Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Bài thơ hoa cúc

Vương An Thạch ba lần làm khó Tô Đông Pha · Chương 1/3 · của Phùng Mộng Long

⏱ 13 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 13.542 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Rùa biển từng chê ếch đáy giếng, chim bằng…
  2. 3:41Nếu theo lời tướng công, thì chữ "hoạt" là…
  3. 4:57Lão gia ngủ trưa chưa dậy, xin mời ngài…
  4. 6:01Đông Pha vốn là bậc tài tử phong lưu,…
  5. 7:41Đông Pha cười:
  6. 9:20Khi lão thái sư ra nhà, xin báo giúp…
  7. 11:08Ở triều phòng vừa cởi áo chầu, người hầu…
  8. 12:00Tử Chiêm tài cao, đâu có chuyện không kham.…

Chương 1: Bài thơ hoa cúc

Rùa biển từng chê ếch đáy giếng, chim bằng sải cánh bay khắp chân trời. Mạnh còn có kẻ mạnh hơn, chớ đứng trước người mà khoe khoang tự đắc.

Bốn câu thơ ấy khuyên người đời nên khiêm nhường, chớ tự mãn. Người xưa nói rất hay: "Đầy thì chuốc tổn, khiêm thì được ích." Tục ngữ lại có bốn điều chớ dùng cho hết. Bốn điều nào? Thế lực chớ dùng cho hết, phúc chớ hưởng cho hết, lợi chớ chiếm cho hết, thông minh chớ dùng cho hết.

Hãy xem những kẻ có quyền thế bây giờ, chẳng làm việc tốt, cứ tuỳ tính làm càn, hại người hại vật, như rắn độc thú dữ, chẳng ai dám lại gần. Thấy người ta sợ mình, chẳng làm gì được mình, hắn vênh vang đắc ý, tưởng thế là khôn. Nào biết con nước tháng tám dâng cao đến đâu cũng có lúc rút xuống. Giữa ghềnh hiểm sóng dữ, nhân lúc gió xuôi, kéo căng buồm mà phóng tới, sướng thì sướng thật, nhưng chẳng nghĩ đi thì dễ, quay về mới khó. Ngày xưa vua Kiệt, vua Trụ sang đến bậc thiên tử, rốt cuộc kẻ phải trốn chạy đến Nam Sào, người bị bêu đầu trên cờ trắng. Kiệt, Trụ có tội gì? Cũng chẳng qua là cậy sang hiếp hèn, cậy mạnh hiếp yếu, gói lại chỉ là dùng thế lực cho hết mà thôi. Giả như Kiệt, Trụ chỉ là dân thường, liệu có gây được ngần ấy tội ác chăng? Vì thế mới nói thế lực chớ dùng cho hết.

Sao lại nói phúc chớ hưởng cho hết? Thường nói: tiếc áo thì có áo, tiếc cơm thì có cơm. Lại nói: người ta chẳng có thọ yểu, hết lộc thì chết. Đời Tấn có quan thái uý Thạch Sùng đọ giàu với hoàng thân Vương Khải, lấy rượu dội nồi, lấy sáp thay củi, căng màn gấm che đường dài tới năm mươi dặm, nhà xí cũng treo toàn lụa là, hương thơm ngào ngạt. Gia đồng theo hầu đều mặc áo vải hoả hoán, mỗi chiếc đáng nghìn vàng. Mua một người thiếp tốn mười hộc ngọc trai. Về sau ông chết trong tay Triệu vương Luân, đầu lìa khỏi xác. Ấy là cái quả của hưởng phúc quá tay.

Sao lại nói lợi chớ chiếm cho hết? Như kẻ buôn bán, nhầm được mấy đồng về phần mình là mặt mày hớn hở. Nào nghĩ người buôn nhỏ mất mấy đồng ấy thì cả nhà không được bữa no. Ta tham chút lợi cỏn con thì được ích gì? Cho nên nhà Phật khuyên người đời: chịu thiệt một phần, hưởng phúc vô lượng. Có thơ rằng:

Được lợi thì hớn hở mừng, trái ý thì rầu rĩ lo. Chẳng tham lợi thì chẳng lỗ vốn, chẳng vui mà cũng chẳng buồn.

Người kể chuyện xin thưa, ba câu kia đều phải cả rồi. Còn hai chữ thông minh, cầu còn chẳng được, sao lại bảo chớ dùng cho hết? Việc trong thiên hạ nhìn không hết, sách trong thiên hạ đọc không hết, lẽ trong thiên hạ ngẫm không hết. Thà ngây ngô mà hoá thông minh, chớ thông minh mà hoá ngây ngô. Nay xin kể về một người xưa nay thông minh bậc nhất. Ông thông minh cả đời, chỉ ngây ngô một lúc, để lại một câu chuyện đẹp như gấm hoa, làm gương cho lớp hậu sinh hay cậy tài khoe giỏi. Người thông minh bậc nhất ấy là ai?

Ngâm thơ làm phú thứ gì cũng giỏi, nói đùa đố chữ việc gì cũng tinh. Nếu chẳng phải Khổng Tử tái thế, ắt là Nhan Hồi đầu thai.

Chuyện kể rằng thời vua Thần Tông nhà Tống, có một bậc danh nho họ Tô tên Thức, tên chữ là Tử Chiêm, hiệu Đông Pha, người huyện Mi Sơn, châu Mi, đất Tứ Xuyên. Ông thi một lần là đỗ, làm quan đến hàn lâm học sĩ. Người này thiên tư cao diệu, đọc qua là thuộc, mở miệng thành văn. Phong lưu có cái phong thái của Lý Thái Bạch, nhanh nhạy hơn cả Tào Tử Kiến.

Ông là môn hạ của tể tướng Kinh công Vương An Thạch, Kinh công rất trọng tài ông. Nhưng Đông Pha cậy mình thông minh, hay buông lời chế giễu. Kinh công soạn sách Tự thuyết, mỗi chữ giảng ra một nghĩa. Một hôm ông bàn đến chữ "pha" là sườn dốc, chữ ấy gồm bộ "thổ" là đất và chữ "bì" là da, nên bảo rằng sườn dốc là da của đất. Đông Pha cười:

— Nếu theo lời tướng công, thì chữ "hoạt" là trơn, gồm bộ "thuỷ" với chữ "cốt", hẳn là xương của nước!

Một hôm khác, Kinh công lại bàn chữ "nghê" là cá con, gồm bộ "ngư" với chữ "nhi", hẳn là con của cá. Bốn ngựa gọi là "tứ", sâu trời là tằm, người xưa đặt chữ ắt chẳng phải vô nghĩa. Đông Pha chắp tay thưa:

— Chữ "cưu" là chim gáy, gồm chữ "cửu" là chín với chữ "điểu" là chim. Tướng công có biết vì cớ gì không?

Kinh công tưởng thật, vui vẻ xin chỉ giáo. Đông Pha cười:

— Kinh Thi có câu: "Chim gáy đậu cây dâu, con nó có bảy đứa." Bảy con, cộng thêm cha với mẹ, vừa đúng chín con chim!

Kinh công lặng thinh, ghét cái tính khinh bạc ấy, bèn đổi Đông Pha đi làm thứ sử Hồ Châu. Thật là: phải trái chỉ vì lắm miệng, phiền não đều bởi khéo môi.

Đông Pha làm quan ở Hồ Châu ba năm, mãn nhiệm về kinh chầu vua, trọ trong chùa Đại Tướng Quốc. Nghĩ lại ngày trước đắc tội với Kinh công là tự mình chuốc lấy, mà người ta thường nói "chưa vào chầu thiên tử, hãy đến bái tướng công", ông bèn sai người hầu sửa soạn tờ thiếp ghi lý lịch, cưỡi ngựa đến phủ Vương thừa tướng.

Còn cách phủ một tầm tên bắn, Đông Pha xuống ngựa đi bộ. Thấy trước cổng phủ quan lại chờ việc đứng đông nghịt, ông giơ tay hỏi:

— Thưa các vị, lão thái sư có ở trên nhà không?

Quan giữ cửa bước lên đáp:

— Lão gia ngủ trưa chưa dậy, xin mời ngài ngồi tạm ở phòng gác cổng.

Người hầu đem ghế xếp vào phòng gác cổng. Đông Pha ngồi xuống, khép hờ cánh cửa.

Chẳng bao lâu, trong phủ có một thanh niên mới chừng hai mươi tuổi bước ra, đội mũ rộng vành, mặc áo lụa xanh, vung tay thong thả đi xuống thềm. Quan lại đứng đó ai nấy đều cúi mình nhường lối. Người ấy đi từ đông sang tây. Đông Pha sai người hầu đi hỏi xem người vừa ra là ai. Người hầu hỏi rõ rồi về thưa: đó là người coi thư phòng trong phủ thừa tướng, họ Từ.

Đông Pha nhớ ra trong thư phòng của Kinh công có cậu Từ Luân được tin dùng, ba năm trước chưa đến tuổi đội mũ, nay tuy đã đội mũ nhưng mặt mũi vẫn thế. Ông bảo người hầu:

— Đã là Từ quản gia thì chạy theo mời cậu ấy quay lại cho ta.

Người hầu chạy như bay, đuổi kịp Từ Luân. Không dám gọi sau lưng, anh ta vượt lên bên cạnh, buông tay đứng nép bên đường thưa:

— Tiểu nhân là người hầu của Tô gia ở phủ Hồ Châu. Tô gia đang ở phòng gác cổng, mời Từ lão gia đến gặp, có câu chuyện muốn nói.

Từ Luân hỏi:

— Có phải ông Tô râu dài không?

— Chính phải.

Đông Pha vốn là bậc tài tử phong lưu, gặp ai cũng vui vẻ hoà nhã. Xưa nay ông vẫn quý Từ Luân, thường viết quạt tặng cậu. Nghe nói là Tô học sĩ, Từ Luân mỉm cười, quay ngay trở lại.

Người hầu về trước báo Từ quản gia đã đến. Từ Luân vào phòng gác cổng ra mắt, toan quỳ xuống. Đông Pha đưa tay đỡ lại. Từ Luân làm việc trong phủ thừa tướng, coi thư phòng bên trong, quan đầu các phủ châu huyện về kinh bái thừa tướng đều phải báo qua cậu, ai cũng có lễ vật, có thiếp xưng tên. Vậy sao hôm nay gặp ông Tô lại muốn quỳ? Ấy là vì ông Tô ra vào môn hạ thừa tướng đã lâu, còn Từ Luân từ nhỏ đã hầu hạ trong thư phòng, lo việc pha trà, nên coi ông như chủ cũ, nhất thời không làm cao được. Ông Tô cũng giữ thể diện cho cậu, đưa tay đỡ mà nói:

— Từ quản gia, đừng làm lễ ấy.

Từ Luân thưa:

— Phòng gác cổng này đâu phải chỗ Tô gia ngồi. Xin mời vào phủ, sang thư phòng phía đông dùng trà.

Thư phòng phía đông này là thư phòng ngoài của Vương thừa tướng, học trò bạn bè qua lại đều tiếp ở đây. Từ Luân dẫn ông Tô vào, mời ngồi, sai tiểu đồng pha trà ngon hầu, rồi thưa:

— Bẩm Tô gia, tiểu nhân phụng mệnh lão gia sang Thái y viện lấy thuốc, không ở đây hầu được, biết làm sao bây giờ?

Đông Pha bảo:

— Cứ đi lo việc đi.

Từ Luân đi rồi, Đông Pha thấy bốn vách tủ sách đều đóng có khoá, trên án chỉ có bút nghiên, ngoài ra không có gì. Ông mở hộp nghiên ra xem, là một phiến nghiên Đoan Khê màu lục, rất có thần sắc, mực trên nghiên còn chưa khô. Vừa toan đậy lại thì thấy dưới hộp nghiên lòi ra một góc giấy. Đông Pha nhấc hộp lên, là một tờ giấy trắng gấp làm đôi. Mở ra xem, thì ra là bản nháp hai câu thơ chưa xong, nhận ra nét chữ của Kinh công, đề là "Vịnh cúc".

Đông Pha cười:

— Kẻ sĩ xa nhau ba ngày, phải nhìn bằng con mắt khác. Năm xưa ta làm quan ở kinh, ông già này hạ bút mấy nghìn chữ chẳng cần nghĩ ngợi. Ba năm sau đã khác rồi. Đúng là Giang Yêm hết tài, hai câu thơ mà chưa hạ được vần.

Ông đọc một lượt, rồi kêu lên:

— Ô hay, thì ra hai câu thơ này cũng nói bậy!

Hai câu thơ ấy viết thế nào? "Gió tây đêm qua thổi qua vườn, rụng hết hoa vàng, đầy đất vàng."

Vì sao Đông Pha bảo hai câu ấy nói bậy? Một năm bốn mùa, gió mỗi mùa có tên riêng. Mùa xuân là gió hoà, mùa hạ là gió nồm, mùa thu là gió kim, mùa đông là gió bấc. Câu đầu nói gió tây, phương tây thuộc hành kim, gió kim là gió mùa thu. Gió kim nổi lên thì lá ngô đồng úa vàng, trăm hoa tàn rụng. Câu thứ hai nói "rụng hết hoa vàng, đầy đất vàng". Hoa vàng tức là hoa cúc. Hoa này nở giữa thu muộn, tính thuộc hành hoả, dám đọ với sương thu, bền bỉ hơn cả. Mặc cho nó già đến khô héo úa nát, cũng không bao giờ rụng cánh. Nói "rụng hết hoa vàng, đầy đất vàng", chẳng phải là sai sao?

Hứng lên, không kìm được, Đông Pha cầm bút chấm mực, nối theo vần hai câu nữa:

Hoa thu đâu giống hoa xuân rụng, nhắn bảo nhà thơ hãy ngâm cho kỹ.

Viết thì viết rồi, Đông Pha lại thấy ngượng: "Nếu ông già ra thư phòng tiếp ta, trông thấy bài thơ này, nói thẳng vào mặt, thì kẻ hậu bối như ta còn ra thể thống gì." Định nhét vào tay áo mang đi cho mất dấu, lại sợ Kinh công tìm thơ không thấy, liên luỵ đến Từ Luân. Tính đi tính lại không ổn, đành gấp bản thơ lại như cũ, đè dưới hộp nghiên, đậy nắp vào, rồi bước ra khỏi thư phòng.

Ra đến cổng lớn, ông lấy tờ thiếp lý lịch đưa cho quan giữ cửa, dặn:

— Khi lão thái sư ra nhà, xin báo giúp một tiếng, rằng Tô mỗ đã đến chờ hầu khá lâu. Vì mới về kinh, biểu văn chưa thu xếp xong, sáng mai vào chầu dâng biểu rồi sẽ lại đến bái kiến.

Nói rồi cưỡi ngựa về chỗ trọ.

Chẳng bao lâu Kinh công ra nhà. Quan giữ cửa tuy được ông Tô dặn dò, nhưng chẳng có gói quà nào đưa kèm, nên chẳng ai thèm báo. Hắn chỉ nộp tờ thiếp lý lịch cùng sổ khách. Kinh công cũng coi là chuyện thường, chưa kịp xem, trong lòng còn nhớ hai câu thơ vịnh cúc chưa hạ vần. Vừa hay Từ Luân lấy thuốc ở Thái y viện về. Kinh công gọi cậu đem thuốc đặt ở thư phòng phía đông, rồi cũng theo vào. Ngồi xuống, ông nhấc hộp nghiên lên, lấy bản thơ ra xem, hỏi Từ Luân:

— Vừa rồi có ai đến đây?

Từ Luân quỳ xuống thưa:

— Tô gia ở phủ Hồ Châu đến chờ hầu lão gia, có vào đây.

Kinh công nhìn nét chữ, cũng nhận ra là bút tích Tô học sĩ. Miệng không nói gì, trong lòng ngẫm nghĩ: "Thằng ranh Tô Thức này tuy đã bị vấp ngã, cái tính khinh bạc vẫn không đổi! Không biết mình học nông tài mỏng, lại dám đến chê bai lão phu! Sáng mai vào chầu tâu với quan gia, cách chức cho về làm dân."

Lại nghĩ: "Khoan đã. Nó không biết hoa cúc ở Hoàng Châu rụng cánh, cũng chẳng trách nó được."

Ông bảo Từ Luân lấy sổ quan khuyết của vùng Hồ Quảng ra xem, chỉ xem riêng phủ Hoàng Châu. Các chức khác đều có người, chỉ khuyết một chân đoàn luyện phó sứ. Kinh công ghi nhớ trong lòng, rồi sai Từ Luân dán bản thơ lên cột thư phòng.

Sáng hôm sau vào chầu, ông mật tâu với thiên tử rằng Tô Thức tài sức không kham, xin đổi đi làm đoàn luyện phó sứ Hoàng Châu. Quan lại khắp thiên hạ về kinh dâng biểu, kẻ thăng người giáng, ai nấy yên phận. Chỉ có Đông Pha trong lòng không phục. Ông biết rõ là vì sửa thơ mà phạm đến Kinh công, Kinh công lấy việc công trả thù riêng. Nhưng chẳng biết làm sao, cũng đành tạ ơn.

Ở triều phòng vừa cởi áo chầu, người hầu đã báo:

— Thừa tướng gia ra triều.

Đông Pha đứng bên thềm cúi chào. Kinh công ngồi trong kiệu giơ tay bảo:

— Quá trưa lão phu có bữa cơm mời.

Đông Pha vâng lệnh, về chỗ trọ viết thư, sai đám người theo hầu ở Hồ Châu và quản gia trong nha về nhiệm sở cũ đón gia quyến đến Hoàng Châu gặp nhau.

Quá giờ ngọ, Đông Pha mặc áo trắng thắt đai sừng, viết tờ thiếp lý lịch mới với chức đoàn luyện phó sứ Hoàng Châu, cưỡi ngựa đến phủ thừa tướng dự cơm. Lính cửa vào báo. Kinh công dặn mời vào nhà lớn ra mắt, đãi ông theo lễ thầy trò, sai người pha trà. Kinh công mở lời:

— Tử Chiêm phải đổi đi Hoàng Châu là ý của thánh thượng, lão phu thương mà không giúp được. Tử Chiêm chớ trách oan lão phu nhé.

Đông Pha thưa:

— Học trò tự biết tài sức không kham, đâu dám oán lão thái sư.

Kinh công cười:

— Tử Chiêm tài cao, đâu có chuyện không kham. Chỉ là đến Hoàng Châu làm quan, nhàn rỗi không việc gì, vẫn nên đọc sách cho rộng.

Đông Pha mắt đã đọc hết vạn quyển sách, tài vượt nghìn người, nay lại bị khuyên đọc sách cho rộng, thì còn đọc sách gì nữa? Miệng thì cảm tạ:

— Đội ơn lão thái sư chỉ bảo.

Mà trong bụng càng không phục.

Kinh công sống rất kiệm, mâm cơm không quá bốn món, rượu không quá ba chén, cơm không quá một lượt bới. Đông Pha cáo từ, Kinh công tiễn ra tận mép hiên, nắm tay Đông Pha mà rằng:

— Lão phu thuở nhỏ mười năm đèn sách bên cửa sổ, mắc một chứng bệnh, về già phát ra. Thái y viện xem bảo là chứng đờm hoả. Tuy uống thuốc mà khó trừ tận gốc, phải có trà Dương Tiện mới chữa được. Vừa hay đất Kinh Khê tiến cống trà Dương Tiện, thánh thượng đã ban cho lão phu. Lão phu hỏi quan Thái y viện nên pha uống thế nào, quan bảo phải dùng nước khúc giữa của sông Cù Đường. Cù Đường ở đất Thục, lão phu mấy lần định sai người đi lấy mà chưa tiện, lại sợ người mình sai đi chưa chắc đã chu đáo. Đất Thục là quê nhà Tử Chiêm. Nếu gia quyến có dịp qua lại, nhờ lấy giùm một vò nước khúc giữa sông Cù Đường gửi cho lão phu, thì những năm tháng tuổi già của lão phu đều là nhờ Tử Chiêm kéo dài cho cả.

Đông Pha vâng lời, về chùa Tướng Quốc. Hôm sau từ biệt triều đình ra kinh, đêm ngày lên đường đi Hoàng Châu.

Quan lại cả phủ Hoàng Châu biết Đông Pha là tài tử lừng danh thiên hạ, lại là quan hàn lâm bị giáng, nên kéo ra tận ngoài thành đón rước. Chọn ngày lành giờ tốt, ông lên công đường nhận chức. Hơn một tháng sau gia quyến mới tới.

Ở Hoàng Châu, Đông Pha kết bạn với người khách đất Thục là Trần Quý Thường. Hai người chẳng qua leo núi ngắm sông, uống rượu làm thơ, việc quân việc dân không đụng đến mảy may.

— Hết chương 1 —

Mục lục Vương An Thạch ba lần làm khó Tô Đông Pha

  1. 1Bài thơ hoa cúc13 phút
  2. 2Vò nước sông Cù ĐườngĐang thu âm
  3. 3Ba câu đối ở phủ thừa tướngĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảPhùng Mộng Long (1574 – 1646)
Năm mất1646
Xuất bản lần đầu1624
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Cảnh thế thông ngôn 警世通言, quyển 3: 王安石三難蘇學士 (Vương An Thạch tam nan Tô học sĩ), Phùng Mộng Long biên soạn, in năm 1624
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →