Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Phần một

Bức bình phong địa ngục · Chương 1/3 · của Akutagawa Ryūnosuke

⏱ 16 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 16.645 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Một người như Đức ông Quật Xuyên, trước kia…
  2. 3:36Rồi nhân dịp nào đó, có người từ xứ…
  3. 5:04Nàng nhắc lại một lần nữa, rồi mỉm cười…
  4. 5:48Tới nước này thì lạ thay, chẳng còn ai…
  5. 7:58Thói xấu ấy là keo kiệt, tham lam, trơ…
  6. 11:16Nhưng lão thương con thì chỉ thương thế thôi,…
  7. 12:31Không được.
  8. 14:14Chỉ chừng ấy thôi, nét bút đã đủ làm…

Chương 1: Phần một

Một người như Đức ông Quật Xuyên, trước kia đã đành không có, mà đời sau chắc cũng chẳng có người thứ hai. Nghe đồn trước khi Ngài ra đời, Đại Uy Đức Minh Vương đã hiện về bên gối thân mẫu Ngài trong giấc mộng. Dẫu sao thì ngay từ lúc sinh ra, Ngài đã khác hẳn người thường. Vì thế, những việc Ngài làm, chẳng việc nào không vượt ngoài sức tưởng tượng của bọn tôi. Nói đâu xa, chỉ cần nhìn quy mô dinh phủ Quật Xuyên thôi, gọi là tráng lệ hay gọi là phóng khoáng cũng được, đều có cái gì táo bạo mà trí óc tầm thường của bọn tôi không sao với tới. Cũng có kẻ bới móc chỗ ấy, đem tính cách Đức ông ra mà so với Tần Thuỷ Hoàng hay Tuỳ Dạng Đế. Nhưng đó chẳng khác gì thầy bói xem voi, như tục ngữ vẫn nói. Ý Ngài tuyệt nhiên không phải chỉ muốn mình Ngài được hưởng vinh hoa phú quý. Ngài còn nghĩ tới cả những kẻ dưới, có thể nói là có cái độ lượng rộng lớn, muốn cùng vui với thiên hạ.

Cho nên, có gặp cả trăm con quỷ đi đêm ở ngã ba Nhị Điều Đại Cung, Ngài cũng chẳng hề hấn gì. Lại như hồn ma quan Tả đại thần Dung, nghe đồn đêm đêm hiện về ở viện Hà Nguyên phía đông Tam Điều, toà viện nổi tiếng vì mô phỏng cảnh vịnh Si-ô-ga-ma xứ Mi-chi-nô-ku, thì hẳn cũng phải biến mất khi bị Đức ông quát mắng. Uy quang lẫm liệt như thế, nên hồi ấy dân chúng kinh thành, già trẻ gái trai, hễ nhắc tới Đức ông là tôn sùng như Phật hiện thân, cũng chẳng có gì lạ. Có lần, Ngài dự tiệc thưởng hoa mai trong cung trở về, con bò kéo xe sổng ra, húc bị thương một ông già đi ngang. Vậy mà ông già ấy còn chắp tay cảm tạ, vì được bò của Đức ông húc phải.

Chính vì thế, suốt một đời Đức ông, có không biết bao nhiêu chuyện đáng làm đề tài cho đời sau bàn tán. Nào có lần ban quà tiệc lớn, chỉ toàn ngựa trắng, ba mươi con một lúc. Nào có lần bắt đứa trẻ hầu Ngài yêu quý đứng làm cột trụ cầu Na-ga-ra. Nào có lần để một vị sư bên Tàu, truyền phép Hoa Đà, mổ cái nhọt trên đùi Ngài. Kể từng chuyện ra thì không sao hết được. Nhưng trong bao nhiêu giai thoại ấy, không chuyện nào khủng khiếp bằng sự tích bức bình phong cảnh địa ngục, giờ đã thành báu vật của dòng họ Ngài. Đến Đức ông, ngày thường chẳng gì làm Ngài nao núng, mà riêng lần ấy cũng có vẻ kinh động. Huống hồ bọn tôi hầu hạ bên Ngài, hồn vía lên mây là chuyện khỏi phải nói. Như tôi đây, hầu hạ Đức ông đã hai mươi năm, vậy mà cũng chưa từng gặp lại một cảnh tượng nào ghê rợn tới thế.

Nhưng muốn kể chuyện ấy, trước hết tôi phải thưa qua về người hoạ sĩ đã vẽ bức bình phong địa ngục, tên là Lương Tú.

Nhắc tới Lương Tú, có lẽ tới nay vẫn còn người nhớ lão. Hồi ấy cầm bút vẽ, người ta bảo không ai vượt nổi Lương Tú, lão nổi danh tới mức ấy. Lúc xảy ra chuyện kia, lão đã ngót nghét năm mươi. Trông bề ngoài chỉ là một lão già thấp bé, gầy da bọc xương, vẻ mặt độc địa. Mỗi lần tới phủ Đức ông, lão hay mặc áo săn nhuộm màu đinh hương, đội mũ ô sa mềm. Nhưng tính nết lão hết sức hèn hạ, mà chẳng hiểu sao, không giống người già chút nào, đôi môi lão đỏ chót, trông lại càng gớm ghiếc, gợi một cảm giác như của loài thú. Có người bảo đó là vì lão hay liếm bút vẽ nên dính son, nhưng chẳng biết có đúng không. Những kẻ ác miệng hơn thì bảo dáng đi đứng của lão giống con khỉ, đặt cho lão cái biệt hiệu Hầu Tú, nghĩa là anh Tú khỉ.

Mà nói tới Hầu Tú, lại có chuyện thế này. Hồi ấy trong phủ Đức ông có đứa con gái duy nhất của Lương Tú, mười lăm tuổi, vào hầu làm thị nữ nhỏ. Con bé này chẳng giống cha đẻ chút nào, rất dễ thương. Lại thêm có lẽ vì mất mẹ sớm, nên nó chu đáo, chín chắn hơn tuổi, sáng dạ từ trong trứng, tuổi còn nhỏ mà việc gì cũng để ý chu toàn. Vì thế, từ bà lớn cho tới các thị nữ khác, ai cũng thương nó.

Rồi nhân dịp nào đó, có người từ xứ Tan-ba dâng lên một con khỉ đã thuần. Đúng lúc ấy, cậu ấm con Đức ông đang tuổi nghịch ngợm, đặt cho con khỉ cái tên Lương Tú. Bộ dạng con khỉ vốn đã buồn cười, lại được đặt cái tên ấy, nên cả phủ không ai là không cười. Mà cười thôi thì cũng chẳng sao, đằng này mọi người còn nửa đùa nửa thật, nào nó leo lên cây thông ngoài vườn, nào nó làm bẩn chiếu trong phòng, mỗi lần như thế lại gọi ầm lên Lương Tú, Lương Tú, tóm lại là chỉ thích bắt nạt nó.

Thế rồi một hôm, con gái Lương Tú cầm một cành mai đỏ nở trong giá rét, có buộc một lá thư, đi qua dãy hành lang dài. Thì từ phía cánh cửa trượt đằng xa, con khỉ nhỏ Lương Tú chạy tới, chắc là bị trẹo chân, không còn sức leo tót lên cột như mọi khi, cứ khập khiễng cắm đầu chạy trốn. Mà theo sau nó lại là cậu ấm, tay vung cành roi, miệng quát: Thằng ăn trộm cam kia, đứng lại! Đứng lại! Thấy vậy, con gái Lương Tú thoáng ngần ngừ. Nhưng đúng lúc ấy, con khỉ chạy tới bám vào gấu váy nàng, kêu lên những tiếng thảm thiết. Có lẽ nỗi thương xót bỗng trào lên không sao nén nổi. Một tay vẫn giơ cành mai, một tay nàng nhẹ nhàng mở tay áo khoác màu tím nhạt, dịu dàng ôm con khỉ lên, rồi khẽ cúi mình trước cậu ấm, cất giọng trong trẻo:

— Xin cậu thứ lỗi, nó chỉ là con vật. Mong cậu tha cho nó.

Nhưng cậu ấm đang hăng máu đuổi tới, nên mặt cau lại, giậm chân hai ba cái:

— Sao lại che chở cho nó? Con khỉ ấy là đồ ăn trộm cam đấy.

— Nó chỉ là con vật…

Nàng nhắc lại một lần nữa, rồi mỉm cười buồn bã, như đã quyết, nói:

— Vả lại, nghe gọi Lương Tú, con thấy như cha con đang bị trách phạt, nên không sao đứng nhìn được.

Nghe vậy, đến cậu ấm cũng phải chịu nhún.

— Thế à. Đã là xin tha cho cha thì ta cũng đành tha vậy.

Cậu miễn cưỡng nói thế, vứt cành roi xuống, rồi quay về phía cánh cửa trượt lúc nãy.

Con gái Lương Tú với con khỉ nhỏ thân nhau từ đó. Nàng lấy chiếc chuông vàng được tiểu thư cho, buộc vào sợi dây đỏ thắm thật đẹp, đeo lên đầu con khỉ. Còn con khỉ thì có chuyện gì cũng hiếm khi rời xa nàng. Có lần nàng bị cảm phải nằm, con khỉ nhỏ cũng ngồi chực ngay bên gối, mặt trông như buồn rầu, chẳng biết có phải tại mình tưởng tượng không, cứ cắn móng tay mãi.

Tới nước này thì lạ thay, chẳng còn ai bắt nạt con khỉ như trước nữa. Mà không, người ta còn dần dần thương nó, sau cùng đến cậu ấm cũng thỉnh thoảng ném cho nó quả hồng, hạt dẻ. Chưa hết, có lần một võ sĩ nào đó đá con khỉ, cậu ấm còn nổi giận lắm. Nghe nói sau này Đức ông cất công truyền con gái Lương Tú bế con khỉ lên hầu, cũng là vì Ngài nghe chuyện cậu ấm nổi giận ấy. Nhân thể, Ngài hẳn cũng nghe được vì sao nàng thương con khỉ.

— Con bé có hiếu đấy. Ta thưởng cho.

Đức ông phán vậy, và lần ấy nàng được thưởng một chiếc áo lót màu đỏ. Thế rồi con khỉ cũng bắt chước, cung kính nâng chiếc áo lên quá đầu, khiến Đức ông càng thêm vui vẻ. Cho nên Đức ông đoái thương con gái Lương Tú hoàn toàn là vì khen tấm lòng hiếu thảo, tình thương nàng dành cho con khỉ, tuyệt nhiên không phải vì ham sắc như người đời đồn đại. Tuy rằng những lời đồn ấy dấy lên cũng có cái lẽ của nó, nhưng chuyện ấy để sau tôi sẽ thong thả kể. Ở đây chỉ cần thưa rằng, đẹp tới đâu đi nữa, Đức ông cũng không phải người để tâm tới con gái của một gã thợ vẽ.

Con gái Lương Tú được vinh dự rồi lui ra, nhưng vốn là người sáng dạ, nên không để đám thị nữ hèn kém kia sinh lòng ghen ghét. Trái lại, từ đó nàng cùng con khỉ càng được mọi người yêu mến, nhất là gần như chẳng bao giờ rời khỏi bên tiểu thư, mỗi lần tiểu thư ngồi xe đi xem hội, nàng chưa từng vắng mặt.

Nhưng chuyện người con gái, xin tạm gác lại, giờ tôi kể tiếp về người cha, Lương Tú. Con khỉ thì đúng là chẳng bao lâu đã được mọi người yêu mến như thế, nhưng chính Lương Tú thì vẫn bị ai nấy ghét, sau lưng vẫn bị gọi là Hầu Tú. Mà không chỉ trong phủ. Như vị tăng đô ở Hoành Xuyên, nhắc tới Lương Tú là biến sắc mặt, căm ghét như gặp phải ma chướng. Người ta bảo là vì Lương Tú từng vẽ tranh biếm hoạ hạnh kiểm của ngài, nhưng đó chỉ là lời đồn của kẻ dưới, nên tôi không dám chắc. Dẫu sao thì tiếng xấu của lão, hỏi ở đâu cũng chỉ toàn như thế. Nếu có ai không nói xấu lão, thì đó chỉ là dăm ba bạn đồng nghề, hoặc những người chỉ biết tranh lão mà không biết con người lão.

Mà thật ra, Lương Tú không chỉ có vẻ ngoài hèn hạ, lão còn có những thói xấu khiến người ta ghét hơn nữa, nên cũng chỉ có thể coi là tự làm tự chịu, chẳng còn cách nào khác.

Thói xấu ấy là keo kiệt, tham lam, trơ trẽn, lười biếng, hám lợi. Mà quá đáng nhất là ngạo mạn kiêu căng, lúc nào cũng vênh vang cái danh hoạ sĩ bậc nhất nước nhà. Giá chỉ trong nghề vẽ thì còn được, đằng này, khi lão đã cố chấp thì cả những tập quán, lệ thường của thế gian, lão cũng chẳng coi ra gì. Đây là chuyện một người theo học Lương Tú lâu năm kể lại. Một hôm, ở phủ một vị quý nhân, bà đồng Hi-ga-ki nổi tiếng bị hồn thiêng nhập, phán những lời ghê gớm, vậy mà lão giả như không nghe thấy, lấy bút mực có sẵn, cẩn thận vẽ lại gương mặt dữ tợn của bà đồng. Có lẽ trong mắt lão, cả cơn thịnh nộ của hồn thiêng cũng chỉ là trò doạ trẻ con.

Người như thế, nên khi vẽ Cát Tường Thiên Nữ, lão vẽ mặt một con hát hèn mọn. Khi vẽ Bất Động Minh Vương, lão lấy dáng một tên bộ khoái vô lại. Làm đủ thứ chuyện phạm thượng. Vậy mà bị ai trách, lão còn ngang nhiên bảo: Thần Phật do Lương Tú vẽ ra mà lại giáng hoạ xuống chính Lương Tú, nghe lạ thật đấy. Đến học trò lão cũng phải sững sờ, có không ít người sợ quả báo đời sau mà vội xin thôi. Nói gọn một câu, thì gọi là kiêu mạn chồng chất. Tóm lại, đó là kẻ cho rằng khắp gầm trời này không ai giỏi bằng mình.

Vậy thì trong nghề vẽ, Lương Tú tự cao tới mức nào, có lẽ chẳng cần phải thưa. Mà đến tranh của lão, từ nét bút tới màu sắc, cũng khác hẳn các hoạ sĩ khác, nên đám đồng nghiệp bất hoà với lão đồn rằng lão là kẻ bịp bợm. Họ bảo, tranh của các danh hoạ xưa như Xuyên Thành, Kim Cương, đều có những lời đồn thanh nhã: nào hoa mai trên cánh cửa gỗ cứ đêm trăng lại toả hương, nào người trong cung vẽ trên bình phong thổi sáo nghe được cả tiếng. Còn tranh Lương Tú thì bao giờ cũng chỉ có những lời đồn rùng rợn, kỳ quái. Chẳng hạn bức tranh Ngũ thú sinh tử lão vẽ trên cổng chùa Long Cái, người ta bảo đêm khuya đi qua dưới cổng, nghe thấy tiếng thiên nhân thở dài, tiếng khóc thút thít. Không, có người còn bảo ngửi thấy cả mùi xác chết đang thối rữa. Rồi những bức chân dung các thị nữ lão vẽ theo lệnh Đức ông, người được vẽ chưa tới ba năm đều mắc một thứ bệnh như mất hồn rồi chết. Kẻ nói xấu bảo rằng, đó là bằng chứng rõ nhất cho thấy tranh Lương Tú đã sa vào tà đạo.

Nhưng như tôi đã thưa, lão là kẻ ngang ngược, nên những chuyện ấy lại khiến lão càng thêm tự đắc. Có lần Đức ông nói đùa: Ngươi hình như chỉ ưa những thứ xấu xí. Lão nhếch đôi môi đỏ chót chẳng hợp tuổi, cười một cách gớm ghiếc, đáp xấc xược: Dạ, đúng thế ạ. Bọn thợ vẽ tầm thường thì làm sao hiểu được cái đẹp của những thứ xấu xí. Dù là hoạ sĩ bậc nhất nước nhà đi nữa, lão cũng thật to gan mới dám nói lời ngông cuồng ấy trước mặt Đức ông. Người học trò tôi vừa nhắc tới đã lén đặt cho thầy biệt hiệu Trí La Vĩnh Thọ, để chê cái thói kiêu căng, cũng chẳng phải không có lý. Chắc ai cũng biết, Trí La Vĩnh Thọ là tên một con yêu tinh mũi dài từ bên Tàu sang thuở xưa.

Thế nhưng, ngay cả Lương Tú, một kẻ ngang ngược không biết dùng lời nào cho xiết, cũng có được đúng một chỗ còn tình người.

Ấy là lão thương đứa con gái duy nhất đang làm thị nữ nhỏ kia, thương như điên dại. Như tôi đã thưa, con bé là người hết sức hiền hậu, có hiếu với cha. Nhưng lòng thương con của lão cũng chẳng kém chút nào. Chẳng phải lão, kẻ chưa từng bố thí một đồng cho chùa nào quyên góp, mà hễ tới quần áo hay đồ cài tóc cho con thì vung tiền chẳng chút tiếc tay, nghe như chuyện bịa đó sao.

Nhưng lão thương con thì chỉ thương thế thôi, chưa bao giờ nghĩ chuyện kén cho con một tấm chồng tử tế. Chẳng những thế, có kẻ nào buông lời ong bướm với con lão, thì lão sẵn sàng thuê đám du côn đầu đường đón đánh trong bóng tối. Cho nên khi con lão được Đức ông gọi vào làm thị nữ nhỏ, lão bố già rất không bằng lòng, một dạo vào chầu mà mặt mày lúc nào cũng cau có. Lời đồn rằng Đức ông say mê nhan sắc con gái lão, bất chấp cha nó không ưng mà vẫn bắt vào hầu, có lẽ là do những kẻ thấy vẻ mặt ấy mà đoán mò.

Nhưng lời đồn có sai đi nữa, thì một lòng thương con, lúc nào Lương Tú cũng cầu cho con được thả về, điều ấy là thật. Có lần, theo lệnh Đức ông, lão vẽ bức Văn Thù đồng tử, lấy mặt đứa trẻ hầu Đức ông yêu quý làm mẫu, vẽ rất đẹp, Đức ông hài lòng lắm, bèn ban lời quý hoá:

— Ngươi muốn gì, ta thưởng nấy. Cứ xin, đừng ngại.

Lương Tú cung kính, ai nấy đang chờ xem lão xin gì, thì lão trơ trẽn tâu:

— Xin Ngài cho con gái tôi được về nhà.

Phủ khác thì chẳng nói, chứ đang hầu hạ bên Đức ông Quật Xuyên, thương con tới đâu đi nữa, có nước nào lại có kẻ vô lễ xin cho thôi việc như thế. Đến Đức ông độ lượng là thế cũng có vẻ hơi phật ý, một lúc lâu Ngài chỉ lặng im nhìn mặt Lương Tú, rồi phán như nhổ ra:

— Không được.

Rồi Ngài đứng dậy bỏ đi ngay. Những chuyện như thế xảy ra trước sau có tới bốn năm lần. Giờ nghĩ lại, hình như mỗi lần như thế, ánh mắt Đức ông nhìn Lương Tú lại lạnh lùng thêm một chút. Còn người con gái, có lẽ vì lo cho thân cha, những lúc lui về phòng, hay cắn tay áo khóc thút thít. Thế là lời đồn Đức ông để ý con gái Lương Tú càng lan rộng. Có kẻ còn bảo sự tích bức bình phong địa ngục thật ra là vì người con gái không chịu chiều theo ý Đức ông, nhưng dĩ nhiên làm gì có chuyện ấy.

Trong mắt bọn tôi, Đức ông không cho con gái Lương Tú về, hoàn toàn là vì Ngài thương cảnh ngộ của nàng. Ngài có ý tốt rằng, thay vì để nàng về với ông bố gàn dở như thế, chi bằng giữ lại trong phủ, cho nàng sống không thiếu thốn gì. Dĩ nhiên, Ngài đoái thương người con gái hiền hậu ấy, điều đó không sai. Nhưng bảo là ham sắc thì có lẽ là gán ghép gượng ép. Không, đúng hơn phải nói là chuyện bịa hoàn toàn.

Chuyện ấy thế nào cũng được. Đúng vào lúc vì chuyện người con gái mà Lương Tú đã bị Đức ông không ưa như thế, thì chẳng biết Ngài nghĩ sao, bỗng cho gọi Lương Tú tới, truyền lão vẽ một bức bình phong cảnh địa ngục.

Nhắc tới bức bình phong địa ngục, tôi như thấy cảnh tượng khủng khiếp trên mặt tranh hiện ra rõ mồn một trước mắt.

Cũng là tranh địa ngục, nhưng bức Lương Tú vẽ, so với tranh của các hoạ sĩ khác, ngay từ bố cục đã chẳng giống. Ở một góc bình phong, lão vẽ nhỏ hình mười vị Diêm Vương cùng quyến thuộc, còn lại là một biển lửa hồng liên, đại hồng liên cuồn cuộn xoáy, tưởng như núi gươm, cây đao cũng sắp chảy rữa. Cho nên trừ những vệt vàng vệt chàm điểm xuyết trên áo xống kiểu Tàu của các quan cõi âm, thì nhìn đâu cũng chỉ thấy màu lửa hừng hực. Giữa biển lửa ấy, khói đen vẩy bằng mực và tàn lửa quạt bằng nhũ vàng cuộn xoáy cuồng loạn như hình chữ vạn.

Chỉ chừng ấy thôi, nét bút đã đủ làm người xem kinh hãi. Mà những tội nhân đang bị lửa nghiệp thiêu, quằn quại lăn lộn kia, gần như không một người nào giống tội nhân trong tranh địa ngục thông thường. Bởi trong đám tội nhân đông đảo ấy, Lương Tú vẽ đủ mọi hạng người, trên từ quan khanh tướng, dưới tới kẻ ăn mày, hạng cùng đinh. Quan trong triều xiêm áo uy nghiêm, thị nữ trẻ năm lớp áo lả lơi, sư niệm Phật đeo tràng hạt, học trò võ sĩ đi guốc cao, bé gái mặc áo dài, thầy âm dương giơ cao phướn giấy. Kể từng người ra thì không sao hết được. Tóm lại là đủ mọi hạng người ấy, giữa lửa khói cuộn trào, bị ngục tốt đầu trâu mặt ngựa hành hạ, tán loạn chạy trốn khắp bốn phương tám hướng như lá rụng bị gió lớn thổi tung. Người đàn bà bị chạc thép quấn tóc, co quắp tay chân hơn cả con nhện, có lẽ là một bà đồng. Gã đàn ông bị giáo xuyên ngực, treo lộn ngược như con dơi, hẳn là một viên quan trấn thủ mới nhậm chức. Còn có người bị roi sắt quất, người bị tảng đá nghìn cân đè, người bị chim quái mổ, người bị rồng độc ngoạm. Cực hình cũng nhiều như số tội nhân, chẳng biết bao nhiêu kiểu.

Nhưng trong tất cả, nổi bật nhất, ghê rợn nhất, là một cỗ xe bò đang từ giữa không trung rơi xuống, gần sượt qua ngọn một cây đao nhọn như nanh thú. Trên ngọn cây đao ấy cũng có bao nhiêu vong hồn bị xuyên qua thân thể. Sau tấm rèm xe bị gió địa ngục thổi tung, một người đàn bà xiêm áo lộng lẫy, đẹp như phi tần trong cung, mái tóc đen dài buông xoã bay trong lửa, cái cổ trắng ngả ra sau, đang quằn quại đau đớn. Dáng người đàn bà ấy, cỗ xe bò đang cháy rừng rực ấy, chẳng thứ gì không gợi lên cực hình của địa ngục lửa thiêu. Có thể nói cả nỗi kinh hoàng của mặt tranh rộng lớn dồn tụ vào một người ấy. Tranh tuyệt diệu như có thần nhập, tới mức người xem ngỡ như bên tai vẳng lên những tiếng gào thét thê thảm.

Ôi, chính là đây. Chính để vẽ cảnh này mà chuyện khủng khiếp kia đã xảy ra. Bằng không, dù là Lương Tú đi nữa, làm sao vẽ nổi nỗi thống khổ chốn âm ty sống động nhường ấy. Đổi lại việc vẽ xong bức bình phong, lão đã gặp một cảnh ngộ thảm khốc tới mức bỏ cả mạng mình. Có thể nói địa ngục trong tranh chính là địa ngục mà rồi một ngày kia, hoạ sĩ bậc nhất nước nhà Lương Tú sẽ tự mình sa xuống.

Có lẽ vì vội kể về bức bình phong địa ngục hiếm có ấy mà tôi đã kể đảo lộn trước sau. Nhưng từ đây, xin kể tiếp về Lương Tú, kẻ đã nhận lệnh Đức ông vẽ tranh địa ngục.

— Hết chương 1 —

Mục lục Bức bình phong địa ngục

  1. 1Phần một16 phút
  2. 2Phần haiĐang thu âm
  3. 3Phần baĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAkutagawa Ryūnosuke (1892 – 1927)
Năm mất1927
Xuất bản lần đầu1918
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: 地獄変 (Jigokuhen), Akutagawa Ryūnosuke, báo Ōsaka Mainichi và Tōkyō Nichinichi, 1918
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →