Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, có một người đi rừng tên là Xu-ra, sống ở xứ Ca-xi, lên miền núi Tuyết tìm hàng hoá về buôn.
Ở đó có một cái cây mọc cao chừng một người đứng giơ thẳng hai tay lên khỏi đầu, rồi chia làm ba nhánh. Giữa ba chạc cây có một cái hốc to bằng cái vò rượu. Hễ trời mưa là hốc ấy đầy nước. Chung quanh cây có hai bụi cây kha tử và một bụi hồ tiêu mọc lên. Quả chín của chúng, khi bị cắt rụng, đều rơi vào trong hốc.
Không xa cây ấy có lúa mọc hoang. Đàn vẹt hay mổ lấy bông lúa, đậu trên cây mà ăn. Trong lúc chúng ăn, thóc và gạo rơi vào hốc. Thế là nước trong hốc, nhờ hơi nóng mặt trời mà lên men, chuyển sang màu đỏ như máu.
Mùa nóng, những đàn chim khát nước bay tới uống, rồi say, ngã lăn xuống gốc cây. Ngủ một lát, chúng lại bay đi, hót líu lo vui vẻ. Chó rừng, khỉ và những loài khác cũng y như vậy.
Thấy thế, người đi rừng nghĩ: "Nếu đây là thuốc độc thì chúng đã chết. Đằng này ngủ một lát là chúng lại đi đâu tuỳ thích. Thứ này không phải thuốc độc."
Ông uống thử, rồi say. Say rồi, ông thấy thèm ăn thịt. Ông nhóm lửa, bắt những con gà gô, gà rừng nằm say dưới gốc cây mà giết, nướng thịt trên than hồng, rồi một tay khua khoắng, một tay cầm thịt ăn, ở lì tại chỗ ấy một hai ngày.
Không xa nơi ấy có một nhà tu tên là Va-ru-na. Những lần trước người đi rừng cũng hay ghé thăm ông. Bấy giờ ông nghĩ: "Ta sẽ uống thứ nước này với nhà tu."
Ông đổ đầy một ống sậy, mang theo cả thịt nướng, tới túp lều lá, nói:
— Thưa thầy, thầy nếm thử thứ nước này xem.
Thế là cả hai cùng uống và ăn thịt. Vì thứ nước ấy do Xu-ra và Va-ru-na tìm ra, nên người ta gọi nó theo tên của họ, là xu-ra và va-ru-ni, tức là rượu.
Hai người bảo nhau: "Phải làm thế này mới được." Họ đổ đầy những ống sậy, quẩy trên đòn gánh, mang tới một ngôi làng gần đó, rồi sai người báo với nhà vua rằng có mấy người buôn rượu tới. Vua cho gọi họ vào, họ dâng rượu cho vua. Vua uống hai ba lần rồi say. Rượu chỉ đủ cho vua uống một hai ngày. Vua hỏi họ còn nữa không.
— Tâu bệ hạ, còn ạ.
— Ở đâu?
— Tâu bệ hạ, ở trên núi Tuyết.
— Thế thì mang về đây.
Họ đi lấy về hai ba lần. Rồi họ nghĩ: "Chẳng lẽ cứ phải đi mãi lên tận đó." Thế là họ ghi nhớ tất cả các thứ làm nên rượu, bắt đầu từ vỏ cây, rồi bỏ đủ các thứ khác vào, làm rượu ngay trong thành.
Người trong thành uống rượu, hoá thành những kẻ lười biếng khốn khổ. Toà thành trở nên như một thành hoang. Hai người buôn rượu bỏ trốn khỏi đó, tới Ba-la-nại, sai người báo với vua rằng họ đã tới. Vua cho gọi họ vào, trả tiền cho họ, và họ lại làm rượu ở đó. Thế là toà thành ấy cũng tàn lụi như thế.
Họ lại bỏ trốn tới thành Xa-kê-ta, rồi từ Xa-kê-ta tới thành Xá Vệ.
Thuở ấy ở thành Xá Vệ có một vị vua tên là Sáp-ba-mít-ta. Vua đối đãi tử tế với họ, hỏi họ cần gì.
— Tâu bệ hạ, chúng thần cần những thứ nguyên liệu chính, gạo xay và năm trăm cái vò.
Vua cấp cho họ mọi thứ họ xin. Họ đổ rượu vào năm trăm cái vò, và để canh giữ, họ buộc mèo vào, mỗi vò một con.
Khi rượu lên men và bắt đầu trào ra, lũ mèo uống thứ rượu mạnh rỉ ra từ trong vò, say rồi lăn ra ngủ. Bọn chuột kéo tới cắn tai, cắn mũi, cắn răng, cắn đuôi lũ mèo.
Quan quân của vua vào tâu với vua:
— Tâu bệ hạ, lũ mèo uống thứ nước ấy chết cả rồi.
Vua nói:
— Chắc chắn hai đứa này là bọn làm thuốc độc!
Vua ra lệnh chém đầu cả hai. Họ chết, miệng vẫn còn kêu:
— Cho chúng tôi rượu mạnh, cho chúng tôi rượu ngọt!
Giết hai người xong, vua ra lệnh đập vỡ hết các vò rượu.
Nhưng lũ mèo hết say thì đứng dậy, đi lại, nô đùa. Người ta thấy vậy, tâu lên vua. Vua bảo:
— Nếu là thuốc độc thì chúng đã chết. Hẳn đó là rượu ngọt. Ta sẽ uống thử.
Vua cho trang hoàng kinh thành, dựng một cái rạp trong sân cung điện. Ngồi trong cái rạp lộng lẫy, trên ngai vua có lọng trắng che, các quan vây quanh, vua bắt đầu uống rượu.
Bấy giờ Đế Thích, vua cõi trời, tự hỏi: "Có những ai đang chăm chỉ làm tròn ba điều phải, như hiếu thảo với mẹ và những điều tương tự?"
Nhìn xuống cõi người, Đế Thích thấy nhà vua đang ngồi sắp uống rượu. Thần nghĩ: "Nếu ông ta uống rượu thì cả cõi Ấn Độ sẽ tàn lụi. Ta phải làm sao cho ông ta đừng uống."
Thế là Đế Thích đặt một cái vò đầy rượu trên lòng bàn tay, hoá làm một ông bà-la-môn, tới đứng lơ lửng trên không trước mặt nhà vua, rao lớn:
— Mua vò này đi, mua vò này đi!
Vua Sáp-ba-mít-ta thấy ông đứng giữa không trung mà nói như thế thì nghĩ: "Ông bà-la-môn này từ đâu tới?"
Vua cất tiếng hỏi:
— Hỡi đấng từ trên cao xuống, ngài là ai mà thân hình toả ánh sáng rực rỡ, như tia chớp xé ngang bầu trời, như vầng trăng soi sáng đêm đen? Cưỡi trên không trung không lối, đi lại hay đứng yên giữa khoảng không lặng lẽ, quyền phép ngài có được là thật, và chứng tỏ ngài thuộc dòng dõi thần thánh. Vậy hỡi ông bà-la-môn, xin cho biết ngài là ai, và trong vò của ngài đựng thứ gì, mà ngài hiện ra giữa không trung như thế, muốn bán hàng cho tôi?
Đế Thích đáp:
— Vậy thì hãy nghe ta.
Rồi thần kể ra những tai hại của rượu:
— Vò này không đựng dầu, cũng chẳng đựng bơ, không đựng mật ong, cũng chẳng đựng mật mía. Trong cái bầu tròn này cất giữ những thói xấu nhiều không kể xiết. Kẻ nào uống nó, kẻ khốn khổ dại dột ấy sẽ ngã xuống hố, xuống hầm nhơ nhớp, hay lao đầu xuống vũng bùn ghê tởm, rồi ăn cả những thứ mà lúc tỉnh hắn ghê sợ. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua, cái vò đầy ắp rượu mạnh này của ta.
— Kẻ nào uống nó, đầu óc rối bời, như con bò đang gặm cỏ thích đi lang thang, tâm trí vẩn vơ, bất lực, suốt ngày chỉ hát hò nhảy múa. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Kẻ nào uống nó sẽ chạy khắp phố phường chẳng biết xấu hổ là gì, rồi khuya khoắt mới nằm, mê mẩn tới nỗi quên cả lúc nào phải ngả lưng. Kẻ nào uống nó, như người đang hoảng sợ, lảo đảo như không đứng vững, run rẩy lắc đầu lắc tay, như con rối gỗ có người giật dây. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Kẻ uống rượu bị chết cháy trên giường, hoặc thành mồi cho chó rừng, bị bắt làm nô lệ hay bị dẫn đi xử tử, lại còn mất sạch của cải. Kẻ uống rượu chẳng còn biết liêm sỉ, nói những điều tục tĩu, ngồi giữa đám đông mà áo quần xộc xệch, nôn mửa, nhơ nhớp đủ đường. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Kẻ uống rượu thì vênh váo, mắt nhìn chẳng còn rõ, cứ tưởng cả thế gian là của mình, chẳng coi chúa tể nào trên đời ngang hàng với mình. Rượu là thứ khoe khoang kiêu ngạo, một con quỷ con xấu xí, trơ trẽn, hèn nhát, bạn bè của cãi cọ và vu khống, chỗ trú chân của kẻ trộm và kẻ bất lương. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Dù gia đình có giàu có, hưởng kho báu vô kể, làm chủ những gì quý giá nhất của mặt đất, thứ này cũng sẽ phá tan cơ nghiệp. Bạc vàng, đồ đạc trong nhà, bò, ruộng, thóc lúa đầy kho, tất cả, tất cả đều mất sạch. Ta e rằng rượu mạnh đã thành tai hoạ của những nhà giàu có. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Kẻ uống rượu đầy kiêu ngạo, dám mắng nhiếc cả cha mẹ mình, chà đạp cả tình máu mủ ruột rà, làm điều bại hoại luân thường. Người đàn bà uống rượu cũng kiêu căng mắng nhiếc chồng và bố chồng, coi thường cả danh giá dòng dõi, thành nô lệ của sự dại dột. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Kẻ uống rượu dám giết cả một vị tu hành đức hạnh, một vị bà-la-môn chân chính, rồi đời đời phải ân hận việc làm tội lỗi ấy trong những cõi khổ. Kẻ uống rượu phạm tội cả ba đường, trong lời nói, việc làm và ý nghĩ, rồi sa xuống địa ngục, quằn quại vì mọi điều ác mình đã gây ra. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Có người dù được người ta đem cả núi vàng ra xin cũng không chịu, thế mà khi đã say, người ta muốn gì cũng được, lời dối trá tuôn ra dễ dàng. Kẻ uống rượu được sai đi đưa tin, mà nếu bỗng dưng có việc khẩn cấp xảy ra, hắn sẽ thề rằng mình quên mất rồi. Ngay cả những người đứng đắn, khi say rượu cũng thành sỗ sàng. Ngay cả những người khôn ngoan nhất, khi say rượu cũng nói nhảm, ba hoa ngớ ngẩn. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Vì rượu mà người ta nằm vật ra, bụng đói meo, lấy đất trơ trụi làm giường, nằm chen chúc như lợn, một lũ trơ trẽn, chịu đủ mọi nỗi nhục nhã. Như bò bị đánh ngã xuống đất, họ đổ gục thành một đống. Trong rượu mạnh có thứ lửa mà không sức người nào chống nổi. Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Khi mọi người kinh hãi lùi xa thuốc độc như lùi xa rắn độc, thì có anh hùng nào gan dạ tới mức dám lấy thứ nước chết người ấy mà giải khát? Chính vì uống thứ này mà dòng họ An-đa-ca và Vơ-rít-ni, khi đi dạo dọc bờ biển, đã ngã gục, người nọ chết dưới chuỳ của người kia, dù là ruột thịt. Các vị thần say rượu, tâu nhà vua, đã rơi khỏi cõi trời vĩnh cửu, mất hết cả phép thần thông. Vậy thì ai còn dám nếm cái thứ đáng nguyền rủa ấy? Vậy hãy mua đi, hỡi nhà vua.
— Trong vò này chẳng có sữa đông, chẳng có mật ngọt. Nhưng xin hãy luôn nhớ những gì cất giữ trong cái bầu tròn này. Xin hãy mua, hãy mua cái vò của ta, hỡi nhà vua.
Nghe vậy, nhà vua nhận ra nỗi khốn khổ do rượu gây nên. Vui lòng với Đế Thích, vua ca ngợi thần:
— Tôi không có cha mẹ hiền minh để dạy bảo như ngài, nhưng tôi thấy ngài nhân từ và thương xót, luôn tìm kiếm chân lý cao nhất. Vì vậy hôm nay tôi sẽ nghe theo lời ngài. Này, tôi xin dâng ngài năm ngôi làng tốt nhất của tôi, một trăm người hầu gái, bảy trăm con bò, và mười cỗ xe thắng ngựa giống thuần chủng nhất, vì ngài đã khuyên tôi điều có lợi cho chính tôi.
Nghe vậy, Đế Thích hiện nguyên hình vị thần, cho vua biết mình là ai, và đứng giữa không trung mà nói:
— Tâu nhà vua, trăm người hầu ấy cứ để lại cho ngài, cả những ngôi làng, cả những đàn bò cũng thế. Ta chẳng cần những cỗ xe thắng ngựa quý. Tên ta là Đế Thích, chúa tể ba mươi ba cõi trời. Ngài cứ hưởng bơ, cơm, sữa và thịt nấu của ngài, cứ vui lòng mà ăn những chiếc bánh mật. Tâu nhà vua, hãy vui với những chân lý ta vừa giảng, mà đi trên con đường không lỗi lầm, cho tới khi lên được cõi trời.
Khuyên răn nhà vua xong, Đế Thích trở về cõi trời. Nhà vua kiêng rượu, ra lệnh đập vỡ hết các bình chén đựng rượu. Vua nguyện giữ giới, bố thí, và khi mãn đời được sinh lên cõi trời. Nhưng thói uống rượu từ đó vẫn dần dần lan ra khắp cõi Ấn Độ.
Đức Phật kể chuyện này khi năm trăm người đàn bà, bạn của bà Tỳ Xá Khư, lén uống rượu rồi tới nghe giảng mà múa may, cãi cọ ngay trước mặt Ngài. Bà Tỳ Xá Khư hỏi Ngài thói uống rượu bắt đầu từ đâu, và Ngài kể lại chuyện xưa này. Kể xong, Ngài cho biết: nhà vua thuở ấy là A-nan, còn thần Đế Thích chính là Ngài.
— Hết —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích