Giả sử bạn đang dạo bước trên đại lộ Brốt-uê sau bữa tối, dành mười phút để hút nốt điếu xì gà, trong lúc còn đang phân vân giữa một vở bi kịch giải trí và một thứ gì nghiêm túc hơn trong loại tạp kĩ. Bỗng có một bàn tay đặt lên cánh tay bạn. Bạn quay lại, nhìn vào đôi mắt đầy mê hoặc của một người đàn bà xinh đẹp, lộng lẫy trong kim cương và áo lông chồn Nga. Nàng vội dúi vào tay bạn một chiếc bánh mì phết bơ nóng bỏng, rút ra một chiếc kéo tí hon, cắt phăng chiếc khuy thứ hai trên áo khoác của bạn, thốt lên đầy ẩn ý một tiếng duy nhất: "Hình bình hành!", rồi chạy biến vào một con phố ngang, vừa chạy vừa sợ hãi ngoái lại nhìn.
Đó sẽ là một cuộc phiêu lưu thuần tuý. Bạn có chấp nhận nó không? Bạn thì không đâu. Bạn sẽ đỏ mặt lúng túng. Bạn sẽ ngượng nghịu đánh rơi chiếc bánh mì, rồi đi tiếp trên đại lộ Brốt-uê, yếu ớt mò mẫm tìm chiếc khuy đã mất. Bạn sẽ làm thế, trừ phi bạn thuộc số ít người có phúc mà tinh thần phiêu lưu thuần khiết chưa chết.
Những nhà phiêu lưu đích thực xưa nay chẳng bao giờ nhiều. Những người được sách vở ghi là nhà phiêu lưu phần lớn là những nhà buôn có phương pháp mới. Họ ra đi để tìm những thứ họ muốn: bộ lông cừu vàng, chén thánh, người đẹp, kho báu, ngai vàng và danh vọng. Nhà phiêu lưu đích thực ra đi không mục đích, không tính toán, để gặp gỡ và chào đón một số phận chưa biết. Một tấm gương tuyệt vời là đứa con hoang đàng trong Kinh Thánh, vào lúc anh ta lên đường trở về nhà.
Những kẻ nửa phiêu lưu, những con người dũng cảm và lẫy lừng, thì nhiều vô kể. Từ thời Thập tự chinh cho tới nay, họ đã làm giàu cho nghệ thuật viết sử, viết truyện, và cho cả nghề buôn tiểu thuyết lịch sử. Nhưng mỗi người trong họ đều có một giải thưởng phải giành, một mục tiêu phải đạt, một lưỡi rìu phải mài, một cuộc đua phải chạy, một đường kiếm mới phải đâm, một cái tên phải khắc, một mối thù phải trả, cho nên họ không phải là tín đồ của cuộc phiêu lưu đích thực.
Ở thành phố lớn, hai vị thần song sinh là Lãng mạn và Phiêu lưu lúc nào cũng rong ruổi khắp nơi tìm những kẻ xứng đáng để theo đuổi mình. Khi ta lang thang trên phố, họ kín đáo ngó trộm ta, và thách thức ta dưới hai mươi dáng vẻ khác nhau. Chẳng hiểu vì sao, ta bỗng ngước lên và thấy trong một ô cửa sổ một khuôn mặt dường như thuộc về bộ sưu tập chân dung thân thiết của riêng ta. Trên một con phố đang ngủ, ta nghe một tiếng kêu đau đớn, sợ hãi vọng ra từ một ngôi nhà trống, cửa đóng then cài. Đáng lẽ đỗ ở bên vỉa hè quen thuộc, người đánh xe lại thả ta xuống trước một cánh cửa lạ, có người mỉm cười mở ra mời ta vào. Một mảnh giấy có chữ phấp phới rơi xuống chân ta từ những ô cửa lưới cao vời của Ngẫu nhiên. Ta trao đổi những cái nhìn thoáng chốc căm ghét, trìu mến hay sợ hãi với những người lạ vội vã giữa dòng người qua lại. Một cơn mưa bất chợt ập xuống, và chiếc ô của ta có thể đang che cho con gái của Trăng Rằm, em họ của cả hệ Ngân Hà. Ở mỗi góc phố, những chiếc khăn tay rơi, những ngón tay vẫy gọi, những đôi mắt vây bủa, và những đầu mối phiêu lưu lạc loài, cô đơn, say đắm, bí ẩn, hiểm nguy, luôn đổi thay, được dúi vào tay ta. Nhưng ít ai trong chúng ta chịu nắm lấy mà lần theo chúng. Lưng ta đã cứng đờ vì cái thanh thép lề thói chống dọc sống lưng. Ta đi qua. Và rồi một ngày nào đó, ở cuối một cuộc đời vô cùng buồn tẻ, ta ngồi ngẫm lại và thấy rằng chuyện lãng mạn của đời mình chỉ là một thứ nhợt nhạt, gồm một hai cuộc hôn nhân, một chiếc nơ hoa bằng xa tanh cất trong ngăn két ngân hàng, và mối thù suốt đời với cái lò sưởi hơi nước.
Ru-đôn-phơ Xtai-nơ là một nhà phiêu lưu đích thực. Hiếm có buổi tối nào anh không rời căn phòng ngủ nhỏ cuối hành lang của mình mà ra đi tìm những điều bất ngờ, khác thường. Với anh, điều thú vị nhất trên đời dường như là những gì có thể đang nằm ngay sau góc phố tiếp theo. Đôi khi cái tính sẵn sàng thách thức số phận đưa anh vào những nẻo đường kì lạ. Đã hai lần anh phải ngủ đêm ở đồn cảnh sát. Biết bao lần anh mắc lừa những kẻ bịp bợm khôn ngoan, hám lợi. Có lần anh mất cả đồng hồ lẫn tiền bạc để trả giá cho một lời mời mọc ngọt ngào. Nhưng với lòng hăng say không hề suy giảm, anh vẫn nhặt từng chiếc găng tay ném xuống trước mặt mình, nhận lời thách đấu trên sới vui nhộn của phiêu lưu.
Một buổi tối, Ru-đôn-phơ đang thả bộ dọc một con phố ngang ở khu trung tâm cũ của thành phố. Hai dòng người tràn ngập vỉa hè, một dòng hối hả về nhà, một dòng gồm những kẻ bồn chồn bỏ nhà đi tìm sự đón tiếp giả tạo của những quán ăn sáng rực nghìn ngọn nến.
Chàng phiêu lưu trẻ tuổi có dáng vẻ dễ mến, bước đi điềm tĩnh và tinh ý. Ban ngày anh là người bán hàng trong một cửa hàng đàn dương cầm. Anh luồn cà vạt qua một chiếc nhẫn đá hoàng ngọc thay vì cài bằng ghim. Và đã có lần anh viết thư cho ông chủ bút một tờ tạp chí, bảo rằng cuốn "Thử thách tình yêu của Giu-ni" của cô Líp-bi là cuốn sách ảnh hưởng tới đời anh nhiều nhất.
Đang đi, anh nghe trong một chiếc tủ kính trên vỉa hè có tiếng một hàm răng giả va lập cập dữ dội. Thoạt tiên anh hơi rợn người, tưởng chiếc tủ là của nhà hàng phía sau nó. Nhưng nhìn lại lần nữa, anh thấy những chữ điện của tấm biển nha sĩ ở trên cao ngay cửa bên cạnh. Một người da đen to lớn, ăn mặc kì quặc trong chiếc áo khoác đỏ thêu, quần vàng và mũ lính, đang kín đáo phát danh thiếp cho những ai trong đám đông qua lại chịu cầm lấy.
Kiểu quảng cáo nha khoa này Ru-đôn-phơ vẫn thường thấy. Thường thì anh đi ngang qua người phát danh thiếp mà chẳng làm vơi bớt được tấm nào. Nhưng tối nay, người đàn ông da đen dúi một tấm vào tay anh khéo léo tới mức anh giữ lấy nó, hơi mỉm cười trước cái tài vặt ấy.
Đi thêm được vài bước, anh thờ ơ liếc nhìn tấm danh thiếp. Ngạc nhiên, anh lật mặt kia lên, nhìn lại, đầy hứng thú. Một mặt tấm thiếp để trắng. Mặt kia có ba chữ viết bằng mực: "Cánh cửa xanh". Rồi Ru-đôn-phơ thấy, ngay trước mặt anh ba bước, một người đàn ông vứt đi tấm thiếp mà người da đen vừa đưa khi anh ta đi ngang qua. Ru-đôn-phơ nhặt lên. Trên đó in tên và địa chỉ ông nha sĩ, cùng bảng kê quen thuộc về "làm hàm giả", "làm cầu răng", "bọc răng", và những lời hứa hẹn mĩ miều về những ca chữa "không đau".
Anh chàng bán đàn ưa phiêu lưu dừng lại ở góc phố, suy nghĩ. Rồi anh băng qua đường, đi xuống một dãy phố, lại băng sang, nhập vào dòng người đi ngược lên. Đi ngang qua người da đen lần thứ hai, chẳng làm ra vẻ để ý gì tới anh ta, anh hờ hững cầm tấm thiếp được đưa cho mình. Đi được mười bước, anh xem nó. Vẫn nét chữ như trên tấm thiếp đầu, dòng chữ "Cánh cửa xanh" hiện trên đó. Mấy người đi trước và đi sau anh vứt ba bốn tấm thiếp xuống vỉa hè. Chúng rơi xuống, mặt trắng ngửa lên. Ru-đôn-phơ lật chúng lại. Tấm nào cũng in lời quảng cáo của "phòng khám" nha khoa.
Ít khi nàng tiên ranh mãnh Phiêu lưu phải vẫy gọi tới lần thứ hai với Ru-đôn-phơ Xtai-nơ, kẻ tín đồ trung thành của nàng. Nhưng nàng đã vẫy tới hai lần, và cuộc truy tìm bắt đầu.
Ru-đôn-phơ chậm rãi quay lại chỗ người da đen to lớn đứng cạnh chiếc tủ răng lập cập. Lần này đi ngang qua, anh không được phát tấm thiếp nào. Dù ăn mặc loè loẹt và lố bịch, người đàn ông vẫn toát lên một vẻ uy nghi tự nhiên, hoang dã khi đứng đó, ngọt ngào đưa thiếp cho người này, để mặc người kia đi qua không quấy rầy. Cứ nửa phút anh ta lại ngân nga một câu gì đó khàn khàn, khó hiểu, giống như tiếng xướng tên trạm của người soát vé xe điện lẫn với nhạc kịch. Lần này anh ta chẳng những không đưa thiếp, mà Ru-đôn-phơ còn cảm thấy mình nhận được từ khuôn mặt đen bóng, đồ sộ ấy một cái nhìn lạnh lùng, gần như khinh miệt.
Cái nhìn ấy làm chàng phiêu lưu nhói lòng. Anh đọc thấy trong đó một lời buộc tội thầm lặng rằng anh đã bị coi là không đạt. Dù mấy chữ bí ẩn viết trên tấm thiếp có nghĩa là gì, người kia đã hai lần chọn anh giữa đám đông để trao chúng. Và giờ dường như anh ta đã kết luận rằng anh thiếu trí khôn và lòng can đảm để dấn vào câu đố ấy.
Đứng tránh khỏi dòng người, chàng trai nhanh chóng ước lượng toà nhà mà anh nghĩ cuộc phiêu lưu của mình hẳn nằm ở trong. Nó cao năm tầng. Tầng hầm là một quán ăn nhỏ.
Tầng một, giờ đã đóng cửa, có vẻ là cửa hàng mũ hoặc đồ lông thú. Tầng hai, theo những chữ điện nhấp nháy, là phòng khám nha khoa. Phía trên nữa, một mớ biển hiệu đủ thứ tiếng chen chúc nhau chỉ chỗ ở của các thầy xem tướng tay, thợ may, nhạc sĩ và bác sĩ. Cao hơn nữa, những tấm rèm buông và những chai sữa trắng trên bậu cửa sổ cho biết đó là khu nhà ở.
Quan sát xong, Ru-đôn-phơ rảo bước lên dãy bậc đá cao, vào trong nhà. Anh đi tiếp lên hai tầng cầu thang trải thảm, và dừng lại ở trên cùng. Hành lang ở đó được thắp sáng lờ mờ bằng hai ngọn đèn ga nhạt nhoà, một ở xa phía bên phải, một gần hơn, bên trái. Anh nhìn về phía ngọn đèn gần hơn, và thấy, trong quầng sáng yếu ớt của nó, một cánh cửa xanh. Anh ngập ngừng trong một thoáng. Rồi anh như lại thấy cái nhếch mép khinh bỉ của gã người da đen tung hứng danh thiếp, và anh đi thẳng tới cánh cửa xanh, gõ cửa.
Những khoảnh khắc trôi qua trước khi có người đáp lại tiếng gõ ấy chính là nhịp thở gấp của cuộc phiêu lưu đích thực. Biết đâu sau những tấm ván màu xanh ấy là cái gì! Những tay cờ bạc đang sát phạt. Những kẻ bịp ranh ma đang khéo léo giăng bẫy. Một người đẹp mến mộ lòng can đảm, vì thế bày kế để được nó tìm tới. Hiểm nguy, cái chết, tình yêu, thất vọng, sự chế giễu, bất cứ điều gì trong số ấy cũng có thể đáp lại tiếng gõ liều lĩnh kia.
Bên trong có tiếng sột soạt khe khẽ, rồi cánh cửa chầm chậm mở ra. Một cô gái chưa tới hai mươi tuổi đứng đó, mặt trắng bệch, người lảo đảo. Cô buông tay nắm cửa, lả đi, một tay quờ quạng. Ru-đôn-phơ đỡ lấy cô, đặt cô nằm lên một chiếc ghế dài bạc màu kê sát tường. Anh đóng cửa lại, đưa mắt nhìn nhanh khắp căn phòng dưới ánh đèn ga chập chờn. Sạch sẽ, nhưng nghèo xơ xác, đó là câu chuyện anh đọc được.
Cô gái nằm im, như thể đã ngất đi. Ru-đôn-phơ hốt hoảng nhìn quanh phòng tìm một cái thùng tô-nô. Người ngất thì phải đặt lên thùng mà lăn, à không, không phải, cái đó là để cứu người chết đuối. Anh bắt đầu lấy mũ quạt cho cô. Cách ấy hiệu nghiệm, vì vành chiếc mũ quả dưa của anh đập trúng mũi cô, và cô mở mắt ra. Và chàng trai thấy rằng khuôn mặt cô quả thật chính là khuôn mặt còn thiếu trong bộ sưu tập chân dung thân thiết của trái tim anh. Đôi mắt xám thẳng thắn, chiếc mũi nhỏ hơi hếch lên tinh nghịch, mái tóc màu hạt dẻ quăn như những tua cuốn của dây đậu, dường như là cái đích và phần thưởng xứng đáng cho mọi cuộc phiêu lưu kì diệu của anh. Nhưng khuôn mặt ấy gầy và xanh xao đến thảm thương.
Cô gái bình thản nhìn anh, rồi mỉm cười.
— Em ngất phải không? Cô hỏi, giọng yếu ớt. Chà, ai mà chẳng ngất? Anh thử nhịn đói ba ngày xem!
— Trời đất! Ru-đôn-phơ kêu lên, bật dậy. Cô chờ tôi quay lại nhé.
Anh lao ra khỏi cánh cửa xanh, chạy xuống cầu thang. Hai mươi phút sau anh đã trở lại, lấy mũi giày đá vào cửa để cô ra mở. Hai tay anh ôm cả một đống hàng mua ở cửa hàng tạp hoá và quán ăn. Anh bày chúng lên bàn: bánh mì và bơ, thịt nguội, bánh ngọt, bánh nướng, dưa chuột muối, sò, một con gà quay, một chai sữa và một chai trà nóng bỏng.
— Thật là vô lí, Ru-đôn-phơ nói, giọng ầm ĩ, nhịn đói như thế. Cô phải thôi ngay cái kiểu đánh cược nhịn ăn này đi. Bữa tối dọn xong rồi.
Anh đỡ cô ngồi vào ghế cạnh bàn rồi hỏi:
— Có cốc để uống trà không?
— Trên giá cạnh cửa sổ ấy, cô đáp.
Khi anh quay lại với chiếc cốc, anh thấy cô, mắt sáng lên sung sướng, đang bắt đầu xơi một quả dưa chuột muối to tướng mà cô đã moi ra được từ đống túi giấy, với bản năng không bao giờ sai của đàn bà. Anh cười, lấy nó khỏi tay cô, rót đầy cốc sữa.
— Uống cái này trước đã, anh ra lệnh, rồi cô sẽ được uống trà, rồi được một cái cánh gà. Nếu cô thật ngoan thì mai sẽ được ăn dưa chuột muối. Còn bây giờ, nếu cô cho phép tôi làm khách của cô, ta sẽ ăn tối.
Anh kéo chiếc ghế còn lại tới. Trà làm đôi mắt cô gái sáng lên, và đem lại cho cô chút hồng hào. Cô bắt đầu ăn với một vẻ hung hăng thanh nhã, như một con thú hoang bị bỏ đói. Cô dường như coi sự có mặt của chàng trai và sự giúp đỡ của anh là chuyện tự nhiên, không phải vì cô coi nhẹ lề thói, mà như một người vì cảnh khốn cùng nên có quyền gạt bỏ cái giả tạo để giữ lấy cái con người. Nhưng dần dần, cùng với sức lực và sự dễ chịu trở lại, cô cũng nhận thức lại được những lề thói nho nhỏ cần có, và bắt đầu kể cho anh nghe câu chuyện nhỏ của mình. Đó là một trong hàng nghìn câu chuyện như thế mà ngày nào thành phố cũng nghe tới phát ngáp. Chuyện của một cô bán hàng lương không đủ sống, lại còn bị cắt bớt bởi những khoản "phạt" để làm phình thêm lợi nhuận của cửa hàng. Chuyện mất ngày công vì ốm đau. Rồi chuyện mất việc, mất hi vọng, và, tiếng gõ của chàng phiêu lưu vào cánh cửa xanh.
Nhưng với Ru-đôn-phơ, câu chuyện ấy nghe lớn lao chẳng kém thiên sử thi I-li-át hay đoạn cao trào trong cuốn "Thử thách tình yêu của Giu-ni".
— Nghĩ mà xem, cô đã phải trải qua tất cả những điều ấy, anh kêu lên.
— Khủng khiếp lắm, cô gái nói, giọng nghiêm trang.
— Cô không có họ hàng hay bạn bè gì ở thành phố này sao?
— Chẳng có ai cả.
— Tôi cũng một thân một mình trên đời, Ru-đôn-phơ nói, sau một lúc im lặng.
— Thế thì em mừng, cô gái nói ngay. Và chẳng hiểu sao chàng trai thấy vui khi nghe cô tán thành cảnh mồ côi đơn độc của mình.
Bỗng nhiên mí mắt cô sụp xuống, và cô thở dài.
— Em buồn ngủ quá, cô nói, mà em thấy dễ chịu quá.
Ru-đôn-phơ đứng dậy, cầm lấy mũ.
— Tôi xin chúc cô ngủ ngon. Một giấc thật dài sẽ tốt cho cô lắm.
Anh chìa tay ra. Cô nắm lấy, nói: "Chúc anh ngủ ngon". Nhưng đôi mắt cô hỏi một câu hùng hồn, thẳng thắn và cảm động tới mức anh phải trả lời thành lời.
— Ồ, mai tôi sẽ quay lại xem cô ra sao. Cô không dễ gì thoát khỏi tôi đâu.
Rồi tới cửa, như thể anh tới bằng cách nào cũng chẳng quan trọng bằng chuyện anh đã tới, cô hỏi:
— Sao anh lại gõ cửa phòng em?
Anh nhìn cô một lúc, nhớ tới những tấm danh thiếp, và bỗng thấy nhói lên một nỗi ghen tuông. Lỡ chúng rơi vào tay những kẻ khác cũng ưa phiêu lưu như anh thì sao? Anh nhanh chóng quyết định rằng cô không bao giờ được biết sự thật. Anh sẽ không bao giờ để cô biết rằng anh đã biết cái cách kì lạ mà nỗi khốn cùng đã dồn cô tới chỗ phải dùng.
— Một anh thợ lên dây đàn ở cửa hàng tôi sống trong ngôi nhà này, anh nói. Tôi gõ nhầm cửa phòng cô.
Điều cuối cùng anh nhìn thấy trong căn phòng trước khi cánh cửa xanh khép lại là nụ cười của cô.
Tới đầu cầu thang, anh dừng lại, tò mò nhìn quanh. Rồi anh đi dọc hành lang tới tận đầu kia, quay lại, rồi leo lên tầng trên, tiếp tục cuộc thám hiểm đầy bối rối. Mọi cánh cửa anh thấy trong ngôi nhà đều sơn màu xanh.
Ngạc nhiên, anh đi xuống vỉa hè. Người da đen ăn mặc kì quặc vẫn đứng đó. Ru-đôn-phơ đứng trước mặt anh ta, tay cầm hai tấm thiếp.
— Anh làm ơn cho tôi biết vì sao anh đưa tôi mấy tấm thiếp này, và chúng có nghĩa là gì?
Người đàn ông nhoẻn một nụ cười rộng, hồn hậu, phô ra một tấm quảng cáo tuyệt vời cho nghề của ông chủ mình.
— Kia kìa, thưa ông chủ, anh ta nói, chỉ tay xuống phía cuối phố. Nhưng tôi e là ông tới hơi muộn, lỡ mất màn đầu rồi.
Nhìn theo hướng tay anh ta chỉ, Ru-đôn-phơ thấy phía trên lối vào một nhà hát là tấm biển điện rực sáng quảng cáo vở kịch mới của nhà hát ấy: "Cánh cửa xanh".
— Người ta bảo tôi đấy là một vở hạng nhất, thưa ông, người đàn ông nói. Ông đại diện của vở kịch cho tôi một đô-la, thưa ông, để phát kèm ít thiếp của ông ấy với thiếp của ông bác sĩ. Ông có muốn lấy một tấm thiếp của ông bác sĩ không ạ?
Tới góc dãy phố nơi mình ở, Ru-đôn-phơ dừng lại uống một cốc bia và mua một điếu xì gà. Khi bước ra với điếu thuốc đã châm, anh cài khuy áo khoác, đẩy mũ ra sau, và nói chắc nịch với cây cột đèn ở góc phố:
— Dù sao đi nữa, tôi vẫn tin rằng chính bàn tay Số phận đã sắp đặt con đường cho tôi tìm thấy nàng.
Một kết luận như thế, trong hoàn cảnh như thế, chắc chắn đã đưa Ru-đôn-phơ Xtai-nơ vào hàng ngũ những tín đồ đích thực của Lãng mạn và Phiêu lưu.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn