ông đã hứa, phải, ông đã tử tế hứa, rằng tôi được quay lại nhận nó, và...

Bi-ca Mun gầm lên:

— Đồ vô lại! Cút khỏi hiệu tao! Cút đi, đồ mất dạy láo xược! Ai mà chẳng biết tao chẳng bao giờ giữ của cho ai. Giữ của tao đã đủ khổ rồi! Nào, cút!

Nói rồi lão xô bác lái buôn ra khỏi cửa hiệu. Người đàn ông khốn khổ chống cự, thì hai kẻ đứng bên xông vào giúp Bi-ca Mun, quăng bác ra giữa đường như quăng một kiện hàng từ lưng lạc đà xuống. Bác chậm chạp gượng dậy từ đám bụi, người bầm dập, sứt sát, chảy máu, nhưng chẳng thấy đau đớn gì nơi thân thể, chỉ thấy một cảm giác tê dại khủng khiếp: rốt cuộc mình đã khánh kiệt, đã mất hết! Bác chậm chạp lết đi xa thêm một quãng khỏi chỗ lão Bi-ca Mun béo ục, giận dữ vẫn đứng giữa đống lụa là thảm quý bừa bộn. Tới một bức tường, bác ngồi thu lu dựa vào đó, ôm đầu trong hai bàn tay, chìm vào nỗi khổ đau và tuyệt vọng.

Bác ngồi đó bất động như hoá đá, trong khi bóng tối buông xuống quanh mình. Chừng mười một giờ đêm, có một chàng trai trẻ ăn chơi tên là Cu-si Ram đi ngang qua cùng một người bạn. Thấy bác lái buôn ngồi co ro dựa tường, chàng bảo:

— Hẳn là một tên trộm.

Người kia đáp:

— Cậu nhầm rồi. Trộm chẳng ngồi phơi mặt ra trước mắt người ta như thế, kể cả lúc đêm.

Thế rồi hai người đi qua, chẳng nghĩ gì thêm. Khoảng năm giờ sáng hôm sau, Cu-si Ram trên đường về nhà, ngạc nhiên thấy bác lái buôn khốn khổ vẫn ngồi y như mấy tiếng trước. Một người ngồi suốt đêm giữa đường phố thế kia hẳn là có chuyện gì. Cu-si Ram quyết định xem cho ra lẽ. Chàng bước tới, khẽ lay vai bác lái buôn:

— Bác là ai? Bác làm gì ở đây? Bác ốm à?

Bác lái buôn đáp, giọng rỗng không:

— Ốm ư? Phải, ốm một thứ bệnh không có thuốc chữa.

Cu-si Ram kêu lên:

— Ồ, vớ vẩn! Đi với cháu. Cháu nghĩ cháu biết một thứ thuốc chữa được bệnh của bác đấy.

Chàng trai nắm tay bác lái buôn, xốc bác đứng dậy, kéo về chỗ trọ của mình. Trước hết chàng rót cho bác một cốc rượu đầy, rồi cho bác ăn uống lại sức, rồi mới bảo bác kể chuyện mình.

Trong khi ấy, mấy người bạn đồng hành của bác lái buôn ở chợ vốn là những kẻ đần độn. Thấy bác không quay lại, họ nghĩ hẳn bác đã về nhà một mình, nên chờ chán rồi họ cũng về làng, mặc kệ bác tự lo liệu việc mình. Như thế, bác hẳn đã khốn đốn, nếu không có người cứu mình là Cu-si Ram.

Cu-si Ram từ hồi còn bé đã được để lại một gia tài lớn, mà chẳng có ai chỉ bảo cho cách tiêu. Chàng hăng hái, tốt bụng, lại còn tinh khôn nữa. Nhưng chàng vung tiền như nước, thường là cho bất cứ thứ gì hay bất cứ ai gần mình nhất, mà khổ nỗi, người gần mình nhất thường lại chính là mình! Nhưng lần này chàng đã quyết giúp bác lái buôn khốn khổ, và chàng sẽ làm tới nơi tới chốn. Về phần bác lái buôn, bác thấy lòng tin trở lại, chẳng chần chừ, kể hết mọi chuyện đã xảy ra.

Cu-si Ram phá lên cười khi nghe chuyện có người lạ gửi gia tài cho Bi-ca Mun.

— Ô hay, lão là tên vô lại tầm cỡ nhất thành này, trừ phi bác tin những gì vài người kể về cháu! Thôi được, trước mắt chẳng làm được gì, bác cứ ở đây yên ổn. Cháu nghĩ ít lâu nữa cháu sẽ tìm được thuốc chữa bệnh cho bác.

Nghe vậy, bác lái buôn lại vững dạ, lòng thấy dễ chịu đôi chút, biết ơn nhận lời mời của người bạn mới.

Vài hôm sau, Cu-si Ram mời mấy người bạn tới, bàn bạc với họ rất lâu. Bác lái buôn không nghe được họ nói gì, nhưng nghe những tràng cười vang như có chuyện gì buồn cười lắm. Có điều tiếng cười ấy vọng vào lòng bác thật nặng nề, vì càng nghĩ bác càng tuyệt vọng, chẳng bao giờ lấy lại được gia tài từ nanh vuốt của Bi-ca Mun.

Ít lâu sau, một hôm Cu-si Ram tới bảo bác:

— Bác còn nhớ bức tường chỗ cháu tìm thấy bác đêm ấy, gần hiệu Bi-ca Mun không?

— Nhớ chứ.

— Thế thì chiều nay bác tới đứng đúng chỗ ấy mà quan sát. Khi có người ra hiệu cho bác, bác bước tới chỗ Bi-ca Mun, chào lão rồi nói: "Thưa ông chủ, ông làm ơn trả lại cho tôi chiếc hộp tôi gửi ông giữ hộ."

— Nói thế được ích gì? Bây giờ lão cũng chẳng trả, như lần trước tôi hỏi lão đã không trả.

— Bác đừng bận tâm! Cứ làm đúng như cháu bảo, nhắc đúng từng chữ cháu nói, còn lại cháu lo.

Thế là chiều hôm ấy, đúng giờ đã định, bác lái buôn tới đứng cạnh bức tường như được dặn. Bác để ý thấy Bi-ca Mun trông thấy mình, nhưng chẳng ai để ý tới ai. Lát sau, từ phía cuối chợ đi lên một chiếc kiệu lộng lẫy, giống những chiếc kiệu các bà các cô nhà quyền quý vẫn ngồi. Bốn người phu kiệu mặc đồng phục sang trọng khiêng kiệu, rèm và đồ trang trí trên kiệu thật lộng lẫy. Đi bên kiệu là một người dáng vẻ nghiêm trang, bác lái buôn nhận ra là một trong mấy người bạn hay tới thăm Cu-si Ram. Sau ông ta là một người hầu đội trên đầu một chiếc hộp phủ khăn.

Chiếc kiệu được khiêng đi khá nhanh, rồi đặt xuống trước hiệu Bi-ca Mun. Lão chủ hiệu béo ục đứng bật dậy ngay, cúi rạp người khi người đàn ông đi theo kiệu bước tới.

— Xin cho tôi được hỏi, vị nào ngồi trong kiệu đã hạ cố tới thăm cửa hiệu hèn mọn của tôi thế ạ? Và tôi có thể giúp gì cho bà?

Người đàn ông thì thầm gì đó bên rèm kiệu, rồi giải thích rằng đây là một người họ hàng của ông đang đi đường. Chồng bà không đi tiếp cùng bà được nữa, nên bà muốn gửi Bi-ca Mun một hộp châu báu giữ hộ. Ông chủ lại cúi rạp tới đất. Lão bảo việc ấy không hẳn là nghề của lão, nhưng dĩ nhiên, nếu làm vừa lòng được bà, lão sẽ vô cùng sung sướng, và sẽ lấy cả tính mạng ra mà giữ chiếc hộp. Rồi người hầu đội hộp được gọi lại. Chiếc hộp được mở khoá, cả một đống châu báu phơi ra trước con mắt mê mẩn của lão chủ hiệu. Lão lật từng viên ngọc quý, nước miếng tứa ra.

Từ xa, bác lái buôn đã theo dõi hết. Và giờ bác thấy, có phải bác nhìn lầm không? Không, bác thấy rõ ràng một bàn tay đang vẫy qua tấm rèm, ở phía bên kia chiếc kiệu, phía không trông ra cửa hiệu. "Hiệu lệnh! Có phải đó là hiệu lệnh không?" bác nghĩ. Bàn tay lại vẫy, có vẻ sốt ruột lắm. Thế là bác bước tới, thật khẽ khàng, chào Bi-ca Mun lúc ấy đang ngồi lật xem đống của báu trong chiếc hộp kỳ diệu mà vận may và mấy kẻ khờ khạo đang giao cho lão giữ, rồi nói:

— Thưa ông chủ, ông làm ơn trả lại cho tôi chiếc hộp tôi gửi ông giữ hộ.

Lão chủ hiệu ngẩng phắt lên như bị ong đốt. Nhưng trong đầu lão loé lên ý nghĩ rằng nếu gã này lại làm ầm lên thì lão sẽ mất lòng tin của mấy vị khách mới giàu hơn kia. Vì thế lão nén giận, đáp:

— Ôi chao, phải rồi, dĩ nhiên rồi! Tôi quên khuấy mất.

Lão đi lấy chiếc hộp nhỏ, đặt vào đôi tay run rẩy của bác lái buôn. Bác vội rút chiếc chìa khoá đeo bằng sợi dây trên cổ, mở hộp. Thấy của báu của mình còn nguyên cả, bác lao ra giữa đường, kẹp chiếc hộp dưới nách, nhảy múa như người điên, vừa hò hét vừa cười sằng sặc.

Đúng lúc ấy, một người đưa tin chạy tới, chào người đàn ông đi theo kiệu:

— Chồng bà đã về rồi, ông ấy sẵn sàng đi cùng bà, nên chẳng cần gửi châu báu nữa.

Người đàn ông vội đóng chiếc hộp lại, khoá cẩn thận, đưa trả người hầu đang đứng chờ. Bấy giờ từ trong kiệu vang ra một tràng cười như sấm, và nhảy ra ngoài, không phải một bà quý tộc nào, mà là Cu-si Ram. Chàng chạy ngay ra giữa đường nhập bọn với bác lái buôn, nhảy múa điên cuồng chẳng kém gì bác.

Bi-ca Mun đứng ngây ra nhìn hai người. Rồi lão rú lên một tràng cười chói lói, quăng chiếc khăn quấn đầu đi, nhảy phốc ra đường cùng hai người kia, nhảy múa, búng tay tanh tách cho tới khi hết hơi.

Người đàn ông đóng vai người họ hàng đi theo kiệu hỏi:

— Ông chủ, sao ông lại nhảy? Bác lái buôn nhảy vì bác lấy lại được gia tài. Cu-si Ram nhảy vì cậu ta là một gã điên vừa lừa được ông. Còn ông, sao ông lại nhảy?

Bi-ca Mun hổn hển, trừng con mắt đỏ ngầu nhìn ông ta:

— Tôi nhảy vì tôi biết mười ba cách lừa thiên hạ bằng cách giả vờ tin cậy họ. Tôi cứ tưởng chẳng còn cách nào nữa, vậy mà giờ có cách thứ mười bốn! Thế nên tôi nhảy!

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAndrew Lang (1844 – 1912)
Năm mất1912
Xuất bản lần đầu1907
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: truyện dân gian vùng Punjab, Ấn Độ, do thiếu tá Campbell ở Ferozepore ghi lại; dịch từ bản tiếng Anh Diamond cut Diamond, Andrew Lang, The Olive Fairy Book, 1907
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →