Truyện Đỉnh

🏰 Cổ tích

Voi trắng của làng thợ mộc

của Kinh Bổn Sinh (Jataka)

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 7.963 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:06Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành…
  2. 2:01Voi cha dặn dò voi con rằng từ nay…
  3. 3:12Người ta liền cho dọn sạch mặt nước, và…
  4. 3:53Không, không phải, các bạn tốt của ta. Ta…
  5. 4:14Vua sai đặt một trăm nghìn đồng tiền cạnh…
  6. 5:52Đúng bảy ngày sau, hoàng hậu sinh được một…
  7. 7:04Voi lập tức lấy vòi vuốt ve đứa bé,…
  8. 8:02Đức Phật kể xong chuyện này thì cho biết:…

Ngày xưa, khi vua Phạm Dự trị vì thành Ba-la-nại, ở không xa kinh thành có một làng thợ mộc, năm trăm người thợ sống ở đó. Họ thường đi thuyền ngược sông, vào rừng đẽo xà, xẻ ván làm nhà. Họ dựng sẵn khung những ngôi nhà một tầng, hai tầng, đánh số từng mảnh gỗ, từ cây cột cái trở đi. Xong, họ chở hết ra bờ sông, chất lên thuyền, rồi chèo xuôi dòng về, ai đặt nhà thế nào thì dựng cho người ấy như thế. Lĩnh tiền công rồi, họ lại ngược sông lấy thêm gỗ. Cứ như thế mà sinh sống.

Một lần, ở chỗ những người thợ đang đẽo gỗ, có một con voi giẫm phải một mảnh gỗ keo nhọn. Mảnh gỗ đâm vào bàn chân, làm chân voi sưng tấy, mưng mủ, đau đớn vô cùng. Đang lúc quằn quại, voi nghe tiếng những người thợ đẽo gỗ. Voi nghĩ: "Có mấy người thợ mộc kia, chắc họ sẽ chữa được cho mình." Thế là voi khập khiễng đi bằng ba chân tới trước mặt những người thợ, rồi nằm xuống gần đó.

Thấy chân voi sưng to, những người thợ lại gần xem, thì ra có mảnh gỗ cắm trong đó. Họ lấy dụng cụ sắc khoét quanh mảnh gỗ, buộc dây vào, kéo tuột ra. Rồi họ trích mủ, rửa bằng nước ấm, chạy chữa cẩn thận. Chẳng bao lâu, vết thương lành hẳn.

Biết ơn được chữa khỏi, voi nghĩ: "Mình giữ được mạng sống là nhờ những người thợ mộc này. Giờ mình phải giúp đỡ họ." Từ đó trở đi, voi nhổ cây giúp họ. Khi họ đẽo gỗ, voi lăn từng khúc gỗ tới. Họ cần rìu, cần đục hay dụng cụ gì, voi cũng mang tới, lấy vòi cuộn thật chặt. Tới bữa, mỗi người thợ mang cho voi một phần cơm, thế là voi có tất cả năm trăm phần.

Con voi ấy có một chú voi con trắng muốt, thuộc giống voi quý, dáng dấp đẹp đẽ vô cùng. Voi cha nghĩ mình nay đã già, nên đưa con tới giúp việc cho những người thợ, để mình được thong thả ra đi. Thế là voi chẳng nói gì với những người thợ, vào rừng dẫn con tới, bảo:

— Đây là con trai tôi. Các anh đã cứu mạng tôi, tôi xin tặng các anh đứa con này để trả công chữa thuốc. Từ nay nó sẽ làm việc cho các anh.

Voi cha dặn dò voi con rằng từ nay con phải làm những việc trước đây cha vẫn làm, rồi để con ở lại với những người thợ, một mình trở về rừng.

Từ đó, voi con làm mọi việc cho những người thợ, chăm chỉ và ngoan ngoãn. Những người thợ cũng nuôi voi con như đã nuôi voi cha, mỗi bữa năm trăm phần cơm.

Làm xong việc, voi con thường xuống sông tắm và đùa nghịch, rồi mới quay về. Lũ trẻ con nhà thợ mộc hay níu vòi voi, bày đủ trò nghịch ngợm với voi cả dưới nước lẫn trên bờ. Vốn những con vật cao quý, dù là voi, là ngựa hay là người, không bao giờ làm bẩn dòng nước. Vì thế khi ở dưới sông, voi con không bao giờ đi tiểu tiện hay đại tiện, mà đợi lên tới bờ mới làm.

Một hôm, mưa lớn ở thượng nguồn, nước lũ cuốn một bãi phân đã khô một nửa của voi con xuống sông. Bãi phân trôi mãi xuống tới bến sông Ba-la-nại, mắc vào một bụi cây. Đúng lúc ấy, những người quản tượng của nhà vua dắt năm trăm con voi xuống sông tắm. Nhưng đàn voi vừa đánh hơi thấy mùi của một con voi cao quý, không con nào dám xuống nước. Con nào con nấy vểnh đuôi lên, bỏ chạy tán loạn.

Những người quản tượng kể lại cho các thầy dạy voi. Các thầy bảo:

— Thế thì hẳn dưới nước phải có gì đó.

Người ta liền cho dọn sạch mặt nước, và thấy cục phân ấy mắc trong bụi cây.

— Thì ra là cái này!

Họ mang tới một cái vò, đổ đầy nước, tán cục phân ấy thành bột hoà vào, rồi vẩy lên mình đàn voi. Tức thì mình voi con nào cũng thơm tho, và cả đàn lập tức xuống sông tắm.

Các thầy dạy voi tâu chuyện ấy lên vua, khuyên vua nên tìm con voi kia về cho mình dùng.

Vua liền xuống bè, cho chèo ngược dòng, tới tận chỗ làng thợ mộc đang làm việc. Voi con đang đùa nghịch dưới sông nghe tiếng trống, liền lên bờ tới đứng cạnh những người thợ. Những người thợ kéo nhau ra đón vua, tâu:

— Tâu bệ hạ, nếu bệ hạ cần đồ gỗ thì cần gì phải thân hành tới đây? Bệ hạ chỉ cần cho người tới lấy mang về là được.

— Không, không phải, các bạn tốt của ta. Ta tới đây không phải vì gỗ, mà vì con voi này.

— Xin dâng bệ hạ!

Nhưng voi con nhất định không chịu nhúc nhích. Vua hỏi:

— Bạn voi ơi, bạn muốn ta làm gì?

— Tâu bệ hạ, xin bệ hạ trả cho những người thợ mộc những gì họ đã tốn cho tôi.

— Ta vui lòng lắm, bạn ạ.

Vua sai đặt một trăm nghìn đồng tiền cạnh đuôi voi, một trăm nghìn cạnh vòi voi, và một trăm nghìn cạnh mỗi bàn chân voi. Nhưng như vậy voi vẫn chưa chịu, nhất định không đi. Vua lại cho mỗi người thợ mộc hai tấm vải, cho mỗi bà vợ thợ một bộ áo, lại không quên cho đủ tiền để nuôi nấng lũ trẻ, những người bạn chơi của voi. Bấy giờ voi mới đưa mắt nhìn lần cuối những người thợ, những người vợ thợ và lũ trẻ, rồi theo nhà vua ra đi.

Vua đưa voi về kinh thành. Cả kinh thành lẫn chuồng voi đều được trang hoàng lộng lẫy. Vua dẫn voi đi một vòng quanh thành trong một cuộc rước long trọng, rồi đưa voi về chuồng, nơi đã được bày biện huy hoàng. Vua làm lễ rưới nước tôn voi làm voi ngự của mình. Vua đối xử với voi như một người bạn, chia cho voi một nửa vương quốc, chăm lo cho voi như chăm lo cho chính bản thân mình. Từ khi có con voi ấy, vua làm chủ được cả cõi Ấn Độ.

Ít lâu sau, đức Bồ Tát đầu thai vào bụng hoàng hậu. Khi hoàng hậu sắp tới ngày sinh nở thì nhà vua băng hà. Mọi người biết rằng nếu voi hay tin nhà vua mất, voi sẽ đau lòng mà chết, nên vẫn chăm sóc voi như cũ, không ai hé răng nửa lời.

Nhưng vua nước láng giềng là vua Kô-sa-la nghe tin vua Ba-la-nại băng hà. Vua nghĩ bụng: "Nước ấy hẳn phải rơi vào tay ta." Thế là vua dẫn một đạo quân hùng hậu tới vây kinh thành. Cổng thành lập tức đóng chặt, và người trong thành gửi lời tới vua Kô-sa-la:

— Hoàng hậu của chúng tôi sắp tới ngày sinh nở. Các nhà chiêm tinh đã đoán rằng bảy ngày nữa hoàng hậu sẽ sinh một hoàng tử. Nếu hoàng hậu sinh con trai, chúng tôi sẽ không nộp nước, mà tới ngày thứ bảy sẽ ra giao chiến. Xin nhà vua hãy chờ cho tới hôm ấy.

Vua Kô-sa-la bằng lòng.

Đúng bảy ngày sau, hoàng hậu sinh được một hoàng tử. Hôm đặt tên, người ta gọi hoàng tử là A-li-na-chít-ta, nghĩa là người được lòng dân, vì họ bảo hoàng tử sinh ra là để chiếm được lòng muôn dân.

Ngay hôm hoàng tử chào đời, người trong thành bắt đầu ra đánh nhau với vua Kô-sa-la. Nhưng không có người cầm đầu, nên dù quân đông, đạo quân cứ núng thế dần. Các quan vào tâu với hoàng hậu:

— Quân ta núng thế thế này, chúng thần e sẽ thua mất. Con voi ngự của nhà vua, người bạn thân nhất của đức vua quá cố, tới nay vẫn chưa được ai cho biết rằng đức vua đã băng hà, rằng đức vua có một hoàng tử vừa ra đời, và rằng vua Kô-sa-la đang kéo quân tới đây giao chiến. Chúng thần có nên nói cho voi biết không?

— Phải, hãy nói cho voi biết.

Hoàng hậu cho mặc áo đẹp cho con, đặt con nằm trong một tấm vải mịn. Rồi bà cùng cả triều đình rời cung điện, vào chuồng voi. Bà đặt đứa bé dưới chân voi, nói:

— Thưa ngài, người bạn của ngài đã mất rồi. Chúng tôi sợ ngài đau lòng mà chết nên không dám nói. Đây là con trai của người bạn ngài. Vua Kô-sa-la đã vây kín kinh thành, đánh nhau với con trai ngài, quân ta đang thua dần. Xin ngài hoặc tự tay giết con trai mình đi, hoặc giành lại vương quốc cho nó!

Voi lập tức lấy vòi vuốt ve đứa bé, nhấc bé đặt lên đầu mình. Rồi voi rên rỉ khóc thương, đặt đứa bé xuống, trao lại vào tay mẹ, nói:

— Tôi sẽ bắt sống vua Kô-sa-la!

Nói rồi, voi vội vã đi ra.

Các quan mặc giáp, khoác yên cương cho voi, mở cổng thành, hộ tống voi ra. Vừa ra khỏi cổng, voi rống lên một tiếng vang trời. Cả đạo quân giặc khiếp vía bỏ chạy, trại quân tan tác. Voi túm lấy búi tóc của vua Kô-sa-la, mang tới trước mặt hoàng tử nhỏ, thả xuống dưới chân hoàng tử. Có người toan xông lên giết vua Kô-sa-la, nhưng voi ngăn lại. Voi tha cho vị vua bị bắt ra về, kèm một lời khuyên:

— Từ nay về sau hãy cẩn trọng, đừng cậy thế mà khinh hoàng tử của chúng ta còn nhỏ tuổi.

Từ đó, quyền cai trị khắp cõi Ấn Độ về tay đức Bồ Tát, không kẻ thù nào dám nổi lên chống lại. Năm lên bảy tuổi, đức Bồ Tát lên ngôi, hiệu là vua A-li-na-chít-ta. Ngài trị nước công minh, và khi hết đời, Ngài được sinh lên cõi trời.

Đức Phật kể xong chuyện này thì cho biết: hoàng hậu thuở ấy là hoàng hậu Ma-da, voi cha là Xá-lợi-phất, còn hoàng tử nhỏ chính là Ngài.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảKinh Bổn Sinh (Jataka)
Xuất bản lần đầu1895
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Alinacitta-Jataka, Jataka số 156, Kinh Bổn Sinh (tạng Pali); dịch từ bản tiếng Anh The Jataka, or Stories of the Buddha's Former Births, tập 2, W. H. D. Rouse dịch, E. B. Cowell chủ biên, 1895
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →