Chương 1: Trên đỉnh Hen-xê-ghen
Đường lối của Thượng Đế trong tự nhiên cũng như trong sự an bài không giống đường lối của chúng ta. Những mô hình ta dựng nên chẳng thể nào sánh được với sự mênh mông, sâu thẳm và khôn dò của những công trình của Ngài, những công trình còn sâu hơn cả giếng thẳm của nhà hiền triết xưa.
Chúng tôi đã lên tới đỉnh của mỏm núi cao nhất. Trong mấy phút, ông lão có vẻ mệt lả đến nỗi không nói được.
– Cách đây chưa lâu, – cuối cùng ông nói, – tôi còn dẫn đường cho anh lên đây được chẳng kém gì đứa con trai út của tôi. Nhưng chừng ba năm trước, tôi đã gặp một chuyện chưa từng xảy đến với ai trên đời, hay ít ra là chưa ai gặp phải mà còn sống để kể lại. Sáu giờ kinh hoàng chết người mà tôi phải chịu đựng hồi ấy đã làm tôi suy sụp cả thể xác lẫn tâm hồn. Anh tưởng tôi già lắm, nhưng không phải đâu. Chưa đầy một ngày mà mái tóc này đã từ đen nhánh hoá trắng xoá, chân tay tôi yếu đi, thần kinh rã rời, đến nỗi chỉ cố sức một chút là run, thấy cái bóng cũng sợ. Anh có biết không, tôi gần như không dám nhìn xuống cái vách đá nhỏ này mà không chóng mặt?
Cái vách đá nhỏ mà ông vừa buông mình xuống nằm nghỉ một cách vô tư bên mép, đến nỗi phần lớn thân người ông chìa ra ngoài, chỉ nhờ khuỷu tay tì vào cái mép đá trơn tuột tận cùng mà không rơi xuống, cái vách đá nhỏ ấy dựng đứng, thẳng tuột, toàn đá đen bóng loáng, cao gần năm trăm mét so với thế giới đá lởm chởm bên dưới chúng tôi. Có cho gì tôi cũng không dám bén mảng tới cách mép vực năm sáu mét. Quả thật, tư thế nguy hiểm của người bạn đồng hành làm tôi khiếp sợ đến mức tôi nằm rạp xuống đất, bám chặt lấy mấy bụi cây quanh mình, không dám cả liếc nhìn lên trời. Tôi cố gạt đi ý nghĩ rằng chính nền móng ngọn núi đang lâm nguy trước cơn cuồng nộ của gió, nhưng không được. Phải lâu lắm tôi mới tự trấn an được để đủ can đảm ngồi dậy nhìn ra xa.
– Anh phải bỏ những ý nghĩ ấy đi, – người dẫn đường nói. – Vì tôi đưa anh lên đây là để anh nhìn rõ nhất chỗ đã xảy ra cái chuyện tôi vừa nhắc, và để kể cho anh nghe đầu đuôi câu chuyện, trong khi chỗ ấy nằm ngay dưới mắt anh.
Rồi ông nói tiếp, với lối kể tỉ mỉ đặc biệt của ông:
– Bây giờ chúng ta đang ở sát bờ biển Na Uy, ở vĩ độ sáu mươi tám, thuộc tỉnh Noóc-lan rộng lớn, trong vùng Lô-phô-đen hoang vắng. Ngọn núi chúng ta đang ngồi trên đỉnh là Hen-xê-ghen, nghĩa là núi Mây. Giờ anh nhổm lên cao một chút. Nếu chóng mặt thì bám vào cỏ. Thế. Và nhìn ra biển, qua khỏi dải sương mù bên dưới kia.
Tôi choáng váng nhìn ra, thấy một vùng biển mênh mông, nước đen như mực, khiến tôi lập tức nhớ tới những lời tả của các nhà địa lý xưa về Biển Tối Tăm. Không trí tưởng tượng nào của con người có thể hình dung ra một cảnh tượng hoang vắng thê lương hơn. Bên phải và bên trái, xa hút tầm mắt, trải dài như những bức thành của thế giới, là những dãy vách đá đen kịt dựng đứng, chìa ra ghê rợn. Vẻ u ám của chúng càng nổi rõ vì những đợt sóng cứ chồm cao lên đỉnh vách, bọt trắng toát rợn người, gào thét không bao giờ dứt. Ngay trước mỏm núi chúng tôi đang ngồi, cách chừng chín mười cây số ngoài khơi, có thể thấy một hòn đảo nhỏ trơ trụi, hay đúng hơn là nhận ra được vị trí của nó qua cả một vùng sóng cuồn cuộn bao quanh. Gần bờ hơn chừng ba cây số là một hòn đảo khác nhỏ hơn, lởm chởm đá, cằn cỗi đến ghê người, quanh đó rải rác một cụm đá ngầm đen sẫm.
Mặt biển ở khoảng giữa hòn đảo xa hơn và bờ có điều gì đó rất khác thường. Lúc ấy gió đang thổi mạnh vào bờ, đến nỗi một chiếc thuyền buồm hai cột ở tít ngoài khơi phải cuốn bớt buồm mà đứng gió, cứ chốc chốc lại chúi cả thân xuống khuất tầm mắt. Vậy mà ở đây không có sóng lừng đều đặn, chỉ có những đợt nước ngắn, nhanh, giận dữ xô chéo nhau theo mọi hướng, kể cả ngược chiều gió. Bọt nước thì ít, trừ ở ngay quanh những mỏm đá.
– Hòn đảo đằng xa kia, – ông lão nói tiếp, – người Na Uy gọi là Vu-rơ. Hòn ở giữa là Mốt-cô. Hòn cách đây một quãng về phía bắc là Am-ba-ren. Đằng kia là I-xlê-xen, Hốt-hôm, Kên-hem, Xu-a-ven và Búc-hôm. Xa hơn nữa, giữa Mốt-cô và Vu-rơ, là Ốt-tơ-hôm, Phli-men, Xan-phlê-xen và Xtốc-hôm. Đó là tên thật của những nơi này, nhưng sao người ta lại thấy cần phải đặt tên cho chúng thì cả anh lẫn tôi đều không hiểu nổi. Anh có nghe thấy gì không? Anh có thấy mặt nước thay đổi gì không?
Chúng tôi đã ở trên đỉnh Hen-xê-ghen được chừng mười phút. Chúng tôi lên đây từ phía trong đất liền của Lô-phô-đen, nên chưa hề nhìn thấy biển cho tới khi nó bất thần hiện ra trước mắt từ trên đỉnh núi. Trong khi ông lão nói, tôi nghe thấy một tiếng động lớn, mỗi lúc một to dần, như tiếng rống của cả một đàn bò rừng khổng lồ trên thảo nguyên châu Mỹ. Cùng lúc ấy tôi nhận thấy cái mà dân đi biển gọi là sóng vỗ lộn xộn trên mặt biển bên dưới đang nhanh chóng biến thành một dòng chảy về phía đông. Ngay trong lúc tôi đang nhìn, dòng chảy ấy đã đạt tới một tốc độ kinh khủng. Mỗi giây lại nhanh thêm, lao đi hung hãn thêm. Trong năm phút, cả vùng biển cho tới tận Vu-rơ bị quất lên thành một cơn cuồng nộ không gì kìm nổi. Nhưng chính giữa Mốt-cô và bờ biển mới là nơi cơn hỗn loạn dữ dội nhất. Ở đây, cả lòng biển mênh mông bị xé thành hàng nghìn dòng chảy ngược chiều nhau, bỗng chốc lên cơn co giật điên cuồng, cuộn lên, sôi sục, rít lên, xoay tít thành vô số xoáy nước khổng lồ, tất cả quay cuồng lao về phía đông với tốc độ mà nước không bao giờ có, trừ khi đổ xuống từ dốc đứng.
Vài phút sau, cảnh tượng lại thay đổi tận gốc. Mặt nước nói chung phẳng hơn đôi chút, những xoáy nước lần lượt biến mất, trong khi những vệt bọt khổng lồ hiện ra ở những chỗ trước đó chẳng thấy gì. Những vệt bọt ấy cuối cùng loang ra rất xa, nhập lại với nhau, thừa hưởng chuyển động xoay tròn của những xoáy nước vừa lặng, và dường như đang tạo thành mầm mống của một xoáy nước khác lớn hơn nhiều. Bỗng nhiên, rất đột ngột, nó hiện ra rõ ràng thành một vòng tròn đường kính hơn một cây số rưỡi. Mép xoáy là một dải bọt nước rộng lấp lánh, nhưng không một giọt nào trượt vào miệng cái phễu khủng khiếp. Lòng phễu, xa đến tận nơi mắt còn dò tới, là một bức tường nước nhẵn bóng, đen nhánh, nghiêng chừng bốn mươi lăm độ so với chân trời, quay tít chóng mặt, vừa chao đảo vừa sôi sục, và tung vào gió một tiếng gầm ghê rợn, nửa như tiếng thét, nửa như tiếng rống, mà ngay cả thác Ni-a-ga-ra hùng vĩ trong cơn quằn quại cũng chưa bao giờ gào lên tới trời như thế.
Ngọn núi rung chuyển tới tận chân, và tảng đá chao đảo. Tôi nằm sấp xuống, bám chặt lấy đám cỏ lơ thơ, thần kinh căng thẳng tột độ.
– Cái này, – cuối cùng tôi nói với ông lão, – cái này không thể là gì khác ngoài xoáy nước lớn Man-xtrơm.
– Đôi khi người ta gọi nó như thế, – ông đáp. – Người Na Uy chúng tôi gọi nó là Mốt-cô-xtrơm, theo tên hòn đảo Mốt-cô ở giữa.
Những gì người ta thường kể về cái xoáy nước này chẳng hề giúp tôi hình dung trước những gì tôi đang thấy. Bài tả của Giô-nát Ra-mút, có lẽ là bài tỉ mỉ nhất, cũng không thể cho người đọc một ý niệm mờ nhạt nhất về vẻ hùng vĩ, về nỗi kinh hoàng của cảnh tượng, hay về cái cảm giác lạ lùng hoang dại làm người xem choáng váng. Tôi không rõ tác giả ấy đã quan sát nó từ chỗ nào, vào lúc nào, nhưng chắc chắn không phải từ đỉnh Hen-xê-ghen, cũng không phải trong cơn bão. Dẫu vậy, có vài đoạn trong bài tả của ông có thể trích ra vì những chi tiết của chúng, dù chúng chẳng mấy truyền đạt được ấn tượng về cảnh tượng.
Ông viết: "Giữa Lô-phô-đen và Mốt-cô, nước sâu chừng sáu bảy chục mét. Nhưng ở phía bên kia, về phía Vu-rơ, độ sâu giảm dần, đến nỗi tàu bè không thể qua lại thuận tiện mà không có nguy cơ vỡ tan vào đá, điều xảy ra ngay cả khi trời lặng gió nhất. Khi nước lên, dòng chảy đổ vào giữa Lô-phô-đen và Mốt-cô với tốc độ dữ dội. Nhưng tiếng gầm của nó khi nước ròng tháo ra biển thì những thác nước lớn nhất, khủng khiếp nhất cũng khó bì kịp. Tiếng ồn vang xa nhiều cây số. Những xoáy nước rộng và sâu đến nỗi tàu nào lọt vào vùng hút của nó đều bị nuốt chửng không thể cưỡng, kéo xuống đáy, đập tan vào đá. Khi nước dịu đi, những mảnh vụn lại bị hất lên. Nhưng những lúc yên lặng như thế chỉ có vào khoảng giao nhau giữa nước ròng và nước lên, khi trời lặng gió, và chỉ kéo dài mười lăm phút, rồi sự dữ dội lại dần trở lại. Khi dòng nước cuồng bạo nhất, lại thêm bão tố, thì đến gần nó trong vòng mười cây số cũng nguy hiểm. Thuyền nhỏ, thuyền buồm và tàu lớn đã bị cuốn đi vì không đề phòng trước khi lọt vào tầm hút của nó. Cũng thường xảy ra chuyện cá voi đến quá gần dòng nước và bị sức mạnh của nó khuất phục. Không thể tả nổi tiếng rống, tiếng gào của chúng khi vùng vẫy vô ích để thoát ra. Có lần một con gấu định bơi từ Lô-phô-đen sang Mốt-cô, bị dòng nước cuốn lấy, kéo xuống, nó gầm lên khủng khiếp đến nỗi trên bờ cũng nghe thấy. Những thân cây thông, cây linh sam lớn sau khi bị dòng nước nuốt vào lại nổi lên, gãy nát, xơ xác như mọc đầy lông cứng. Điều ấy cho thấy rõ đáy biển toàn đá lởm chởm, và chúng đã bị quay cuồng đập tới đập lui giữa đá. Dòng nước này theo con nước lên xuống của biển, cứ sáu giờ lại thay đổi một lần. Năm một nghìn sáu trăm bốn mươi lăm, vào sáng sớm một ngày chủ nhật, nó gầm thét dữ dội đến mức đá của những ngôi nhà ven biển cũng rơi xuống đất."
Về độ sâu của nước, tôi không hiểu làm sao người ta đo được ngay sát xoáy nước. Con số sáu bảy chục mét hẳn chỉ nói về những đoạn eo biển sát bờ Mốt-cô hay Lô-phô-đen. Độ sâu ở giữa Mốt-cô-xtrơm hẳn phải lớn hơn không biết bao nhiêu mà kể. Chẳng cần bằng chứng nào hơn là liếc nhìn nghiêng vào vực xoáy từ mỏm cao nhất của Hen-xê-ghen. Nhìn từ đỉnh núi này xuống dòng sông lửa địa ngục đang gào rú bên dưới, tôi không khỏi mỉm cười trước sự ngây thơ của ông Giô-nát Ra-mút thật thà, khi ông ghi lại chuyện cá voi và con gấu như những chuyện khó tin. Vì tôi thấy rõ ràng là chiếc chiến hạm lớn nhất từng có trên đời, một khi lọt vào sức hút chết người kia, cũng chẳng cưỡng lại được hơn một cọng lông trước cơn cuồng phong, và hẳn sẽ biến mất trọn vẹn ngay tức khắc.
Những cách người ta cố giải thích hiện tượng này, mà tôi nhớ có vài cách lúc đọc thấy khá hợp lý, giờ đây lại trở nên khác hẳn và chẳng mấy thoả đáng. Người ta thường cho rằng xoáy nước này, cũng như ba xoáy nhỏ hơn ở quần đảo Pha-rô, không có nguyên nhân nào khác hơn là sóng lên xuống theo con nước va vào một dãy đá ngầm, khiến nước dồn lại rồi đổ xuống như thác, và nước lên càng cao thì đổ xuống càng sâu, kết quả tự nhiên là một xoáy nước có sức hút phi thường. Lại có những người tưởng tượng rằng ở giữa lòng Man-xtrơm có một vực thẳm xuyên qua quả đất, thông ra một nơi rất xa nào đó. Ý kiến ấy, tự nó thì vu vơ, lại là ý kiến mà trí tưởng tượng của tôi sẵn lòng tin nhất khi ngắm nhìn cảnh tượng. Tôi đem nó ra nói với người dẫn đường, và hơi ngạc nhiên khi nghe ông bảo rằng dù hầu như người Na Uy nào cũng nghĩ thế, ông thì không. Còn về cách giải thích thứ nhất, ông thú nhận là ông không hiểu nổi. Ở điểm này tôi đồng ý với ông, vì trên giấy thì có vẻ chặt chẽ đến đâu, giữa tiếng sấm của vực thẳm nó cũng trở nên hoàn toàn khó hiểu, thậm chí vô lý.
– Giờ thì anh đã nhìn kỹ cái xoáy nước rồi, – ông lão nói. – Nếu anh bò vòng qua mỏm đá này, nấp vào chỗ khuất gió cho bớt tiếng nước gầm, tôi sẽ kể anh nghe một câu chuyện, và anh sẽ tin rằng tôi hẳn phải biết đôi điều về Mốt-cô-xtrơm.
Tôi ngồi vào chỗ ông bảo, và ông bắt đầu kể.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn