Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Vuông tròn

của O. Henry

⏱ 8 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 9.668 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:03Dù có thể làm bạn mệt, câu chuyện về…
  2. 1:01Ngược lại, những đường thẳng cho thấy Tự Nhiên…
  3. 2:09Mối thù bắt đầu ở vùng núi Cơm-bơ-lân giữa…
  4. 4:17Xam Phôn-oen tới New York lúc đêm. Vẫn còn…
  5. 5:43Xam Phôn-oen đứng ở chỗ hai đại lộ lớn…
  6. 6:41Ông béo kín đáo lảng đi chỗ khác, rồi…
  7. 7:22Tới góc phố tiếp theo, một tiếng còi lanh…
  8. 8:35Chào Ca-lơ! Gặp mày tao mừng quá trời!

Dù có thể làm bạn mệt, câu chuyện về những cảm xúc mãnh liệt này vẫn phải mở đầu bằng một bài giảng về hình học.

Tự Nhiên chuyển động theo đường tròn. Nghệ Thuật chuyển động theo đường thẳng. Cái tự nhiên thì tròn trịa. Cái nhân tạo thì được ghép từ những góc cạnh. Một người lạc trong tuyết, dù không muốn, vẫn cứ đi lòng vòng theo những vòng tròn hoàn hảo. Còn đôi chân của người thành phố, đã bị những con phố và sàn nhà hình chữ nhật làm mất tự nhiên, thì cứ đưa anh ta đi mãi, xa khỏi chính mình.

Đôi mắt tròn của tuổi thơ tượng trưng cho sự ngây thơ. Đường mắt nheo nheo của kẻ lẳng lơ chứng tỏ nghệ thuật đã xâm chiếm. Cái miệng mím thành đường thẳng ngang là dấu hiệu của sự xảo quyệt quả quyết. Còn ai lại chưa từng đọc thấy bài thơ trữ tình hồn nhiên nhất của Tự Nhiên trên đôi môi tròn lại cho một nụ hôn chân thật?

Cái đẹp là Tự Nhiên ở độ hoàn hảo, và tròn trịa là thuộc tính chủ yếu của nó. Hãy ngắm vầng trăng tròn, quả bóng gôn mê hồn, những mái vòm của những ngôi đền lộng lẫy, chiếc bánh nướng nhân việt quất, chiếc nhẫn cưới, vòng sân xiếc, tiếng chuông kêu "reng" gọi bồi bàn, và một "vòng" rượu mời cả bàn.

Ngược lại, những đường thẳng cho thấy Tự Nhiên đã bị bẻ lệch. Hãy tưởng tượng chiếc thắt lưng của nữ thần Vệ Nữ biến thành chiếc áo nịt ngực thẳng đuột!

Khi ta bắt đầu đi theo những đường thẳng và rẽ những góc vuông, bản tính của ta bắt đầu thay đổi. Hậu quả là Tự Nhiên, vốn dễ thích nghi hơn Nghệ Thuật, cố uốn mình theo những quy tắc khắt khe hơn của nó. Kết quả thường là một sản phẩm khá kì quặc, chẳng hạn như: một bông cúc đoạt giải, rượu uýt-ki pha cồn gỗ, súp lơ nướng phô mai, và một người New York.

Ở thành phố lớn, Tự Nhiên mất đi nhanh nhất. Nguyên nhân là hình học, chứ không phải đạo đức. Những đường thẳng của phố xá và kiến trúc, sự vuông vức của luật lệ và tập tục xã hội, những vỉa hè thẳng tắp không chệch một li, những quy tắc cứng nhắc, nghiêm khắc, ngột ngạt, không khoan nhượng trong mọi đường lối của nó, kể cả trong giải trí và thể thao, tất cả đều lạnh lùng phô ra một sự thách thức khinh khỉnh đối với đường cong của Tự Nhiên.

Bởi vậy, có thể nói thành phố lớn đã giải được bài toán cầu phương hình tròn, tức là biến cái tròn thành cái vuông. Và có thể nói thêm rằng lời mở đầu toán học này đi trước câu chuyện về số phận một mối thù truyền kiếp vùng Ken-tắc-ki, được nhập vào cái thành phố có thói quen uốn mọi thứ nhập vào cho khớp với những góc cạnh của nó.

Mối thù bắt đầu ở vùng núi Cơm-bơ-lân giữa hai gia đình Phôn-oen và Hác-nét. Nạn nhân đầu tiên của cuộc báo thù tự chế ấy là một con chó săn thú có túi của Bin Hác-nét. Nhà Hác-nét gỡ lại mối tổn thất thảm khốc ấy bằng cách hạ gục trưởng tộc nhà Phôn-oen. Nhà Phôn-oen đối đáp rất nhanh. Họ tra dầu những khẩu súng săn sóc, và tạo điều kiện cho Bin Hác-nét được đi theo con chó của mình tới cái xứ mà lũ thú có túi bị đuổi lên cây là tự tụt xuống, chẳng cần một nhát rìu.

Mối thù phát triển tươi tốt suốt bốn mươi năm. Người nhà Hác-nét bị bắn khi đang cày ruộng, qua ô cửa sổ sáng đèn của túp lều gỗ, trên đường đi lễ hội trại về, trong lúc ngủ, trong những cuộc đấu súng tay đôi, khi tỉnh táo và khi chẳng tỉnh táo lắm, từng người một và cả từng nhóm gia đình, khi có chuẩn bị và khi chẳng chuẩn bị gì. Cây gia phả nhà Phôn-oen cũng bị chặt cành theo những cách tương tự, đúng như truyền thống quê hương họ quy định và cho phép.

Dần dà, cuộc tỉa cành chỉ còn để lại mỗi nhà đúng một người. Thế rồi Ca-lơ Hác-nét, có lẽ vì lí luận rằng nếu tiếp tục theo đuổi cuộc tranh chấp thì mối thù sẽ mang một hương vị riêng tư quá rõ rệt, bỗng biến mất khỏi vùng Cơm-bơ-lân đang thở phào nhẹ nhõm, làm hỏng bàn tay báo thù của Xam, người nhà Phôn-oen cuối cùng của phe bên kia.

Một năm sau, Xam Phôn-oen biết tin kẻ thù truyền đời chưa bị tiêu diệt của mình đang sống ở thành phố New York. Xam lật úp cái nồi nấu quần áo to bằng gang ngoài sân, cạo ít muội than, trộn với mỡ lợn, rồi đánh bóng ủng bằng hỗn hợp ấy. Anh mặc bộ quần áo mua sẵn bằng vải nhuộm vỏ cây óc chó rồi nhuộm đen, áo sơ mi trắng có cổ cồn, và xếp vào túi vải thảm mấy thứ đồ lót khắc khổ. Anh nhấc khẩu súng săn sóc khỏi móc, nhưng rồi lại thở dài treo lên. Ở vùng Cơm-bơ-lân thì thói quen ấy có hợp đạo lí và hợp lẽ đến mấy, nhưng có lẽ New York sẽ không tin cái điệu bộ đi săn sóc giữa những toà nhà chọc trời dọc đường Brốt-uê. Một khẩu súng lục cũ kĩ mà đáng tin cậy, anh lôi từ ngăn kéo tủ ra, có vẻ tự tuyên bố là thứ vũ khí tuyệt nhất cho những cuộc phiêu lưu và báo thù chốn đô thành. Xam xếp nó cùng một con dao săn trong bao da vào túi vải thảm. Lúc cưỡi lừa lên đường xuống ga xe lửa dưới đồng bằng, người nhà Phôn-oen cuối cùng quay người trên yên, nhìn đăm đăm, dữ dằn, vào dãy những tấm ván thông trắng giữa lùm cây bách, đánh dấu khu nghĩa địa của dòng họ Phôn-oen.

Xam Phôn-oen tới New York lúc đêm. Vẫn còn sống và chuyển động trong những vòng tròn tự do của Tự Nhiên, anh không nhận ra những góc cạnh ghê gớm, tàn nhẫn, không ngơi nghỉ, hung tợn của thành phố lớn đang chờ sẵn trong bóng tối, để khép lại quanh trái tim và khối óc tròn trịa của anh, nặn anh theo hình dạng của hàng triệu nạn nhân đã bị nó nặn lại. Một anh đánh xe ngựa nhặt anh ra khỏi dòng người xoáy, như chính Xam vẫn thường nhặt một hạt dẻ khỏi lớp lá thu gió thổi tung, rồi đưa anh vèo tới một khách sạn tương xứng với đôi ủng và chiếc túi vải thảm của anh.

Sáng hôm sau, người cuối cùng của nhà Phôn-oen xuất kích vào thành phố đang che chở người cuối cùng của nhà Hác-nét. Khẩu súng lục được giắt dưới áo khoác, giữ bằng một chiếc thắt lưng da hẹp. Con dao săn treo giữa hai bả vai, chuôi dao thấp hơn cổ áo khoác hai phân. Anh chỉ biết có chừng này: Ca-lơ Hác-nét đánh một chiếc xe chở hàng ở đâu đó trong thành phố này, và anh, Xam Phôn-oen, đã tới đây để giết hắn. Và khi bước xuống vỉa hè, mắt anh đỏ ngầu, lòng anh bừng lên mối thù truyền kiếp.

Tiếng ồn ào của các đại lộ trung tâm kéo anh về phía đó. Anh nửa mong sẽ thấy Ca-lơ đi xuôi phố, mặc áo sơ mi, tay cầm vò rượu và roi ngựa, đúng như anh sẽ thấy hắn ở Phrăng-phớt hay ở Lo-ren Xi-ti. Nhưng một giờ trôi qua mà Ca-lơ không xuất hiện. Có lẽ hắn đang mai phục, để bắn anh từ một khung cửa ra vào hay một ô cửa sổ. Xam để mắt canh chừng các cửa ra vào và cửa sổ một lúc.

Khoảng giữa trưa, thành phố chán vờn con chuột của nó, và bất thình lình bóp nghẹt anh bằng những đường thẳng của nó.

Xam Phôn-oen đứng ở chỗ hai đại lộ lớn hình chữ nhật của thành phố cắt nhau. Anh nhìn bốn phía, và thấy thế giới bị hất khỏi quỹ đạo của nó, bị thước thăng bằng và thước dây thu lại thành một mặt phẳng toàn cạnh với góc. Mọi sự sống đều chạy trên đường ray, trong rãnh, theo hệ thống, trong giới hạn, theo nếp cũ. Gốc rễ của sự sống là căn bậc ba. Thước đo của sự tồn tại là thước đo diện tích vuông. Người ta tuôn qua thành những hàng thẳng. Tiếng ồn ào khủng khiếp và tiếng loảng xoảng làm anh choáng váng.

Xam tựa vào góc nhọn của một toà nhà bằng đá. Hàng nghìn khuôn mặt đi qua anh, mà không khuôn mặt nào quay về phía anh. Một nỗi sợ hãi ngớ ngẩn bất chợt xâm chiếm anh, rằng anh đã chết và chỉ còn là một linh hồn, nên họ không nhìn thấy anh. Và rồi thành phố giáng lên anh nỗi cô đơn.

Một ông béo tách khỏi dòng người, đứng cách anh vài bước, chờ xe điện. Xam lần tới bên ông ta, hét vào tai ông ta át cả tiếng ồn ào:

— Lợn nhà Ran-kin nặng hơn lợn nhà tôi cả một đống, nhưng quả dẻ rụng quanh vùng nhà họ thì tốt hơn hẳn so với dưới...

Ông béo kín đáo lảng đi chỗ khác, rồi mua hạt dẻ rang để che giấu nỗi hoảng sợ.

Xam thấy cần một giọt rượu núi. Bên kia đường, người ta ra vào qua những cánh cửa đung đưa. Thấp thoáng thấy một quầy rượu bóng loáng với đủ thứ trang trí. Kẻ mang mối thù băng qua đường, định đi vào. Một lần nữa Nghệ Thuật lại xoá bỏ đường tròn quen thuộc. Bàn tay Xam không tìm thấy quả đấm cửa. Nó trượt đi vô ích trên một tấm đồng hình chữ nhật và lớp gỗ sồi bóng loáng, chẳng có lấy một thứ gì to bằng đầu ghim để ngón tay anh nắm vào.

Ngượng ngùng, đỏ mặt, tan nát cõi lòng, anh bỏ đi khỏi cánh cửa vô dụng ấy, ngồi xuống một bậc thềm. Một chiếc dùi cui gỗ thọc vào mạng sườn anh.

— Đi chỗ khác đi, viên cảnh sát nói. Anh lảng vảng ở đây đủ lâu rồi.

Tới góc phố tiếp theo, một tiếng còi lanh lảnh vang lên bên tai Xam. Anh quay phắt lại, thấy một tên ác ôn lông mày rậm đen đang quắc mắt nhìn anh bên trên đống lạc chất trên một cái máy đang bốc hơi. Anh bắt đầu băng qua đường. Một cỗ máy khổng lồ chạy mà chẳng cần lừa kéo, giọng như bò mộng, mùi như ngọn đèn ám khói, vọt qua, sượt vào đầu gối anh. Một anh đánh xe ngựa lấy trục bánh xe húc vào anh, rồi giải thích cho anh rằng những lời dịu dàng được phát minh ra là để dùng vào những dịp khác. Một người lái xe điện rung chuông inh ỏi, và lần đầu tiên trong đời, đồng tình với một anh đánh xe ngựa. Một bà to béo mặc áo lụa ngũ sắc thúc khuỷu tay vào lưng anh. Và một thằng bé bán báo trầm ngâm ném vỏ chuối vào anh, lẩm bẩm: "Tao chẳng muốn làm thế đâu, nhưng nếu có ai thấy tao bỏ qua thì nhục lắm!"

Ca-lơ Hác-nét, xong việc trong ngày, đã cất xe chở hàng vào chuồng, rẽ qua cạnh nhọn của toà nhà mà các kiến trúc sư, trơ tráo thay, đã thiết kế theo hình một con dao cạo. Giữa đám đông đang hối hả, mắt hắn nhặt ra, cách đó ba mét, kẻ thù khát máu, không đội trời chung còn sót lại của họ hàng thân thích nhà mình.

Hắn dừng phắt lại, chao đảo một thoáng, vì không mang vũ khí và hết sức bất ngờ. Nhưng con mắt sắc bén của người miền núi Xam Phôn-oen đã nhặt được hắn ra.

Có một cú nhảy bổ tới, một gợn sóng trong dòng người qua lại, và tiếng Xam kêu lên:

— Chào Ca-lơ! Gặp mày tao mừng quá trời!

Và tại những góc cạnh của đường Brốt-uê, Đại lộ Năm và phố Hai mươi ba, hai kẻ mang mối thù truyền kiếp vùng Cơm-bơ-lân bắt tay nhau.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảO. Henry (1862 – 1910)
Năm mất1910
Xuất bản lần đầu1908
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Squaring the Circle, O. Henry, in trong tuyển tập The Voice of the City
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →