Giờ tôi chẳng còn coi Xtí-vơn Ma-cây ra gì nữa, dù ngày trước tôi từng thề sống thề chết vì hắn. Tôi biết hồi ấy tôi thương hắn hơn cả anh ruột mình. Nếu có ngày gặp lại Xtí-vơn Ma-cây, tôi không dám chắc mình sẽ làm gì đâu. Tôi không sao hiểu nổi, một người từng chia nhau miếng ăn tấm chăn, từng cùng tôi lùa chó vượt đèo Chin-cút, lại có thể trở mặt như thế. Tôi vẫn luôn đánh giá Xtíp là người ngay thẳng, một người bạn tốt bụng, trong bụng chẳng có lấy một chút thù vặt hay hiểm độc. Từ nay tôi chẳng bao giờ tin vào con mắt nhìn người của mình nữa. Trời ơi, tôi đã chăm hắn qua cơn sốt thương hàn. Chúng tôi đã cùng nhau nhịn đói ở thượng nguồn sông Xtiu-ớt. Hắn đã cứu mạng tôi trên sông Xa-mơn Nhỏ. Vậy mà giờ đây, sau ngần ấy năm bên nhau, điều duy nhất tôi có thể nói về Xtí-vơn Ma-cây là: hắn là kẻ chơi khăm nhất tôi từng biết.
Chúng tôi lên đường tới Clôn-đai-cơ trong đợt đổ xô tìm vàng mùa thu năm 1897, và đi trễ quá nên không kịp vượt đèo Chin-cút trước khi sông đóng băng. Chúng tôi cõng đồ đạc trên lưng được nửa chặng thì tuyết bắt đầu rơi, đành phải mua chó để kéo xe trượt chặng còn lại. Vì thế mà chúng tôi rước về cái thằng Đốm ấy. Chó hồi đó đắt, chúng tôi trả cho nó một trăm mười đô la. Trông nó đáng đồng tiền. Tôi nói "trông", là vì nó là một trong những con chó đẹp mã nhất tôi từng thấy. Nó nặng hơn hai mươi lăm cân, và có đủ mọi đường nét của một con chó kéo xe giỏi. Chẳng bao giờ chúng tôi đoán ra nó thuộc giống gì. Nó không phải chó kéo xe Ét-ki-mô, không phải chó Ma-lơ-miu, cũng không phải chó vịnh Hớt-xơn. Trông nó giống tất cả mà chẳng giống con nào. Lại còn pha chút máu chó của người da trắng, vì ở một bên sườn, giữa cái màu lông lẫn lộn vàng, nâu, đỏ với trắng bẩn của nó, có một vết đen như than, to bằng cái xô nước. Vì thế chúng tôi gọi nó là Đốm.
Nó đẹp mã thật. Những lúc sung sức, cơ bắp nó nổi cuồn cuộn khắp người. Đó là con vật trông khoẻ nhất tôi từng thấy ở A-lát-xca, và cũng trông thông minh nhất. Nhìn qua nó, người ta tưởng nó kéo khoẻ hơn ba con chó cùng cân nặng. Có thể lắm, nhưng tôi chưa thấy bao giờ. Trí khôn của nó không chạy theo hướng ấy. Nó ăn cắp và lục lọi kiếm ăn thì tuyệt hảo. Nó có một thứ bản năng đáng sợ để đoán trước lúc nào sắp phải làm việc mà lẩn đi cho kịp. Còn chuyện đi lạc rồi không chịu lạc luôn thì nó đúng là thiên tài. Nhưng hễ tới lúc làm việc, thì cái trí khôn ấy cứ rỉ ra khỏi người nó, để lại một cục thạch nhũn nhẽo, ngu ngơ, lẩy bẩy, nhìn mà đứt ruột.
Có những lúc tôi nghĩ đó không phải là ngu. Có lẽ, giống vài người tôi biết, nó khôn quá nên không chịu làm. Tôi chẳng lấy làm lạ nếu nó đã dùng cái trí khôn ấy mà xỏ mũi chúng tôi. Có lẽ nó đã tính toán kỹ, rồi quyết rằng thỉnh thoảng ăn một trận đòn mà khỏi làm gì cả thì hơn đứt làm suốt ngày mà khỏi bị đòn. Nó đủ khôn để tính được một phép tính như thế. Tôi nói thật, tôi đã từng ngồi nhìn vào mắt con chó ấy cho tới khi rùng mình ớn lạnh dọc sống lưng, tuỷ trong xương như lên men, vì cái trí khôn tôi thấy toả ra từ đó. Tôi không diễn tả được cái trí khôn ấy. Nó vượt quá lời lẽ. Tôi đã thấy nó, thế thôi. Có những lúc nhìn vào mắt nó cứ như nhìn vào một linh hồn người. Và những gì tôi thấy ở đó làm tôi sợ, làm nảy ra trong đầu tôi đủ thứ ý nghĩ về đầu thai chuyển kiếp và đủ chuyện khác. Tôi nói thật, tôi cảm thấy có điều gì lớn lao trong mắt con vật ấy. Có một thông điệp ở đó, nhưng bản thân tôi không đủ lớn để nắm bắt. Dù đó là gì, tôi biết mình đang tự biến thành thằng ngốc, nhưng dù đó là gì, nó làm tôi bối rối. Tôi không thể cho anh hình dung chút nào về những gì tôi thấy trong mắt con vật ấy. Nó không phải ánh sáng, không phải màu sắc. Nó là một cái gì đó chuyển động, tận phía sau xa, trong khi chính đôi mắt không hề chuyển động. Mà chắc tôi cũng chẳng thấy nó chuyển động. Tôi chỉ cảm thấy nó chuyển động. Đó là một vẻ mặt, đúng thế, và tôi bắt được ấn tượng về nó. Không, nó khác với một vẻ mặt đơn thuần. Nó hơn thế. Tôi không biết nó là gì, nhưng dù sao nó vẫn cho tôi cảm giác thân thuộc. Ồ không, không phải thứ thân thuộc uỷ mị. Đúng hơn, đó là sự thân thuộc của kẻ ngang hàng. Đôi mắt ấy chưa bao giờ van xin như mắt con hươu. Chúng thách thức. Không, không phải là thách thức. Chỉ là một sự điềm tĩnh mặc nhiên coi mình ngang hàng. Và tôi không nghĩ đó là cố ý. Tôi tin là nó không hề biết. Cái đó ở đó vì nó ở đó, và nó không thể không toả ra. Không, tôi không định nói "toả ra". Nó không toả ra. Nó chuyển động. Tôi biết tôi đang nói nhảm, nhưng nếu anh đã nhìn vào mắt con vật ấy như tôi, anh sẽ hiểu. Xtíp cũng bị ám y như tôi. Trời ơi, có lần tôi đã định giết cái thằng Đốm ấy, nó có được tích sự gì đâu. Và tôi đã thất bại. Tôi dắt nó vào bụi rậm, nó đi theo chậm chạp, miễn cưỡng. Nó biết chuyện gì sắp xảy ra. Tôi dừng lại ở một chỗ vừa ý, giẫm chân lên sợi dây, rút khẩu súng côn to tướng ra. Và con chó ngồi xuống nhìn tôi. Tôi nói thật, nó không van xin. Nó chỉ nhìn. Và tôi thấy đủ mọi thứ khó hiểu chuyển động, phải, chuyển động, trong đôi mắt ấy. Thật ra tôi không thấy chúng chuyển động. Tôi tưởng là tôi thấy, vì như tôi đã nói, chắc tôi chỉ cảm thấy chúng thôi. Và tôi muốn nói ngay với anh rằng chuyện đó vượt quá sức tôi. Nó giống như giết một con người, một con người tỉnh táo, can đảm, bình thản nhìn thẳng vào nòng súng của anh như muốn nói: "Ai sợ chứ?"
Thêm nữa, cái thông điệp ấy dường như gần quá, nên thay vì bóp cò cho nhanh, tôi lại dừng lại xem có nắm bắt được nó không. Nó ở ngay đó, trước mặt tôi, lấp lánh khắp trong đôi mắt ấy. Và rồi thì đã quá muộn. Tôi sợ. Tôi run khắp người, bụng dạ nôn nao như say sóng. Tôi ngồi phịch xuống nhìn con chó, và nó nhìn tôi, cho tới khi tôi tưởng mình sắp phát điên. Anh có muốn biết tôi đã làm gì không? Tôi vứt súng, chạy về trại, lòng đầy kinh hãi như vừa gặp ma. Xtíp cười tôi. Nhưng tôi để ý thấy một tuần sau, Xtíp dắt thằng Đốm vào rừng, cũng vì cái mục đích ấy, và Xtíp về một mình. Một lúc sau thằng Đốm cũng lững thững về theo.
Dù sao đi nữa, thằng Đốm không chịu làm việc. Chúng tôi đã móc tận đáy túi trả một trăm mười đô la cho nó, thế mà nó không chịu làm việc. Nó thậm chí không chịu căng dây kéo. Lần đầu chúng tôi đóng yên cương cho nó, Xtíp ra lệnh, và nó chỉ hơi run run, thế thôi. Không một lạng sức nào trên dây kéo. Nó chỉ đứng yên mà lẩy bẩy như một đống thạch. Xtíp quất nhẹ roi. Nó kêu ăng ẳng, nhưng vẫn không một lạng sức. Xtíp quất lần nữa, mạnh hơn chút, và nó tru lên, đúng tiếng tru dài của loài sói. Thế là Xtíp nổi cáu, quất cho nó năm sáu roi, và tôi từ trong lều chạy ra.
Tôi bảo Xtíp là anh ta tàn nhẫn với con vật, và chúng tôi to tiếng với nhau, lần đầu tiên trong đời. Hắn ném cây roi xuống tuyết rồi bỏ đi, giận dữ. Tôi nhặt roi lên, bắt tay vào việc. Thằng Đốm run rẩy, lẩy bẩy, co rúm lại trước cả khi tôi vung roi, và vừa bị ngọn roi cắn lần đầu, nó đã tru lên như hồn ma lạc lối. Rồi nó nằm lăn ra tuyết. Tôi thúc mấy con chó còn lại chạy, và chúng kéo lê nó theo trong khi tôi quất roi vào nó. Nó lăn ngửa ra, bị kéo xóc nảy trên tuyết, bốn chân khua lên trời, miệng tru như đang bị cho vào máy làm xúc xích. Xtíp quay lại cười tôi, và tôi xin lỗi vì những lời mình đã nói.
Không đời nào bắt được thằng Đốm làm việc. Để bù lại, nó là con chó tham ăn như lợn nhất tôi từng thấy. Lại thêm, nó là đứa ăn cắp tài tình nhất. Không có cách nào chặn được nó. Biết bao bữa sáng chúng tôi phải nhịn thịt muối, vì thằng Đốm đã tới đó trước. Và chính vì nó mà chúng tôi suýt chết đói trên sông Xtiu-ớt. Nó tìm ra cách phá cái kho thịt của chúng tôi, và cái gì nó ăn không hết thì cả đàn chó ăn nốt. Nhưng nó công bằng lắm. Nó ăn cắp của tất cả mọi người. Nó là con chó không chịu ngồi yên, lúc nào cũng bận rộn đánh hơi quanh quẩn hoặc đi đâu đó. Và chẳng có khu trại nào trong vòng năm dặm mà nó không ghé cướp. Tệ nhất là người ta luôn tìm đến chúng tôi đòi tiền ăn của nó. Thế là đúng, luật xứ này là vậy. Nhưng khổ cho chúng tôi lắm, nhất là cái mùa đông đầu tiên ở Chin-cút, lúc chúng tôi đã cháy túi, mà vẫn phải trả tiền những cái đùi lợn muối và những tảng thịt ba chỉ muối chúng tôi chưa từng được ăn. Nó còn biết đánh nhau nữa, thằng Đốm ấy. Nó làm được mọi việc, trừ làm việc. Nó chưa từng kéo một lạng, nhưng nó là đại ca của cả đàn. Cái cách nó bắt đám chó kia đứng nép đúng là một bài học. Nó bắt nạt chúng, và lúc nào cũng có một hai con mang vết răng nanh còn mới của nó. Nhưng nó không chỉ là kẻ bắt nạt. Nó chẳng sợ bất cứ thứ gì đi bằng bốn chân. Tôi đã thấy nó đơn thương độc mã xông vào một đàn chó lạ, chẳng ai khiêu khích gì, và đánh cho cả đàn tan tác. Tôi đã nói nó ăn khoẻ chưa nhỉ? Có lần tôi bắt gặp nó đang ăn cây roi. Thật đấy. Nó bắt đầu từ sợi dây roi, và lúc tôi bắt gặp thì nó đã ăn tới cán, vẫn còn đang nhai tiếp.
Nhưng nó đẹp mã. Hết tuần đầu, chúng tôi bán nó cho Cảnh sát Kỵ binh với giá bảy mươi lăm đô la. Bên ấy có những người đánh xe chó lành nghề, và chúng tôi biết rằng tới khi chạy hết sáu trăm dặm tới Đo-xơn, nó sẽ thành một con chó kéo xe giỏi. Tôi nói chúng tôi "biết", vì lúc ấy chúng tôi chỉ mới bắt đầu làm quen với thằng Đốm. Ít lâu sau, chúng tôi không còn dám liều mà "biết" bất cứ điều gì về nó nữa. Một tuần sau, một buổi sáng chúng tôi thức dậy giữa một trận chó cắn nhau dữ dội nhất từng nghe. Chính là thằng Đốm đã quay về, và đang dạy dỗ lại cả đàn. Tôi nói thật, bữa sáng hôm ấy chúng tôi ăn chẳng vui vẻ gì. Nhưng hai tiếng sau chúng tôi lại phấn chấn lên, khi bán được nó cho một người đưa thư công vụ đang mang công văn chính phủ vào Đo-xơn. Thằng Đốm chỉ mất ba ngày để quay về, và như thường lệ, ăn mừng sự trở về của mình bằng một trận náo loạn.
Mùa đông và mùa xuân năm ấy, sau khi đồ đạc của chính mình đã qua đèo, chúng tôi đi chở thuê đồ cho người khác, và kiếm được một món kha khá. Chúng tôi cũng kiếm được tiền nhờ thằng Đốm. Bán nó một lần thì cũng bán nó hai chục lần. Lần nào nó cũng quay về, và chẳng ai đòi lại tiền. Mà chúng tôi đâu cần tiền. Có ai chịu mang nó đi luôn, chúng tôi còn sẵn lòng trả hậu nữa kia. Chúng tôi phải tống khứ nó, mà lại không cho không được, vì như thế thì đáng ngờ quá. Nhưng nó đẹp mã đến thế nên chưa bao giờ chúng tôi gặp khó khi bán nó. "Chưa thuần đâu", chúng tôi bảo, và người ta trả giá nào cũng được. Có lần chúng tôi bán rẻ tới hai mươi lăm đô la, và có lần được tới một trăm năm mươi. Cái ông khách mua giá ấy đích thân dắt nó trả lại, không chịu nhận lại tiền, rồi chửi chúng tôi một trận khủng khiếp. Ông ta bảo được nói cho chúng tôi biết ông ta nghĩ gì về chúng tôi thì giá ấy là còn rẻ. Chúng tôi thấy ông ta có lý tới mức không dám cãi lại câu nào. Nhưng tới tận hôm nay, tôi vẫn chưa lấy lại được trọn vẹn lòng tự trọng mà tôi từng có trước khi bị người ấy mắng.
Khi băng tan hết trên hồ trên sông, chúng tôi chất đồ đạc lên một chiếc thuyền đóng ở hồ Ben-nét, rồi xuôi về Đo-xơn. Chúng tôi có một đàn chó tốt, và dĩ nhiên chất chúng lên trên đống đồ. Thằng Đốm cũng đi theo, chẳng có cách nào bỏ nó lại. Ngay ngày đầu, cả chục lần nó đánh nhau rồi hất con này con khác xuống sông. Chỗ ngồi chật chội, mà nó thì không ưa bị chen chúc.
— Cái con chó này nó cần chỗ rộng, Xtíp nói vào ngày thứ hai. Mình bỏ nó lên bờ đi.
Chúng tôi làm thế, ghé thuyền vào bến Ca-ri-bu cho nó nhảy lên bờ. Hai con chó khác, hai con chó tốt, chạy theo nó. Chúng tôi mất trọn hai ngày đi tìm chúng. Chúng tôi chẳng bao giờ gặp lại hai con chó ấy nữa. Nhưng sự yên tĩnh và nhẹ nhõm mà chúng tôi được hưởng khiến chúng tôi, cũng như cái ông khách từ chối một trăm năm mươi đô la kia, đi tới kết luận rằng giá ấy là còn rẻ. Lần đầu tiên sau nhiều tháng, Xtíp và tôi cười, huýt sáo và ca hát. Chúng tôi sung sướng như tiên. Những ngày đen tối đã qua. Cơn ác mộng đã tan. Thằng Đốm đã đi rồi.
Ba tuần sau, một buổi sáng, Xtíp và tôi đang đứng trên bờ sông ở Đo-xơn. Một chiếc thuyền nhỏ từ hồ Ben-nét vừa cập bến. Tôi thấy Xtíp giật mình, nghe hắn văng ra một câu chẳng hay ho gì, mà cũng chẳng nói khẽ chút nào. Tôi nhìn theo. Và kia, ở mũi thuyền, tai vểnh lên, thằng Đốm đang ngồi. Xtíp và tôi lập tức lẩn đi, như hai con chó bị đánh, như hai kẻ hèn nhát, như hai tên tội phạm trốn pháp luật. Mà chính cái ý sau cùng ấy là điều viên trung uý cảnh sát nghĩ khi thấy chúng tôi lẩn đi. Ông ta đoán trên thuyền có nhân viên công lực đang truy đuổi chúng tôi. Ông ta không chờ tìm hiểu, cứ bám theo, và dồn chúng tôi vào một góc trong quán rượu Em và Em. Chúng tôi giải thích một phen vất vả, vì chúng tôi nhất quyết không chịu quay lại thuyền để gặp thằng Đốm. Cuối cùng ông ta giao chúng tôi cho một cảnh sát khác canh, còn ông ta xuống thuyền. Thoát khỏi ông ta rồi, chúng tôi về căn nhà gỗ. Về tới nơi thì đã thấy thằng Đốm ngồi trên bậc cửa chờ chúng tôi. Nào, làm sao nó biết chúng tôi sống ở đó? Mùa hè năm ấy Đo-xơn có tới bốn vạn người, làm sao nó nhận ra căn nhà của chúng tôi giữa ngần ấy căn nhà? Mà làm sao nó biết chúng tôi đang ở Đo-xơn cơ chứ? Tôi để anh tự nghĩ. Nhưng đừng quên những gì tôi đã nói về trí khôn của nó, và về cái gì đó bất tử mà tôi từng thấy lấp lánh trong mắt nó.
Từ đó không còn cách nào tống khứ nó được nữa. Có quá nhiều người ở Đo-xơn từng mua nó trên Chin-cút, và chuyện đã lan khắp nơi. Năm sáu lần chúng tôi đưa nó lên những chiếc tàu hơi nước xuôi sông Y-u-cơn. Nhưng nó chỉ việc lên bờ ở bến đầu tiên rồi chạy lóc cóc ngược về theo bờ sông. Chúng tôi không bán được nó, không giết được nó, cả Xtíp lẫn tôi đều đã thử, mà cũng chẳng ai khác giết được nó. Nó như có bùa hộ mệnh. Tôi đã thấy nó bị vùi trong một trận chó cắn nhau giữa phố chính, năm chục con đè lên trên. Khi người ta tách chúng ra, nó hiện ra đứng trên bốn chân, chẳng hề hấn gì, trong khi hai con từng đè lên nó thì nằm chết.
Tôi đã thấy nó ăn trộm một tảng thịt nai sừng tấm trong kho của thiếu tá Đin-uýt-đi. Tảng thịt nặng tới nỗi nó chỉ vừa đủ chạy trước được một bước so với bà đầu bếp người Anh-điêng của bà Đin-uýt-đi đang cầm rìu đuổi theo. Khi nó chạy lên đồi, và bà đầu bếp đã bỏ cuộc, thì chính thiếu tá Đin-uýt-đi bước ra, nã khẩu súng trường Uyn-tret-tơ khắp cả vùng. Ông bắn hết băng đạn hai lần mà chẳng trúng thằng Đốm lấy một viên. Rồi một cảnh sát đi tới, bắt ông vì tội nổ súng trong phạm vi thành phố. Thiếu tá Đin-uýt-đi nộp phạt, còn Xtíp và tôi trả ông tiền tảng thịt nai, một đô la một cân Anh, tính cả xương. Đó là giá ông đã mua. Năm ấy thịt đắt.
Tôi chỉ kể những gì chính mắt tôi thấy. Và giờ tôi sẽ kể anh nghe thêm chuyện này nữa. Tôi đã thấy thằng Đốm rơi xuống một cái lỗ băng múc nước. Băng dày hơn một mét, và dòng nước hút nó xuống như hút một cọng rơm. Cách đó ba trăm mét về phía hạ lưu là cái lỗ băng lớn mà bệnh viện dùng để lấy nước. Thằng Đốm bò lên từ cái lỗ băng của bệnh viện, liếm khô nước, gặm sạch băng đóng giữa các ngón chân, chạy lóc cóc lên bờ, rồi đánh cho một trận con chó Niu-phao-lân to tướng của ông Uỷ viên phụ trách vàng.
Mùa thu năm 1898, Xtíp và tôi chống sào ngược sông Y-u-cơn trên con nước cuối mùa, nhắm hướng sông Xtiu-ớt. Chúng tôi mang theo đàn chó, tất cả, trừ thằng Đốm. Chúng tôi tính rằng thế là đã nuôi nó đủ lâu rồi. Nó đã làm chúng tôi tốn thời gian, công sức, tiền bạc và lương thực hơn hẳn số tiền bán nó trên Chin-cút, nhất là lương thực. Thế là Xtíp và tôi trói nó lại trong căn nhà gỗ rồi nhổ neo. Đêm ấy chúng tôi cắm trại ở cửa sông Anh-điêng, và Xtíp với tôi đùa cợt khá vui vì đã cắt đuôi được nó. Xtíp là tay vui tính, và tôi đang ngồi trong chăn cười ngặt nghẽo thì một cơn lốc ập vào trại. Cái cách thằng Đốm xông vào đám chó mà dạy cho chúng một bài thì đúng là dựng tóc gáy. Nào, làm sao nó thoát ra được? Tuỳ anh nghĩ. Tôi chẳng có giả thuyết nào. Mà làm sao nó qua được sông Clôn-đai-cơ? Lại thêm một câu đố nữa. Mà dù sao đi nữa, làm sao nó biết chúng tôi đã ngược sông Y-u-cơn? Anh thấy đấy, chúng tôi đi đường thuỷ, nó đâu có đánh hơi được dấu vết. Xtíp và tôi bắt đầu đâm ra mê tín về con chó ấy. Nó còn làm chúng tôi phát bực nữa. Và nói nhỏ với anh thôi, chúng tôi hơi sờ sợ nó.
Sông đóng băng lúc chúng tôi ở cửa suối Hen-đơ-xơn, và chúng tôi đổi nó lấy hai bao bột mì với một đoàn đang ngược sông Trắng đi tìm mỏ đồng. Thế rồi cả đoàn ấy biến mất. Không bao giờ người ta tìm thấy dấu vết gì, dù là một sợi lông, một mẩu da, của người, chó, xe trượt hay bất cứ thứ gì. Họ biến mất hoàn toàn. Chuyện ấy trở thành một trong những bí ẩn của xứ này. Xtíp và tôi lầm lũi ngược sông Xtiu-ớt, và sáu tuần sau, thằng Đốm bò vào trại. Nó chỉ còn là một bộ xương biết đi, lê bước muốn không nổi. Nhưng nó đã tới nơi. Và điều tôi muốn biết là: ai đã bảo nó chúng tôi ở trên sông Xtiu-ớt? Chúng tôi có thể đi cả nghìn nơi khác. Làm sao nó biết? Anh nói cho tôi biết, rồi tôi sẽ nói cho anh biết.
Không có cách nào bỏ được nó. Ở Mây-ô, nó gây sự với một con chó Anh-điêng. Gã đàn ông chủ con chó vung rìu bổ vào thằng Đốm, trượt, và giết chết chính con chó của mình. Người ta cứ nói tới phép thuật, bùa chú làm đạn bắn chệch hướng. Riêng tôi, tôi cho rằng làm chệch được một nhát rìu, khi đầu kia cán rìu là một gã to khoẻ, còn khó hơn gấp bội. Mà tôi đã thấy nó làm thế, tận mắt. Gã ấy đâu có muốn giết con chó của mình. Có ai chứng minh được điều ngược lại thì cứ việc.
Tôi đã kể với anh chuyện thằng Đốm phá kho thịt của chúng tôi. Lần ấy suýt nữa thì chúng tôi toi mạng. Không còn con thú nào để săn, mà chúng tôi chỉ có thịt để sống. Đàn nai sừng tấm đã rút đi xa mấy trăm dặm, người Anh-điêng cũng đi theo chúng. Chúng tôi kẹt lại đó. Mùa xuân đã tới, và chúng tôi phải chờ băng trên sông vỡ. Chúng tôi gầy rộc đi, rồi mới quyết định ăn thịt chó. Và chúng tôi quyết định ăn thằng Đốm trước. Anh có biết con chó ấy đã làm gì không? Nó lẩn mất. Nào, làm sao nó biết chúng tôi đã quyết ăn thịt nó? Chúng tôi thức mấy đêm liền rình nó, nhưng nó không bao giờ quay về. Và chúng tôi ăn những con chó khác. Chúng tôi ăn hết cả đàn.
Và giờ tới đoạn sau. Anh biết đấy, khi một con sông lớn vỡ băng, hàng tỉ tấn băng trôi đi, dồn ứ, xoay vần, nghiến vào nhau thế nào. Đúng giữa lúc ấy, khi băng sông Xtiu-ớt vỡ, ầm ầm gầm thét, chúng tôi trông thấy thằng Đốm ở ngay giữa dòng. Hẳn nó bị kẹt khi đang tìm cách băng qua sông ở đâu đó phía trên. Xtíp và tôi gào thét, chạy lên chạy xuống dọc bờ, tung mũ lên trời. Thỉnh thoảng chúng tôi dừng lại ôm chầm lấy nhau, sướng điên lên, vì chúng tôi đã thấy ngày tàn của thằng Đốm. Nó không có lấy một phần triệu cơ hội. Nó chẳng có cơ hội nào hết. Băng trôi xong, chúng tôi xuống xuồng, chèo ra sông Y-u-cơn, rồi xuôi Y-u-cơn về Đo-xơn, dọc đường nghỉ lại một tuần ở mấy căn nhà gỗ nơi cửa suối Hen-đơ-xơn cho lại sức. Và khi chúng tôi cập vào bờ ở Đo-xơn, thì kia, thằng Đốm đang ngồi chờ chúng tôi, tai vểnh lên, đuôi ngoe nguẩy, miệng cười, nồng nhiệt chào đón chúng tôi. Nào, làm sao nó thoát ra khỏi đám băng ấy? Làm sao nó biết chúng tôi sẽ về Đo-xơn, đúng giờ đúng phút ấy, để ra ngồi trên bờ chờ chúng tôi?
Càng nghĩ về thằng Đốm, tôi càng tin chắc rằng trên đời này có những điều vượt ngoài khoa học. Không có lý lẽ khoa học nào giải thích nổi thằng Đốm. Tôi đoán đó là hiện tượng tâm linh, hay huyền bí học, hay một thứ gì đại loại thế, pha thêm kha khá thông thiên học nữa. Clôn-đai-cơ là một xứ tốt. Có khi tôi vẫn còn ở đó và đã thành triệu phú, nếu không có thằng Đốm. Nó làm tôi điên đầu. Tôi chịu đựng nó tổng cộng hai năm, rồi chắc là sức chịu đựng của tôi gãy gục. Mùa hè năm 1899 tôi bỏ đi. Tôi chẳng nói gì với Xtíp. Tôi chỉ lẳng lặng chuồn. Nhưng tôi đã thu xếp đâu ra đấy. Tôi viết cho Xtíp một mảnh giấy, gói kèm một gói thuốc diệt chuột, dặn hắn làm gì với nó. Thằng Đốm đã làm tôi chỉ còn da bọc xương, và tôi bồn chồn tới mức cứ giật mình ngoảnh lại dù chẳng có ai trong tầm gọi. Nhưng thoát được nó rồi thì tôi hồi phục nhanh đến kinh ngạc. Tôi lên lại gần mười cân trước khi tới Xan Phran-xi-xcô, và tới lúc qua phà sang Ốc-lơn thì tôi đã trở lại là tôi như xưa, tới mức vợ tôi tìm mãi cũng chẳng thấy tôi có gì khác.
Xtíp viết cho tôi một lần, và lá thư của hắn có vẻ bực bội. Hắn có hơi phật ý vì tôi đã bỏ hắn lại với thằng Đốm. Hắn còn bảo đã dùng gói thuốc diệt chuột đúng như lời dặn, mà chẳng ăn thua gì. Một năm trôi qua. Tôi đã trở lại văn phòng, mọi bề đều phát đạt, thậm chí còn hơi lên cân. Thế rồi Xtíp tới. Hắn không tìm gặp tôi. Tôi đọc thấy tên hắn trong danh sách hành khách tàu thuỷ, và lấy làm lạ. Nhưng tôi không phải lạ lâu. Một buổi sáng tôi thức dậy thì thấy thằng Đốm bị xích vào trụ cổng, đang chặn đường bác giao sữa. Tôi được biết ngay sáng hôm ấy Xtíp đã đi lên Xi-át-tơn ở phía bắc. Từ đó tôi chẳng lên thêm lạng nào nữa. Vợ tôi bắt tôi mua cho nó một cái vòng cổ với tấm thẻ tên, và chưa đầy một giờ sau, nó tỏ lòng biết ơn bằng cách giết con mèo Ba Tư cưng của nhà tôi. Không có cách nào tống khứ được thằng Đốm. Nó sẽ ở bên tôi cho tới khi tôi chết, vì nó sẽ không bao giờ chết. Từ khi nó tới, tôi ăn không còn ngon miệng, và vợ tôi bảo trông tôi hốc hác đi. Đêm qua, thằng Đốm lẻn vào chuồng gà của ông Hác-vi, hàng xóm sát vách nhà tôi, và giết mười chín con gà giống quý của ông. Tôi sẽ phải đền. Nhà hàng xóm phía bên kia đã cãi nhau với vợ tôi rồi dọn đi. Nguyên nhân là thằng Đốm. Và vì thế mà tôi thất vọng về Xtí-vơn Ma-cây. Tôi không ngờ hắn lại là kẻ chơi khăm đến thế.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn