Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đêm trước ngày lễ

Vương quốc đàn bà · Chương 1/4 · của Anton Chekhov

⏱ 27 phút🎙️ Giọng Bảo Tú📖 23.159 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Đây là một phong bì tiền dày cộp, do…
  2. 5:34An-na A-ki-mốp-na không ưa, lại còn sợ những dãy…
  3. 16:00Ông Va-xi-li Ni-ki-tích! chị gọi, sau một lúc, giọng…
  4. 17:35Ông viết rằng vợ ông ốm nặng lắm, An-na…
  5. 19:05Nếu ông cho tôi xin giấy và mực, tôi…
  6. 21:03Anh ấy chữa đồng hồ riêng, lúc rảnh rỗi…
  7. 24:34Người thợ ngạc nhiên nhìn cô, mỉm cười ngượng…
  8. 25:50Phải, phải thú nhận rằng việc làm từ thiện…

Chương 1: Đêm trước ngày lễ

Đây là một phong bì tiền dày cộp, do viên quản lý khu rừng ngoài trại gửi về. Ông ta viết rằng ông gửi một nghìn rưởi rúp, số tiền ông đòi được của ai đó sau khi thắng kiện ở toà phúc thẩm. An-na A-ki-mốp-na không ưa, lại còn sợ những chữ như «đòi được» hay «thắng kiện». Cô biết rằng không có toà án thì không xong, nhưng chẳng hiểu sao, mỗi lần ông giám đốc nhà máy Na-da-rứt hay viên quản lý ngoài trại, những người hay kiện tụng, thắng được một vụ nào đó có lợi cho cô, thì cô lại thấy rờn rợn và như thể hổ thẹn. Lúc này cũng vậy, cô thấy rờn rợn và ngượng ngùng, muốn cất một nghìn rưởi rúp ấy đi đâu thật xa cho khuất mắt.

Cô bực bội nghĩ: những cô gái bằng tuổi cô, mà cô thì đã bước sang tuổi hai mươi sáu, giờ này đang tất bật lo việc nhà, mệt rồi sẽ ngủ say, và sáng mai thức dậy với một tâm trạng ngày hội; nhiều người trong số họ đã lấy chồng từ lâu và đã có con. Chỉ mình cô, chẳng hiểu sao, lại phải như một bà già, ngồi bên đống thư này, đánh dấu vào từng lá, viết thư trả lời, rồi suốt buổi tối cho đến nửa đêm chẳng làm gì cả, chỉ chờ lúc buồn ngủ; ngày mai thì suốt cả ngày người ta sẽ đến chúc mừng và xin xỏ cô, ngày kia thế nào ở nhà máy cũng xảy ra một vụ tai tiếng nào đó, có người bị đánh, hoặc có người chết vì rượu, và chẳng hiểu sao lương tâm cô sẽ bị dằn vặt; sau mấy ngày lễ, ông Na-da-rứt sẽ đuổi việc chừng hai chục người vì tội bỏ làm, và cả hai chục người ấy sẽ đầu trần đứng nép quanh bậc thềm nhà cô, còn cô thì ngượng không dám bước ra gặp họ, và người ta sẽ đuổi họ đi như đuổi chó. Và tất cả những người quen sẽ nói sau lưng cô, sẽ viết thư nặc danh bảo cô là triệu phú, là kẻ bóc lột, rằng cô ăn bám đời người khác, hút máu thợ thuyền.

Kia, để riêng một bên là một xấp thư đã đọc và đã gạt ra. Đó là thư của những người xin trợ cấp. Ở đấy có người đói, người say, người còng lưng vì gia đình đông con, người ốm, người bị lăng nhục, người không được ai công nhận… An-na A-ki-mốp-na đã đánh dấu trên từng lá thư, người này ba rúp, người kia năm rúp; ngay hôm nay những lá thư này sẽ được chuyển ra văn phòng, và ngày mai ở đó sẽ phát tiền trợ cấp, hay như các nhân viên vẫn gọi, là giờ cho thú ăn.

Người ta cũng sẽ chia lẻ ra mà phát nốt bốn trăm bảy mươi rúp, tiền lãi của số vốn mà ông A-kim I-va-nư-ch quá cố để lại làm phúc cho người nghèo khổ, tàn tật. Sẽ có một cảnh chen lấn nhốn nháo, khó coi. Từ cổng đến cửa văn phòng sẽ kéo dài một hàng dằng dặc những người lạ, mặt mũi như thú, rách rưới, rét run, đói khát và đã ngà ngà say, khàn giọng nhắc đến bà mẹ ân nhân An-na A-ki-mốp-na cùng song thân của cô; kẻ đứng sau sẽ đẩy kẻ đứng trước, kẻ đứng trước sẽ chửi những câu tục tĩu. Anh thư ký văn phòng, chán ngấy tiếng ồn, tiếng chửi bới, tiếng than van, sẽ nhảy bổ ra tát tai một người nào đó cho mọi người được hả dạ. Còn người nhà, những người thợ, những người dịp lễ chẳng được gì ngoài đồng lương và đã tiêu sạch đến đồng kô-pếch cuối cùng, sẽ đứng giữa sân mà nhìn và cười khẩy, kẻ thì vì ghen tị, kẻ thì vì mỉa mai.

«Các nhà buôn, nhất là các bà chủ buôn, thích người ăn mày hơn là thích thợ của mình, An-na A-ki-mốp-na nghĩ. Bao giờ cũng thế».

Mắt cô dừng lại trên chiếc phong bì đựng tiền. Giá mà ngày mai đem số tiền vô dụng, đáng ghét này phát cho thợ thì hay biết mấy, nhưng không thể cho thợ thuyền cái gì không công được, kẻo lần sau họ lại đòi. Mà một nghìn rưởi rúp thì thấm vào đâu, khi cả nhà máy có hơn một nghìn tám trăm người thợ, chưa kể vợ con họ? Hay là chọn lấy một người trong số những người viết thư xin kia, một kẻ bất hạnh nào đó đã từ lâu mất hết hy vọng vào một cuộc đời khá hơn, mà đưa cho người ấy cả một nghìn rưởi rúp. Người nghèo ấy sẽ choáng váng vì số tiền như bị sét đánh, và có lẽ lần đầu tiên trong đời sẽ thấy mình sung sướng. Ý nghĩ ấy có vẻ độc đáo và vui vui đối với An-na A-ki-mốp-na, và nó làm cô khuây khoả. Cô rút hú hoạ trong xấp thư ra một lá và đọc. Một viên thư ký cấp tỉnh nào đó tên là Cha-li-cốp đã thất nghiệp từ lâu, đau ốm và đang ở trọ trong nhà Gu-sin; vợ mắc bệnh lao, năm đứa con gái còn nhỏ dại. Ngôi nhà bốn tầng của ông Gu-sin, nơi Cha-li-cốp ở, An-na A-ki-mốp-na biết rõ lắm. Chao ôi, một ngôi nhà tồi tệ, mục nát, độc hại!

— Mình sẽ cho ông Cha-li-cốp này, cô quyết định. Không gửi đâu, tốt nhất là tự mình mang đến, để khỏi lắm lời ra tiếng vào. Phải, cô vừa nhét một nghìn rưởi rúp vào túi vừa ngẫm nghĩ, mình sẽ đến xem, rồi có khi gửi gắm mấy đứa bé gái vào đâu đó.

Cô thấy vui hẳn lên, bấm chuông gọi người, bảo thắng ngựa vào xe.

Lúc cô ngồi lên xe trượt tuyết thì đã hơn sáu giờ tối. Cửa sổ tất cả các dãy xưởng đều sáng rực đèn, vì thế khoảng sân mênh mông trông lại càng tối. Ở cổng và tít sâu trong sân, bên các nhà kho và các lán của thợ, những ngọn đèn điện đang sáng.

An-na A-ki-mốp-na không ưa, lại còn sợ những dãy xưởng, nhà kho, những dãy lán tối tăm, u ám, nơi thợ thuyền ở. Từ khi bố mất, cô chỉ vào xưởng chính có một lần. Những trần nhà cao với những xà sắt, vô số những bánh xe khổng lồ quay tít, những dây cu-roa và đòn bẩy, tiếng xì xì chói tai, tiếng thép rít, tiếng xe goòng loảng xoảng, hơi nước thở phì phò, những gương mặt tái nhợt hoặc đỏ tía hoặc đen nhẻm bụi than, những chiếc áo ướt đẫm mồ hôi, ánh thép, ánh đồng, ánh lửa loé lên, mùi dầu mỡ và mùi than, và một luồng gió lúc thì rất nóng, lúc lại lạnh, tất cả để lại trong cô ấn tượng về địa ngục. Cô có cảm giác những bánh xe, những đòn bẩy, những xi-lanh nóng bỏng rít lên kia đang tìm cách bứt khỏi chỗ buộc để tiêu diệt con người, còn con người, mặt mũi lo âu, chẳng nghe thấy nhau, cứ chạy ngược chạy xuôi quanh máy móc, cố chặn đứng cái chuyển động khủng khiếp của chúng. Người ta chỉ cho An-na A-ki-mốp-na xem cái gì đó và giảng giải một cách cung kính. Cô còn nhớ ở phân xưởng rèn, người ta lôi từ trong lò ra một khối sắt nung đỏ, và một ông già có buộc sợi dây da quanh đầu cùng một người trẻ mặc áo xanh, có sợi dây xích nhỏ trên ngực, mặt cau có, có lẽ là một tay đốc công, đập búa vào khối sắt, và những tia lửa vàng toé ra tứ phía, rồi lát sau, họ làm rung lên ầm ầm trước mặt cô một tấm sắt lá khổng lồ; ông già đứng nghiêm và mỉm cười, còn người trẻ thì lấy tay áo lau gương mặt ướt đẫm và giảng giải cho cô điều gì đó. Cô còn nhớ ở một phân xưởng khác, một ông già chột mắt đang cưa một thỏi sắt, mạt sắt rơi lả tả, và một anh tóc hung đeo kính râm, áo thủng lỗ chỗ, đang đứng bên máy tiện làm một vật gì đó từ một thỏi thép; chiếc máy gầm lên, rít lên, huýt lên, còn An-na A-ki-mốp-na thấy buồn nôn vì tiếng ồn ấy, tưởng như có ai đang khoan vào tai mình. Cô nhìn, cô nghe, cô không hiểu, cô mỉm cười hoà nhã, và cô thấy xấu hổ. Sống và kiếm hàng trăm nghìn rúp nhờ một việc mà mình không hiểu và không thể yêu được, sao mà lạ lùng!

Còn những dãy lán của thợ thì cô chưa đến lần nào. Nghe nói ở đó ẩm thấp, đầy rệp, trụy lạc, vô kỷ cương. Lạ lùng thay: mỗi năm hàng nghìn rúp được chi ra để sửa sang các lán thợ, ấy vậy mà nếu tin vào những lá thư nặc danh, thì đời sống của thợ năm sau lại tệ hơn năm trước…

«Hồi bố còn sống thì có nề nếp hơn, An-na A-ki-mốp-na nghĩ khi xe ra khỏi sân, vì bố vốn là thợ và biết cần phải làm gì. Còn mình thì chẳng biết gì cả, chỉ toàn làm những chuyện ngớ ngẩn».

Cô lại thấy buồn chán, và cô đã không còn vui vì mình đi chuyến này nữa, và ý nghĩ về một người may mắn được một nghìn rưởi rúp từ trên trời rơi xuống cũng không còn có vẻ độc đáo và vui vui nữa. Đi đến nhà một ông Cha-li-cốp nào đó, trong khi ở nhà cả một cơ nghiệp triệu bạc đang dần dần sụp đổ, và thợ thuyền trong những dãy lán sống còn tệ hơn tù khổ sai, thì đó là làm chuyện ngớ ngẩn và lừa dối lương tâm mình. Trên đường cái và băng qua cánh đồng bên đường, từng đoàn thợ từ các xưởng bên cạnh, xưởng vải hoa và xưởng giấy, đang kéo về phía ánh đèn thành phố. Trong không khí lạnh giá vang lên tiếng cười và tiếng chuyện trò vui vẻ. An-na A-ki-mốp-na nhìn những người đàn bà và những đứa trẻ, và cô bỗng thấy thèm cái giản dị, cái thô ráp, cái chật chội. Cô hình dung rõ ràng cái thuở xa xưa khi người ta gọi cô là A-niút-ca, khi cô còn bé tí, nằm chung một tấm chăn với mẹ, còn bên cạnh, ở phòng kia, một chị thợ giặt ở trọ đang giặt quần áo, và từ những căn hộ bên cạnh, qua những bức tường mỏng, vọng sang tiếng cười, tiếng chửi, tiếng trẻ con khóc, tiếng phong cầm, tiếng máy tiện và máy khâu rè rè, còn bố, ông A-kim I-va-nư-ch, người thạo gần hết mọi nghề, chẳng đoái hoài gì đến cảnh chật chội và ồn ào, đang ngồi hàn cái gì đó bên bếp lò, hoặc vẽ, hoặc bào. Và cô muốn được giặt giũ, là quần áo, chạy ra hiệu tạp hoá, ra quán rượu, như cô vẫn làm mỗi ngày hồi còn sống với mẹ. Giá mà cô là một cô thợ, chứ không phải là bà chủ! Ngôi nhà lớn của cô với những chùm đèn và những bức tranh, anh hầu Mi-sen-ca mặc áo đuôi tôm với bộ ria nhung, bà Va-va-ru-sca đạo mạo và bà A-ga-phiu-sca xu nịnh, và những người trẻ cả nam lẫn nữ gần như ngày nào cũng đến xin tiền cô, mà trước họ, chẳng hiểu sao lần nào cô cũng thấy mình có lỗi, và những viên chức, những bác sĩ, những bà lớn làm từ thiện bằng tiền của cô, nịnh nọt cô mà trong thâm tâm lại khinh cô vì xuất thân thấp hèn, tất cả những thứ ấy sao mà đã nhàm chán và xa lạ với cô đến thế!

Kia là chỗ đường sắt chắn ngang và trạm gác cửa ô; nhà cửa bắt đầu xen lẫn với vườn rau; và kia, rốt cuộc, là con phố rộng nơi có ngôi nhà nổi tiếng của ông Gu-sin. Con phố, thường ngày vốn yên tĩnh, giờ đây nhân đêm trước ngày lễ nên rất đông đúc. Trong các quán rượu, quán bia ồn ào náo nhiệt. Nếu lúc này có một người lạ, sống ở trung tâm thành phố, đi ngang qua đây, thì người ấy chỉ thấy toàn những kẻ bẩn thỉu, say sưa, chửi bới; nhưng An-na A-ki-mốp-na, sống ở vùng này từ thuở nhỏ, lúc này nhận ra trong đám đông khi thì người bố đã khuất của mình, khi thì mẹ, khi thì ông bác. Bố là một tâm hồn mềm mỏng, dễ dãi, hơi mơ mộng, vô tư lự và nhẹ dạ; ông chẳng ham tiền, cũng chẳng ham danh vọng hay quyền lực; ông bảo người thợ chẳng có thì giờ mà để ý đến ngày lễ hay đi nhà thờ; và giá không có vợ thì có lẽ ông chẳng bao giờ ăn chay xưng tội, và mùa chay vẫn ăn mặn. Còn ông bác, ông I-van I-va-nư-ch, thì ngược lại, là một hòn đá lửa; trong tất cả những gì liên quan đến tôn giáo, chính trị và đạo đức, ông khắt khe và không gì lay chuyển nổi, và ông không chỉ để mắt đến bản thân mình mà còn để mắt đến tất cả nhân viên và người quen. Xưa kia, lạy Chúa, đừng có ai bước vào phòng ông mà không làm dấu thánh! Toà dinh thự xa hoa mà giờ đây An-na A-ki-mốp-na đang ở, ông luôn khoá kín, chỉ mở ra vào những ngày đại lễ để đón những vị khách quan trọng, còn bản thân ông thì sống trong văn phòng, trong một căn phòng nhỏ treo đầy ảnh thánh. Ông ngả về đạo cũ, thường xuyên tiếp đón các giám mục và linh mục phái Cựu tín đồ, tuy chính ông đã chịu phép rửa tội và làm lễ cưới theo nghi thức Chính thống giáo, và đã chôn cất vợ theo nghi lễ của nhà thờ Chính thống. Người em là A-kim, người thừa kế duy nhất của ông, thì ông không ưa vì cái tính nhẹ dạ mà ông gọi là ngờ nghệch, là ngu dại, và vì sự thờ ơ với đạo. Ông bắt em sống kham khổ, coi như một người thợ, trả cho mười sáu rúp một tháng. A-kim xưng hô với anh mình bằng «ngài», và vào những ngày lễ tha thứ, cả gia đình ông phải quỳ lạy dưới chân anh. Nhưng chừng ba năm trước khi chết, ông I-van I-va-nư-ch kéo em lại gần, tha thứ cho em và ra lệnh thuê một cô gia sư cho bé A-niút-ca.

Cái cổng tò vò dưới ngôi nhà Gu-sin tối om, sâu hun hút, hôi thối; có tiếng những người đàn ông ho khục khặc bên chân tường. Để xe trượt lại ngoài phố, An-na A-ki-mốp-na đi vào sân và hỏi đường đến phòng số bốn mươi sáu, chỗ ông viên chức Cha-li-cốp. Người ta chỉ cô đến cánh cửa ngoài cùng bên phải, lên tầng ba. Cả trong sân, cả bên cánh cửa ngoài cùng, thậm chí trên cầu thang, đều phảng phất cái mùi khó chịu y như dưới cổng tò vò. Thuở nhỏ, khi bố An-na A-ki-mốp-na còn là một người thợ bình thường, cô đã từng sống trong những ngôi nhà như thế này, và về sau, khi hoàn cảnh đã đổi khác, cô vẫn thường lui tới với tư cách nhà từ thiện; cái cầu thang đá hẹp với những bậc cao, bẩn thỉu, mỗi tầng lại ngắt quãng bằng một chiếu nghỉ; ngọn đèn lồng nhớp mỡ ở khoảng giữa cầu thang; mùi hôi thối, những cái chậu, những cái nồi, những mớ giẻ rách nơi chiếu nghỉ bên các cửa, tất cả đã quen thuộc với cô từ lâu lắm… Một cánh cửa mở toang, qua đó có thể thấy những bác thợ may Do Thái đội mũ, ngồi trên bàn mà khâu. Trên cầu thang, An-na A-ki-mốp-na gặp nhiều người, nhưng cô không hề nghĩ rằng họ có thể làm hại mình. Những người thợ, những bác nông dân, tỉnh hay say, cô đều chẳng sợ, cũng như chẳng sợ những người quen có học của mình.

Căn hộ số bốn mươi sáu không có tiền sảnh, bước vào là đến ngay gian bếp. Thường thì trong nhà thợ thuyền và thợ thủ công phảng phất mùi sơn, mùi nhựa thông, mùi da thuộc, mùi khói, tuỳ theo nghề của chủ nhà; còn nhà của những gia đình quý tộc sa sút và những viên chức nghèo thì nhận ra ngay bởi cái mùi chua chua ẩm mốc của một thứ a-xít gì đó. Cái mùi khó chịu ấy cũng xộc vào mũi An-na A-ki-mốp-na ngay khi cô vừa bước qua ngưỡng cửa. Trong góc, bên chiếc bàn, một người đàn ông mặc áo choàng đen ngồi quay lưng ra cửa, hẳn là chính ông Cha-li-cốp, cùng với năm đứa bé gái. Đứa lớn nhất, mặt bè, gầy gò, cài chiếc lược trên tóc, trông chừng mười lăm tuổi, còn đứa nhỏ nhất, mũm mĩm, tóc dựng ngược như lông nhím, không quá ba tuổi. Cả sáu người đang ăn. Bên bếp lò, tay cầm cái chạc cời nồi, là một người đàn bà nhỏ thó, rất gầy, mặt vàng vọt, mặc váy và áo cánh trắng, đang mang thai.

— Bố không ngờ con lại hư đến thế, Li-dô-sca ạ, người đàn ông nói giọng trách móc. Ái chà, xấu hổ quá! Vậy là con muốn bố đánh đòn con, phải không?

Thấy một bà lạ đứng ở ngưỡng cửa, người đàn bà gầy gò giật mình, buông cái chạc cời nồi.

— Ông Va-xi-li Ni-ki-tích! chị gọi, sau một lúc, giọng khàn đục, như không tin vào mắt mình.

Người đàn ông ngoái lại rồi đứng bật dậy. Đó là một người xương xẩu, vai hẹp, thái dương hõm, ngực lép. Mắt ông ta nhỏ, sâu hoắm, có quầng thâm, mũi dài như mỏ chim, hơi lệch sang phải, miệng rộng. Bộ râu ông ta chẻ đôi, ria thì cạo nhẵn, và vì thế trông ông giống một tên hầu đánh xe hơn là một viên chức.

— Ông Cha-li-cốp ở đây phải không ạ? An-na A-ki-mốp-na hỏi.

— Thưa đúng thế ạ, Cha-li-cốp nghiêm nghị đáp, nhưng ngay lập tức nhận ra An-na A-ki-mốp-na và kêu lên: Bà Gla-gô-lê-va! Bà An-na A-ki-mốp-na! rồi bỗng nghẹn thở, vung hai tay lên như kinh hoàng tột độ. Ân nhân của chúng con!

Rên lên một tiếng, ông ta chạy đến bên cô, và ú ớ như người bại liệt, trên râu còn dính cọng bắp cải, người sực mùi vốt-ca, ông áp trán vào chiếc bao tay lông của cô và như đứng sững lại.

— Bàn tay! Bàn tay thánh thiện! ông ta nói, hổn hển. Một giấc mơ! Một giấc mơ tuyệt đẹp! Các con ơi, đánh thức bố dậy!

Ông ta quay về phía bàn ăn, giơ hai nắm đấm lên, nói bằng giọng nức nở:

— Thượng đế đã nghe thấy lời chúng ta! Người cứu tinh của chúng ta đã đến, thiên thần của chúng ta! Chúng ta được cứu rồi! Các con, quỳ xuống! Quỳ xuống!

Bà Cha-li-cốp và mấy đứa con gái, trừ đứa bé nhất, chẳng hiểu để làm gì, vội vàng dọn bàn.

— Ông viết rằng vợ ông ốm nặng lắm, An-na A-ki-mốp-na nói, và cô thấy ngượng và bực.

«Một nghìn rưởi rúp thì mình sẽ không cho ông ta đâu», cô nghĩ.

— Vợ con đây ạ! Cha-li-cốp nói bằng một giọng the thé như đàn bà, như thể nước mắt dâng lên tận óc. Người đàn bà bất hạnh đây! Một chân đã ở dưới mồ! Nhưng, thưa bà, chúng con không oán thán. Chết còn hơn sống thế này. Chết đi, người đàn bà bất hạnh!

«Sao ông ta làm bộ làm tịch thế nhỉ? An-na A-ki-mốp-na bực mình nghĩ. Thấy ngay là quen giao thiệp với bọn nhà buôn rồi».

— Xin ông cứ nói chuyện với tôi như người bình thường, cô nói. Tôi không thích diễn trò.

— Vâng, thưa bà, năm đứa trẻ mồ côi quanh quan tài người mẹ, bên những ngọn nến đám ma, thì đấy là diễn trò! Chao ôi! Cha-li-cốp nói đầy cay đắng và quay mặt đi.

— Im đi! người vợ thì thào, giật tay áo chồng. Nhà con bừa bộn quá, thưa bà, chị quay sang An-na A-ki-mốp-na, xin bà thứ lỗi cho… Chuyện gia đình mà, bà biết đấy ạ. Chật chội nhưng mà êm ấm.

«Mình sẽ không cho họ một nghìn rưởi đâu», An-na A-ki-mốp-na lại nghĩ.

Và để mau thoát khỏi những con người này và khỏi cái mùi chua chua kia, cô đã lấy ví ra và định để lại hai mươi lăm rúp, không hơn; nhưng bỗng cô thấy ngượng vì đã đi một quãng đường xa đến thế và làm phiền người ta vì một chuyện vặt.

— Nếu ông cho tôi xin giấy và mực, tôi sẽ viết ngay cho một bác sĩ quen thân của tôi, nhờ ông ấy đến khám cho nhà, cô nói, đỏ mặt. Bác sĩ giỏi lắm. Còn tiền thuốc thì tôi sẽ để lại.

Bà Cha-li-cốp vội vàng lau bàn.

— Chỗ này bẩn! Đi đâu thế? Cha-li-cốp rít lên, nhìn vợ hằn học. Đưa bà sang phòng ông thuê trọ! Xin mời bà sang phòng ông thuê trọ, con xin mạn phép mời bà, ông ta quay sang An-na A-ki-mốp-na. Bên ấy sạch sẽ.

— Chú Ô-xíp I-lích không cho vào phòng chú ấy đâu! một đứa bé gái nói giọng nghiêm khắc.

Nhưng người ta đã dẫn An-na A-ki-mốp-na ra khỏi bếp, qua một gian phòng hẹp làm lối đi, giữa hai chiếc giường; nhìn cách trải chăn đệm thì thấy trên một giường có hai người nằm dọc, còn giường kia có ba người nằm ngang. Gian phòng tiếp đó, phòng của người thuê trọ, quả thật sạch sẽ. Một chiếc giường gọn gàng với tấm chăn len đỏ, cái gối bọc áo trắng, thậm chí có cả chiếc giá treo đồng hồ hình chiếc giày nhỏ, một chiếc bàn trải khăn gai, trên bàn có lọ mực màu trắng sữa, ngòi bút, giấy, những tấm ảnh lồng khung, tất cả đâu ra đấy, và một chiếc bàn khác, màu đen, trên đó xếp ngay ngắn những dụng cụ chữa đồng hồ và những chiếc đồng hồ tháo rời. Trên tường treo những cái búa, cái kìm, mũi khoan, cái đục, kìm dẹt và đủ thứ, lại treo ba chiếc đồng hồ tường đang tích tắc; một chiếc to tướng, có những quả nặng nặng trịch, như loại vẫn treo ở các quán rượu.

Vừa bắt đầu viết thư, An-na A-ki-mốp-na thấy trên bàn trước mặt mình tấm ảnh của bố cô và tấm ảnh của chính cô. Điều đó làm cô ngạc nhiên.

— Ai ở đây thế? cô hỏi.

— Thưa bà, người ở trọ, anh Pi-mê-nốp. Anh ấy làm ở nhà máy của bà.

— Thế à? Thế mà tôi cứ tưởng là một ông thợ đồng hồ.

— Anh ấy chữa đồng hồ riêng, lúc rảnh rỗi thôi ạ. Chơi cho vui ạ.

Sau một lúc im lặng, khi chỉ còn nghe tiếng đồng hồ tích tắc và tiếng ngòi bút sột soạt trên giấy, Cha-li-cốp thở dài và nói, giọng giễu cợt, phẫn uất:

— Người ta nói thật chẳng sai: dòng dõi quý tộc với phẩm hàm thì chẳng may được cái áo lông. Phù hiệu trên trán, danh hiệu cao quý, mà chẳng có gì ăn. Theo con thì một người xuất thân thấp hèn mà giúp đỡ người nghèo còn cao quý hơn nhiều so với một kẻ như Cha-li-cốp, chìm ngập trong nghèo khổ và tội lỗi.

Để nịnh An-na A-ki-mốp-na, ông ta còn nói thêm mấy câu nữa xúc phạm đến dòng dõi quý tộc của mình, và rõ ràng là ông tự hạ mình xuống chính vì ông cho rằng mình cao hơn cô. Trong khi đó cô đã viết xong thư và dán lại. Lá thư sẽ bị vứt đi, còn tiền thì sẽ chẳng được tiêu vào việc chữa bệnh, cô biết thế, nhưng dù sao cô vẫn đặt lên bàn hai mươi lăm rúp, và nghĩ ngợi một chút, cô đặt thêm hai tờ giấy bạc đỏ nữa. Bàn tay gầy gò, vàng vọt của bà Cha-li-cốp, trông như cái chân gà, loáng qua trước mắt cô và nắm chặt lấy tiền trong nắm tay nhỏ.

— Đấy là bà có lòng cho tiền thuốc, Cha-li-cốp nói, giọng run run, nhưng xin bà cũng chìa bàn tay cứu giúp cho con… và cho các con của con, ông ta nói thêm và nức nở, những đứa con bất hạnh! Con chẳng sợ cho mình, con sợ cho các con gái! Con sợ con quái vật trụy lạc!

Đang cố mở chiếc ví bị hỏng khoá, An-na A-ki-mốp-na bối rối, đỏ mặt. Cô thấy xấu hổ vì người ta đứng trước mặt cô, nhìn vào tay cô mà chờ đợi, và có lẽ trong thâm tâm đang cười cô. Đúng lúc ấy có ai bước vào bếp, giậm giậm chân cho rơi tuyết.

— Người ở trọ về rồi, bà Cha-li-cốp nói.

An-na A-ki-mốp-na càng bối rối hơn. Cô không muốn bất kỳ ai ở nhà máy bắt gặp mình trong cái cảnh buồn cười này. Như cố tình, người ở trọ bước vào phòng đúng lúc cô, sau khi rốt cuộc đã bẻ gãy cái khoá, đang đưa cho Cha-li-cốp mấy tờ giấy bạc, còn Cha-li-cốp thì ú ớ như người bại liệt, môi tìm xem nên hôn vào chỗ nào trên người cô. Ở người ở trọ, cô nhận ra người thợ đã có lần ở phân xưởng rèn làm rung lên ầm ầm tấm sắt lá trước mặt cô và giảng giải cho cô. Rõ ràng anh ta vừa ở nhà máy về thẳng đây: mặt anh sạm khói, một bên má cạnh mũi dính nhọ nồi. Hai tay đen nhẻm, chiếc áo thợ không thắt lưng bóng lên vì dầu mỡ. Đó là một người đàn ông chừng ba mươi tuổi, tầm thước, tóc đen, vai rộng, và có vẻ rất khoẻ. Ngay từ cái nhìn đầu tiên, An-na A-ki-mốp-na đã đoán anh là một đốc công, lương không dưới ba mươi lăm rúp một tháng, nghiêm khắc, hay quát tháo, hay đấm vào mồm thợ, và điều ấy thấy rõ qua dáng đứng của anh, qua cái tư thế anh bất giác đứng lên khi thấy một người đàn bà trong phòng mình, mà nhất là vì anh mặc quần buông ngoài ủng, áo có túi ngực, và để chòm râu nhọn tỉa tót gọn gàng. Ông bố quá cố của cô, ông A-kim I-va-nư-ch, là em trai ông chủ, thế mà vẫn sợ những tay đốc công như người ở trọ này, và vẫn phải xun xoe với họ.

— Xin lỗi anh, chúng tôi vắng mặt anh mà đã tự tiện ở đây, An-na A-ki-mốp-na nói.

Người thợ ngạc nhiên nhìn cô, mỉm cười ngượng ngập và im lặng.

— Thưa bà, xin bà nói to hơn một chút… Cha-li-cốp khẽ nói. Anh Pi-mê-nốp hễ tối ở nhà máy về là nặng tai lắm.

Nhưng An-na A-ki-mốp-na đã mừng vì ở đây không còn việc gì để làm nữa, cô gật đầu chào rồi đi nhanh ra. Pi-mê-nốp đi theo tiễn cô.

— Anh làm ở nhà máy đã lâu chưa? cô hỏi to, không quay lại.

— Từ năm chín tuổi ạ. Tôi vào làm từ hồi bác của cô còn sống.

— Lâu quá nhỉ! Bác tôi với bố tôi biết hết mọi người làm, còn tôi thì gần như chẳng biết ai. Tôi đã thấy anh trước đây, nhưng không biết anh tên là Pi-mê-nốp.

An-na A-ki-mốp-na cảm thấy muốn thanh minh với anh, muốn làm ra vẻ như vừa rồi cô cho tiền không phải thật lòng, mà chỉ là đùa.

— Ôi, cái nghèo! cô thở dài. Ngày lễ cũng như ngày thường, chúng ta làm việc thiện mà chẳng ăn thua gì. Tôi có cảm tưởng giúp đỡ những người như ông Cha-li-cốp này là vô ích.

— Tất nhiên là vô ích, Pi-mê-nốp đồng tình. Cho bao nhiêu thì ông ấy cũng uống hết. Còn bây giờ thì suốt đêm hai vợ chồng sẽ giằng nhau mà đánh nhau cho xem, anh nói thêm và bật cười.

— Phải, phải thú nhận rằng việc làm từ thiện của chúng ta vô ích, nhàm chán và buồn cười. Nhưng anh cũng phải đồng ý là không thể ngồi khoanh tay được, phải làm một cái gì đó chứ. Chẳng hạn, phải làm gì với gia đình Cha-li-cốp?

Cô quay lại phía Pi-mê-nốp và dừng chân, chờ anh trả lời; anh cũng dừng lại, chậm rãi nhún vai, không nói gì. Rõ ràng là anh biết phải làm gì với nhà Cha-li-cốp, nhưng điều ấy thô bạo và tàn nhẫn đến nỗi anh không dám nói ra. Và gia đình Cha-li-cốp đối với anh nhạt nhẽo và vô nghĩa đến nỗi chỉ một khắc sau anh đã chẳng còn nhớ đến họ; nhìn vào mắt An-na A-ki-mốp-na, anh mỉm cười sung sướng, và vẻ mặt anh như thể đang mơ thấy một điều gì đó rất tốt đẹp. Chỉ đến bây giờ, đứng gần anh, An-na A-ki-mốp-na mới nhìn mặt anh, nhất là nhìn đôi mắt, mà thấy anh mệt mỏi biết chừng nào và thèm ngủ biết chừng nào.

«Giá cho anh ấy một nghìn rưởi rúp kia nhỉ!» cô nghĩ, nhưng chẳng hiểu sao ý nghĩ ấy lại có vẻ không phải lẽ và xúc phạm đến Pi-mê-nốp.

— Chắc anh làm việc cả ngày, người ê ẩm hết rồi, thế mà còn tiễn tôi, cô nói, bước xuống cầu thang. Anh về nghỉ đi.

Nhưng anh không nghe thấy. Khi ra đến ngoài phố, anh chạy lên trước, cởi tấm chăn da phủ xe trượt, đỡ An-na A-ki-mốp-na lên xe, và nói:

— Chúc cô đón lễ được bình an!

— Hết chương 1 —

Mục lục Vương quốc đàn bà

  1. 1Đêm trước ngày lễ27 phút
  2. 2Buổi sángĐang thu âm
  3. 3Bữa trưaĐang thu âm
  4. 4Buổi tốiĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1894
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Бабье царство, 1894
Giọng đọcBảo Tú — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →