Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Một cái chết không trọn

Cái chết của Ô-li-vi-ê Bê-cai · Chương 1/4 · của Émile Zola

⏱ 20 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 21.467 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Tôi chết vào một sáng thứ Bảy, lúc sáu…
  2. 8:02Mác-gơ-rít cầm một bàn tay tôi đang buông thõng…
  3. 10:17Tội nghiệp cô bé! Tội nghiệp cô bé!
  4. 11:55Suỵt! Suỵt! Im đi nào!
  5. 14:08Bà Ga-banh quay vào, khẽ nói:
  6. 16:14Ông thầy thuốc khám người chết vẫn chưa thấy…
  7. 18:04Bà già nói:
  8. 19:03Ông hỏi tiếp:

Chương 1: Một cái chết không trọn

Tôi chết vào một sáng thứ Bảy, lúc sáu giờ, sau ba ngày ốm. Người vợ tội nghiệp của tôi đang lục tìm quần áo trong cái hòm. Khi đứng dậy, nàng thấy tôi nằm cứng đờ, mắt mở trừng trừng, không một hơi thở. Nàng chạy lại, tưởng tôi ngất, sờ tay tôi, cúi xuống nhìn mặt tôi. Rồi nỗi kinh hoàng ập tới, nàng cuống cuồng lắp bắp, oà lên khóc:

— Lạy Chúa! Lạy Chúa! Anh ấy chết rồi!

Tôi nghe thấy hết, nhưng những âm thanh yếu ớt như vọng từ rất xa lại. Chỉ còn con mắt trái của tôi thấy được một quầng sáng mờ mờ, một thứ ánh sáng trắng nhợt trong đó mọi vật tan vào nhau. Con mắt phải thì tê liệt hoàn toàn. Đó là một cơn ngất của toàn bộ con người tôi, như một tiếng sét đánh gục tôi. Ý chí của tôi đã chết, không còn một thớ thịt nào nghe lời tôi nữa. Vậy mà trong cõi hư vô ấy, ở bên trên tứ chi bất động, chỉ còn lại ý nghĩ, chậm chạp, uể oải, nhưng sáng rõ hoàn toàn.

Mác-gơ-rít tội nghiệp của tôi quỳ sụp bên giường mà khóc, giọng xé lòng, cứ nhắc đi nhắc lại:

— Anh ấy chết rồi, lạy Chúa! Anh ấy chết rồi!

Vậy đây là cái chết ư, cái trạng thái tê dại kỳ lạ này, cái thân xác bị đánh cho bất động trong khi trí óc vẫn làm việc? Có phải linh hồn tôi đang nán lại trong sọ như thế trước khi bay đi? Từ thuở nhỏ tôi đã hay lên những cơn thần kinh. Hai lần, hồi còn bé, những cơn sốt cấp tính suýt cướp tôi đi. Rồi những người quanh tôi đã quen thấy tôi ốm yếu, và chính tôi đã cấm Mác-gơ-rít đi gọi thầy thuốc khi tôi nằm liệt vào buổi sáng chúng tôi tới Pa-ri, trong cái khách sạn cho thuê phòng ở phố Đô-phin này. Nghỉ một chút là đủ, chỉ tại chuyến đi mệt mỏi khiến tôi ê ẩm thế thôi. Thế nhưng tôi thấy lòng đầy một nỗi lo âu kinh khủng. Chúng tôi đã đột ngột rời tỉnh nhà, nghèo lắm, chỉ có vừa đủ tiền để chờ lĩnh tháng lương đầu ở cái sở mà tôi đã xin được một chỗ làm. Thế mà giờ một cơn bệnh bất thình lình lại cướp tôi đi!

Có thật là chết không? Tôi vẫn tưởng tượng cái chết là một đêm đen hơn, một sự im lặng nặng nề hơn. Từ bé tí tôi đã sợ chết. Vì tôi ốm yếu, người ta hay vuốt ve tôi với vẻ thương hại, nên tôi luôn nghĩ mình sẽ không sống được, rằng người ta sẽ chôn tôi sớm. Và cái ý nghĩ về lòng đất làm tôi kinh hãi, một nỗi kinh hãi tôi không sao quen được, dù nó ám ảnh tôi cả ngày lẫn đêm. Lớn lên, tôi vẫn giữ nỗi ám ảnh ấy. Đôi khi, sau những ngày suy nghĩ, tôi tưởng mình đã thắng được nỗi sợ. Thì đã sao! Người ta chết, thế là hết. Ai rồi cũng có ngày chết. Chẳng có gì dễ dàng và tốt đẹp hơn. Tôi gần như vui được, tôi nhìn thẳng vào cái chết. Rồi một cơn rùng mình đột ngột làm tôi lạnh toát, ném tôi trở lại cơn chóng mặt, như thể có một bàn tay khổng lồ đang đung đưa tôi trên một vực thẳm đen ngòm. Chính cái ý nghĩ về lòng đất lại trở về, cuốn phăng mọi lý lẽ của tôi. Đã bao nhiêu đêm tôi choàng tỉnh giấc, chẳng biết hơi thở nào vừa lướt qua giấc ngủ của mình, tuyệt vọng chắp tay lại, lắp bắp: "Lạy Chúa! Lạy Chúa! Rồi phải chết!" Một nỗi bồn chồn bóp nghẹt ngực tôi. Trong cơn choáng váng lúc thức dậy, cái tất yếu của cái chết càng có vẻ ghê tởm hơn. Tôi khó khăn lắm mới ngủ lại được. Giấc ngủ làm tôi lo, vì nó giống cái chết quá. Nhỡ mình ngủ mãi! Nhỡ mình nhắm mắt lại để không bao giờ mở ra nữa!

Tôi không biết những người khác có chịu nỗi dày vò này không. Nó đã tàn phá cuộc đời tôi. Cái chết đứng chắn giữa tôi và tất cả những gì tôi yêu. Tôi nhớ những giây phút hạnh phúc nhất bên Mác-gơ-rít. Trong những tháng đầu mới cưới, khi đêm đêm nàng ngủ bên cạnh tôi, khi tôi nghĩ tới nàng và mơ về tương lai, thì nỗi chờ đợi một cuộc chia lìa định mệnh lúc nào cũng làm hỏng niềm vui, phá tan hy vọng của tôi. Sẽ phải xa nhau, có thể ngày mai, có thể một giờ nữa. Một nỗi chán chường mênh mông xâm chiếm tôi. Tôi tự hỏi được ở bên nhau hạnh phúc để làm gì, khi rồi nó phải kết thúc bằng một cuộc chia lìa tàn nhẫn đến thế. Bấy giờ trí tưởng tượng của tôi lại thích đắm mình trong tang tóc. Ai sẽ đi trước, nàng hay tôi? Và cả hai khả năng đều làm tôi mủi lòng tới rơi lệ, khi chúng bày ra trước mắt tôi cảnh hai cuộc đời tan vỡ. Vào những quãng tốt đẹp nhất của đời mình, tôi đã có những cơn u sầu đột ngột như thế, chẳng ai hiểu nổi. Khi gặp may, người ta lại ngạc nhiên thấy tôi ủ rũ. Ấy là vì bất chợt cái ý nghĩ về sự hư vô của tôi vừa vụt qua niềm vui. Câu hỏi khủng khiếp "Để làm gì?" vang lên bên tai tôi như tiếng chuông báo tử. Nhưng điều tệ nhất của nỗi dày vò này là người ta phải chịu đựng nó trong một nỗi xấu hổ thầm kín. Người ta không dám nói nỗi khổ ấy với ai. Nhiều khi vợ chồng nằm cạnh nhau, khi đèn đã tắt, hẳn cùng rùng mình một cơn rùng mình như nhau, mà chẳng ai nói gì, vì người ta không nói về cái chết, cũng như không nói ra những lời tục tĩu. Người ta sợ nó tới mức không dám gọi tên nó, người ta giấu nó như giấu điều thầm kín nhất của mình.

Tôi nghĩ tới những điều ấy, trong khi Mác-gơ-rít yêu dấu của tôi vẫn nức nở. Tôi buồn lắm vì không biết làm sao vỗ về nỗi đau của nàng, nói với nàng rằng tôi không đau đớn gì. Nếu cái chết chỉ là sự ngất lịm của thân xác như thế này, thì quả thật tôi đã sai khi sợ nó đến vậy. Đó là một thứ dễ chịu ích kỷ, một sự nghỉ ngơi trong đó tôi quên hết mọi lo âu. Nhất là trí nhớ của tôi trở nên sắc sảo lạ thường. Cả cuộc đời tôi lướt nhanh qua trước mắt, như một vở diễn mà giờ đây tôi thấy mình là người ngoài cuộc. Một cảm giác kỳ lạ và thú vị khiến tôi thấy vui vui: như có một giọng nói xa xăm đang kể lại chuyện đời tôi.

Có một góc đồng quê gần Ghê-răng, trên con đường đi Pi-ri-ắc, mà kỷ niệm cứ đeo đuổi tôi. Con đường rẽ ngoặt, một rừng thông nhỏ đổ xuống lộn xộn theo một sườn dốc đá. Năm tôi lên bảy, tôi thường cùng cha tới đó, vào một ngôi nhà đổ nát một nửa, ăn bánh kếp ở nhà cha mẹ Mác-gơ-rít, những người làm muối đã sống chật vật nhờ mấy ruộng muối gần đấy. Rồi tôi nhớ tới trường trung học ở Năng-tơ, nơi tôi lớn lên giữa nỗi buồn chán của những bức tường cũ, lúc nào cũng thèm khát chân trời rộng mở của Ghê-răng, những ruộng muối trải tít tắp dưới chân thành, và biển cả mênh mông trải dài dưới bầu trời. Tới đây thì một cái hố đen hiện ra: cha tôi mất, tôi vào làm nhân viên văn phòng ở nhà thương, bắt đầu một cuộc đời đơn điệu, với niềm vui duy nhất là những buổi chủ nhật tới thăm ngôi nhà cũ trên đường Pi-ri-ắc. Mọi việc ở đó mỗi ngày một tệ hơn, vì ruộng muối gần như chẳng còn thu được gì, và cả vùng sa vào cảnh khốn cùng. Mác-gơ-rít khi ấy còn là một đứa trẻ. Cô bé quý tôi vì tôi hay đẩy cô đi chơi trên chiếc xe cút kít. Nhưng về sau, vào buổi sáng tôi xin cưới nàng, nhìn cái cử chỉ hoảng hốt của nàng, tôi hiểu rằng nàng thấy tôi xấu xí kinh khủng. Cha mẹ nàng gả nàng cho tôi ngay, như thế là bớt được một gánh nặng. Nàng thì ngoan ngoãn, không nói không. Khi đã quen với ý nghĩ làm vợ tôi, nàng không còn có vẻ khó chịu lắm nữa. Hôm cưới ở Ghê-răng, tôi nhớ trời mưa như trút, và khi về tới nhà, nàng phải cởi áo chỉ mặc váy lót, vì áo cưới ướt sũng.

Tuổi trẻ của tôi chỉ có thế. Chúng tôi sống ở đó một thời gian. Rồi một hôm về nhà, tôi bắt gặp vợ tôi đang khóc nức nở. Nàng buồn chán, nàng muốn đi. Sau sáu tháng, tôi dành dụm được ít tiền, góp từng xu nhờ làm thêm. Lại có một người bạn cũ của gia đình lo tìm cho tôi một chỗ làm ở Pa-ri, thế là tôi đưa em bé thân yêu của tôi đi, để nàng khỏi khóc nữa. Trên tàu hoả nàng cười. Ban đêm, ghế toa hạng ba cứng quá, tôi bế nàng lên đùi để nàng được ngủ êm.

Quá khứ là như thế. Và vào giờ phút này, tôi vừa chết trên cái giường hẹp của khách sạn cho thuê phòng, trong khi vợ tôi quỳ sụp trên nền gạch mà than khóc. Cái vệt trắng mà con mắt trái tôi còn nhìn thấy cứ nhạt dần. Nhưng tôi nhớ rất rõ căn phòng. Bên trái là cái tủ ngăn kéo. Bên phải là lò sưởi, giữa lò sưởi có một chiếc đồng hồ hỏng, không có quả lắc, kim chỉ mười giờ sáu phút. Cửa sổ mở ra phố Đô-phin sâu hun hút và tối tăm. Cả Pa-ri đi qua đó, ồn ào tới mức tôi nghe thấy cửa kính rung lên.

Ở Pa-ri chúng tôi chẳng quen ai. Vì đi vội, nên phải tới thứ Hai tuần sau sở mới chờ tôi tới làm. Từ khi tôi phải nằm liệt giường, cảnh bị giam trong căn phòng mà chuyến đi đã ném chúng tôi vào thật là một cảm giác lạ lùng. Chúng tôi vẫn còn ngơ ngác vì mười lăm giờ đi tàu, choáng váng vì cảnh náo động ngoài phố. Vợ tôi chăm sóc tôi với vẻ dịu dàng tươi cười, nhưng tôi cảm thấy nàng bối rối biết bao. Chốc chốc nàng lại tới bên cửa sổ, liếc nhìn ra phố, rồi quay lại, mặt tái mét, sợ hãi trước cái Pa-ri to lớn mà nàng chẳng biết lấy một hòn đá, cái Pa-ri đang gầm gừ khủng khiếp ấy. Nàng sẽ làm gì đây, nếu tôi không tỉnh lại nữa? Nàng sẽ ra sao giữa thành phố mênh mông này, một mình, không nơi nương tựa, chẳng biết gì?

Mác-gơ-rít cầm một bàn tay tôi đang buông thõng bất động bên mép giường. Nàng hôn nó, và cứ cuống cuồng nhắc mãi:

— Ô-li-vi-ê, trả lời em đi... Lạy Chúa! Anh ấy chết rồi! Anh ấy chết rồi!

Vậy thì chết không phải là hư vô, vì tôi vẫn nghe và vẫn suy nghĩ. Từ thuở nhỏ, chỉ có hư vô là làm tôi kinh hãi. Tôi không sao hình dung nổi con người mình biến mất, cái tôi bị xoá sạch hoàn toàn, và mãi mãi, suốt bao thế kỷ, bao thế kỷ nữa, mà sự sống của tôi không bao giờ bắt đầu lại được. Đôi khi tôi rùng mình khi đọc trên báo thấy một mốc năm của thế kỷ sau: chắc chắn tới năm ấy tôi không còn sống nữa, và cái năm của một tương lai mà tôi sẽ không thấy, nơi tôi sẽ không có mặt, làm tôi đầy lo âu. Chẳng phải tôi là cả thế giới sao, và khi tôi ra đi, chẳng phải mọi thứ sẽ sụp đổ cả sao?

Mơ về sự sống ngay trong cái chết, đó vẫn luôn là hy vọng của tôi. Nhưng hẳn đây không phải là chết. Chắc chắn lát nữa tôi sẽ tỉnh lại. Phải, lát nữa thôi, tôi sẽ cúi xuống ôm Mác-gơ-rít vào lòng, lau khô nước mắt cho nàng. Gặp lại nhau, vui sướng biết bao! Và chúng tôi sẽ yêu nhau nhiều hơn nữa! Tôi sẽ nghỉ thêm hai ngày, rồi tới sở làm. Một cuộc đời mới sẽ bắt đầu cho chúng tôi, hạnh phúc hơn, rộng rãi hơn. Có điều tôi chẳng vội. Lúc này tôi mệt mỏi quá. Mác-gơ-rít tuyệt vọng như thế là sai, vì tôi chẳng thấy mình đủ sức quay đầu trên gối để mỉm cười với nàng. Lát nữa, khi nàng lại nói:

— Anh ấy chết rồi! Lạy Chúa! Anh ấy chết rồi!

thì tôi sẽ ôm hôn nàng, thì thầm thật khẽ cho nàng khỏi sợ:

— Đâu có, em yêu. Anh ngủ đấy thôi. Em thấy không, anh vẫn sống, anh vẫn yêu em.

Nghe tiếng Mác-gơ-rít kêu khóc, cánh cửa bỗng bật mở, một giọng nói vang lên:

— Có chuyện gì thế, cô hàng xóm? Lại lên cơn nữa phải không?

Tôi nhận ra giọng ấy. Đó là bà Ga-banh, một bà già ở cùng tầng với chúng tôi. Ngay từ hôm chúng tôi tới, bà đã tỏ ra rất tốt bụng, xúc động vì hoàn cảnh của chúng tôi. Bà kể ngay chuyện đời mình. Mùa đông năm ngoái, một lão chủ nhà không chút nể nang đã phát mại hết đồ đạc của bà, và từ đó bà ở khách sạn, cùng con gái là A-đen, người ta gọi là Đê-đê, một con bé mười tuổi. Hai mẹ con cắt chao đèn, làm cái việc ấy mỗi ngày kiếm được cùng lắm bốn mươi xu.

Bà hạ giọng hỏi:

— Lạy Chúa! Thế là xong rồi sao?

Tôi biết bà đang lại gần. Bà nhìn tôi, sờ vào tôi, rồi thương hại nói:

— Tội nghiệp cô bé! Tội nghiệp cô bé!

Mác-gơ-rít kiệt sức, nấc lên như một đứa trẻ. Bà Ga-banh đỡ nàng dậy, cho nàng ngồi vào chiếc ghế bành khập khiễng cạnh lò sưởi, và ở đó bà cố an ủi nàng.

— Thật đấy, cô sẽ ốm mất thôi. Chồng cô đi rồi, đâu phải vì thế mà cô phải tuyệt vọng tới chết. Dĩ nhiên, hồi tôi mất ông Ga-banh nhà tôi, tôi cũng y như cô, ba ngày liền không nuốt nổi một miếng bằng chừng này. Nhưng chẳng được ích gì, ngược lại, càng làm tôi suy sụp thêm. Nào, vì lòng kính Chúa, cô hãy biết điều một chút.

Dần dần Mác-gơ-rít nín. Nàng đã kiệt sức, chốc chốc một cơn khóc lại làm nàng run lên. Trong lúc đó bà già làm chủ căn phòng, với một vẻ quyền hành cộc cằn.

Bà cứ nhắc đi nhắc lại:

— Cô đừng lo gì cả. Vừa may con Đê-đê đi giao hàng, mà hàng xóm với nhau thì phải giúp nhau chứ. Này, hòm xiểng của cô chưa dỡ hết, nhưng trong tủ ngăn kéo có khăn có vải chứ hả?

Tôi nghe bà mở tủ. Hẳn bà lấy một chiếc khăn, đem trải lên chiếc bàn đầu giường. Rồi bà quẹt diêm, khiến tôi nghĩ bà đang thắp bên cạnh tôi một cây nến lấy trên lò sưởi, thay cho nến tang. Tôi theo dõi từng cử động của bà trong phòng, tôi biết hết mọi việc nhỏ nhặt nhất bà làm.

Bà lẩm bẩm:

— Tội nghiệp ông ấy! May mà tôi nghe thấy cô kêu, cô em ạ.

Và bỗng nhiên, cái quầng sáng mờ mờ mà con mắt trái tôi vẫn còn nhìn thấy biến mất. Bà Ga-banh vừa vuốt mắt cho tôi. Tôi không cảm thấy ngón tay bà trên mi mắt mình. Khi hiểu ra, một luồng lạnh nhẹ bắt đầu thấm vào người tôi.

Nhưng cánh cửa lại mở. Đê-đê, con bé mười tuổi, chạy vào, giọng lanh lảnh:

— Mẹ ơi! Mẹ ơi! A, con biết ngay mẹ ở đây mà! Đây, tiền của mẹ đây, ba quan bốn xu. Con mang trả hai mươi tá chao đèn rồi.

Bà mẹ nhắc mãi, chẳng ăn thua:

— Suỵt! Suỵt! Im đi nào!

Thấy con bé vẫn nói, bà chỉ cho nó cái giường. Đê-đê im bặt, và tôi cảm thấy nó lo lắng, lùi dần về phía cửa.

Nó hỏi thật khẽ:

— Ông ấy ngủ à mẹ?

Bà Ga-banh đáp:

— Ừ, ra ngoài chơi đi.

Nhưng con bé không đi. Hẳn nó đang nhìn tôi bằng đôi mắt mở to, hoảng hốt, lờ mờ hiểu ra. Đột nhiên nó như bị một cơn sợ điên cuồng chụp lấy, bỏ chạy, làm đổ cả một chiếc ghế.

— Ông ấy chết rồi, mẹ ơi, ông ấy chết rồi.

Một sự im lặng nặng nề bao trùm. Mác-gơ-rít ngồi lả trong ghế bành, không khóc nữa. Bà Ga-banh vẫn đi lại lăng xăng trong phòng. Bà lại lầm bầm trong miệng:

— Trẻ con thời buổi này cái gì cũng biết. Cô xem cái con ấy. Có Chúa biết tôi dạy nó cẩn thận thế nào! Mỗi lần nó đi mua đồ hay tôi sai nó đi giao hàng, tôi tính từng phút để chắc chắn nó không la cà. Ấy thế mà chẳng ăn thua, cái gì nó cũng biết, liếc mắt một cái là nó hiểu chuyện gì rồi. Vậy mà người ta mới cho nó xem có mỗi một người chết, là ông cậu Phrăng-xoa của nó, hồi ấy nó còn chưa lên bốn. Thôi thì, bây giờ chẳng còn trẻ con nữa, biết làm sao được!

Bà ngừng lại, rồi chẳng rào đón gì, bà nói ngay sang chuyện khác:

— Này, cô em, phải lo đến thủ tục đi thôi, khai báo ở toà thị chính, rồi đủ thứ việc cho đám tang. Cô đâu còn sức mà lo mấy việc ấy. Tôi thì không muốn để cô ở một mình. Thế này nhé, nếu cô cho phép, tôi đi xem ông Xi-mô-nô có nhà không.

Mác-gơ-rít không trả lời. Tôi chứng kiến tất cả những cảnh ấy như từ rất xa. Có lúc tôi thấy như mình đang bay, như một ngọn lửa mỏng manh, trong không khí căn phòng, trong khi một kẻ lạ, một khối không hình thù nằm bất động trên giường. Tuy vậy, tôi rất muốn Mác-gơ-rít từ chối sự giúp đỡ của cái anh Xi-mô-nô ấy. Tôi đã thấy anh ta ba bốn lần trong mấy ngày ốm ngắn ngủi. Anh ta ở phòng bên cạnh và tỏ ra rất sốt sắng. Bà Ga-banh kể với chúng tôi anh ta chỉ ở Pa-ri ít lâu, tới để đòi mấy món nợ cũ của cha mình, một người đã về hưu ở tỉnh và mới mất. Đó là một chàng trai cao lớn, rất đẹp, rất khoẻ. Tôi ghét anh ta, có lẽ vì anh ta khoẻ mạnh. Hôm qua anh ta còn ghé vào, và tôi đã khổ sở khi thấy anh ta ngồi cạnh Mác-gơ-rít. Bên cạnh anh ta, nàng xinh xắn biết bao, trắng trẻo biết bao! Và anh ta đã nhìn nàng đắm đuối biết bao, trong khi nàng mỉm cười với anh, bảo anh thật tốt bụng đã sang hỏi thăm tôi!

Bà Ga-banh quay vào, khẽ nói:

— Ông Xi-mô-nô đây rồi.

Anh ta khẽ đẩy cửa, và vừa thấy anh, Mác-gơ-rít lại oà lên khóc. Sự có mặt của người bạn ấy, người đàn ông duy nhất nàng quen, đánh thức lại nỗi đau trong nàng. Anh không tìm cách an ủi nàng. Tôi không nhìn thấy anh, nhưng trong bóng tối bao bọc lấy tôi, tôi hình dung ra khuôn mặt anh, và tôi thấy rõ anh đang bối rối, buồn bã khi thấy người đàn bà tội nghiệp tuyệt vọng đến thế. Vậy mà hẳn nàng đẹp lắm, với mái tóc vàng xoã ra, khuôn mặt tái nhợt, đôi bàn tay bé bỏng yêu dấu nóng hổi vì sốt!

Xi-mô-nô khẽ nói:

— Tôi xin sẵn sàng giúp bà. Nếu bà cho phép tôi lo liệu mọi việc...

Nàng chỉ đáp lại bằng mấy lời đứt quãng. Nhưng khi chàng trai đi ra, bà Ga-banh đi theo, và tôi nghe bà nói chuyện tiền nong khi đi qua chỗ tôi. Việc này bao giờ cũng tốn kém lắm. Bà sợ cô bé tội nghiệp chẳng có lấy một xu. Dù sao thì cũng có thể hỏi cô ta. Xi-mô-nô bảo bà già im đi. Anh không muốn người ta làm phiền Mác-gơ-rít. Anh sẽ ghé qua toà thị chính và đặt đám tang.

Khi im lặng trở lại, tôi tự hỏi cơn ác mộng này còn kéo dài bao lâu nữa. Tôi vẫn sống, vì tôi nhận biết được mọi việc nhỏ nhất bên ngoài. Và tôi bắt đầu hiểu rõ tình trạng của mình. Hẳn đây là một trong những ca chứng giữ nguyên thế, chứng cứng đờ người mà tôi từng nghe nói. Hồi còn bé, vào thời tôi bị bệnh thần kinh nặng, tôi đã từng ngất đi hàng mấy giờ liền. Rõ ràng là một cơn như thế đang giữ tôi cứng đờ, như chết, và đánh lừa mọi người quanh tôi. Nhưng tim sẽ đập lại, máu sẽ lại chảy khi các bắp thịt dãn ra, và tôi sẽ tỉnh dậy, tôi sẽ an ủi Mác-gơ-rít. Nghĩ thế, tôi tự nhủ phải kiên nhẫn.

Những giờ trôi qua. Bà Ga-banh đã mang bữa trưa của bà sang. Mác-gơ-rít không chịu ăn gì. Rồi buổi chiều trôi qua. Qua khung cửa sổ để ngỏ, những tiếng ồn của phố Đô-phin vọng lên. Nghe tiếng chân nến bằng đồng khẽ kêu lanh canh trên mặt đá cẩm thạch của bàn đầu giường, tôi đoán người ta vừa thay nến. Cuối cùng Xi-mô-nô quay lại.

Bà già hỏi khẽ:

— Thế nào?

Anh đáp:

— Xong cả rồi. Đám tang định vào mười một giờ sáng mai. Bà đừng lo gì cả, và đừng nói những chuyện ấy trước mặt người đàn bà tội nghiệp này.

Bà Ga-banh vẫn nói:

— Ông thầy thuốc khám người chết vẫn chưa thấy tới.

Xi-mô-nô tới ngồi cạnh Mác-gơ-rít, động viên nàng, rồi im lặng. Đám tang vào mười một giờ sáng mai: câu nói ấy vang dội trong sọ tôi như tiếng chuông báo tử. Còn ông thầy thuốc ấy, sao mãi không tới, ông thầy thuốc khám người chết, như bà Ga-banh gọi! Ông ta thì sẽ thấy ngay rằng tôi chỉ đang hôn mê thôi. Ông sẽ làm những gì cần làm, ông sẽ biết cách đánh thức tôi. Tôi chờ ông trong một nỗi sốt ruột kinh khủng.

Thế mà ngày cứ trôi đi. Để khỏi phí thì giờ, bà Ga-banh rốt cuộc mang cả chao đèn sang làm. Lại còn xin phép Mác-gơ-rít cho con Đê-đê sang, vì bà bảo bà chẳng thích để trẻ con ở một mình lâu.

Bà khẽ bảo, dắt con bé vào:

— Nào, vào đi, đừng có làm trò, không được nhìn về phía ấy, không thì biết tay tao.

Bà cấm nó nhìn tôi, bà thấy như thế đứng đắn hơn. Chắc chắn thỉnh thoảng Đê-đê vẫn lén liếc nhìn, vì tôi nghe bà mẹ phát vào tay nó đen đét. Bà giận dữ nhắc mãi:

— Làm đi, không tao tống ra ngoài. Đêm nay ông ấy sẽ đến kéo chân mày đấy.

Hai mẹ con ngồi trước bàn của chúng tôi. Tiếng kéo cắt chao đèn của họ vọng tới tôi rõ mồn một. Loại chao này rất tinh xảo, hẳn phải cắt cầu kỳ, nên họ làm chẳng nhanh. Tôi đếm từng chiếc một, để chống lại nỗi lo âu cứ dâng lên mãi.

Trong căn phòng chỉ còn tiếng kéo khe khẽ. Mác-gơ-rít, mệt quá, hẳn đã thiếp đi. Hai lần Xi-mô-nô đứng dậy. Cái ý nghĩ ghê tởm rằng anh ta đang lợi dụng lúc Mác-gơ-rít ngủ để lướt môi lên tóc nàng dày vò tôi. Tôi không quen người đàn ông này, nhưng tôi cảm thấy anh ta yêu vợ tôi. Một tiếng cười của con bé Đê-đê càng làm tôi bực tức.

Bà mẹ hỏi nó:

— Mày cười cái gì, đồ ngốc? Tao cho mày ra ngoài chiếu nghỉ bây giờ. Nào, trả lời đi, cái gì làm mày cười?

Con bé ấp úng. Nó không cười, nó ho. Còn tôi, tôi tưởng tượng nó đã thấy Xi-mô-nô cúi xuống Mác-gơ-rít, và thấy thế là buồn cười.

Đèn đã thắp lên thì có tiếng gõ cửa.

Bà già nói:

— À, ông thầy thuốc tới rồi.

Đúng là ông thầy thuốc. Ông chẳng buồn xin lỗi vì tới muộn thế. Hẳn trong ngày ông đã phải leo bao nhiêu là tầng gác. Vì ngọn đèn soi căn phòng rất mờ, ông hỏi:

— Xác ở đây à?

Xi-mô-nô đáp:

— Vâng, thưa ông.

Mác-gơ-rít đã đứng dậy, run rẩy. Bà Ga-banh đã đưa Đê-đê ra ngoài chiếu nghỉ, vì trẻ con không cần chứng kiến cảnh ấy. Rồi bà cố kéo vợ tôi ra phía cửa sổ, để nàng khỏi phải nhìn.

Trong khi đó, ông thầy thuốc bước nhanh lại gần. Tôi đoán ông mệt mỏi, vội vã, sốt ruột. Ông có cầm tay tôi không? Ông có đặt tay lên tim tôi không? Tôi không biết được. Nhưng tôi thấy hình như ông chỉ cúi xuống với vẻ thờ ơ.

Xi-mô-nô sốt sắng ngỏ ý:

— Ông có cần tôi cầm đèn soi cho ông không?

Ông thầy thuốc bình thản đáp:

— Không, không cần.

Sao! Không cần! Người này nắm cả mạng sống tôi trong tay, mà lại thấy không cần khám xét cẩn thận. Nhưng tôi đâu có chết! Tôi muốn gào lên rằng tôi chưa chết!

Ông hỏi tiếp:

— Ông ta chết lúc mấy giờ?

Xi-mô-nô đáp:

— Lúc sáu giờ sáng.

Một cơn phẫn nộ điên cuồng dâng lên trong tôi, giữa những sợi dây trói khủng khiếp đang buộc chặt tôi. Ôi! Không nói được, không cựa quậy được một chân một tay!

Ông thầy thuốc nói thêm:

— Thời tiết oi bức này không tốt... Chẳng gì mệt người bằng những ngày đầu xuân thế này.

Rồi ông đi ra. Chính mạng sống của tôi đang đi ra. Những tiếng thét, những giọt nước mắt, những lời chửi rủa làm tôi nghẹt thở, xé toạc cổ họng co thắt của tôi, nơi không còn một hơi thở nào lọt qua. Ôi, đồ khốn nạn, thói quen nghề nghiệp đã biến hắn thành một cái máy, hắn đến bên giường người chết với ý nghĩ chỉ là làm cho xong một thủ tục! Vậy là hắn chẳng biết gì cả! Vậy là cả cái khoa học của hắn đều dối trá, vì hắn không phân biệt nổi sự sống với cái chết bằng một cái liếc mắt! Thế mà hắn đi, hắn đi mất rồi!

Xi-mô-nô nói:

— Chào ông.

Một sự im lặng. Hẳn ông thầy thuốc đang cúi chào Mác-gơ-rít, nàng đã quay lại, trong khi bà Ga-banh đóng cửa sổ. Rồi ông ra khỏi phòng, tôi nghe tiếng chân ông xuống cầu thang.

Thôi, thế là hết, tôi bị kết án rồi. Hy vọng cuối cùng của tôi đã biến mất cùng người ấy. Nếu tôi không tỉnh lại trước mười một giờ sáng mai, người ta sẽ chôn sống tôi. Ý nghĩ ấy khủng khiếp tới mức tôi không còn biết gì về những thứ quanh mình nữa. Như thể một cơn ngất ngay trong chính cái chết. Tiếng động cuối cùng tôi nghe được là tiếng kéo khe khẽ của bà Ga-banh và Đê-đê. Đêm canh xác bắt đầu. Không ai nói gì nữa. Mác-gơ-rít đã từ chối sang ngủ ở phòng bà hàng xóm. Nàng ở đó, nửa nằm trong lòng ghế bành, với khuôn mặt đẹp tái nhợt, đôi mắt nhắm, hàng mi còn đẫm nước mắt. Còn Xi-mô-nô lặng lẽ ngồi trong bóng tối trước mặt nàng, nhìn nàng.

— Hết chương 1 —

Mục lục Cái chết của Ô-li-vi-ê Bê-cai

  1. 1Một cái chết không trọn20 phút
  2. 2Áo quan và huyệt mộĐang thu âm
  3. 3Dưới sáu bộ đấtĐang thu âm
  4. 4Người đã chếtĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảÉmile Zola (1840 – 1902)
Năm mất1902
Xuất bản lần đầu1879
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: La Mort d’Olivier Bécaille, trong tập Naïs Micoulin, 1884, bản Wikisource tiếng Pháp
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →