Rai-cha-ran mười hai tuổi thì đến ở đợ nhà chủ. Anh cùng đẳng cấp với chủ, và được giao trông cậu con trai bé của chủ. Năm tháng trôi qua, cậu bé rời vòng tay Rai-cha-ran để đi học. Học trường làng xong, cậu lên đại học, rồi vào làm ngành toà án. Suốt thời gian ấy, cho tới khi cậu lấy vợ, Rai-cha-ran là người hầu duy nhất của cậu.
Nhưng khi trong nhà có bà chủ, Rai-cha-ran thấy mình có tới hai ông chủ thay vì một. Bao nhiêu uy thế ngày trước của anh đều chuyển sang bà chủ mới. Bù lại, có một người mới đến. Ông A-nu-cun sinh được một cậu con trai, và nhờ chăm bẵm hết lòng, chẳng mấy chốc Rai-cha-ran đã nắm trọn đứa bé trong tay. Anh tung nó lên cao, gọi nó bằng thứ tiếng trẻ con ngô nghê, ghé sát mặt vào mặt nó rồi lại toét miệng cười rụt ra.
Rồi đứa bé biết bò, bò được qua cả ngưỡng cửa. Hễ Rai-cha-ran chạy đến bắt, nó lại ré lên cười tinh nghịch rồi bò tìm chỗ an toàn. Rai-cha-ran sửng sốt trước tài khéo léo sâu sắc và óc phán đoán chính xác của đứa bé mỗi khi bị đuổi. Anh nói với bà chủ, vẻ mặt kính cẩn và bí ẩn:
– Cậu nhà mình sau này sẽ làm quan toà đấy bà ạ.
Rồi những điều kỳ diệu mới lần lượt đến. Khi đứa bé bắt đầu chập chững, với Rai-cha-ran đó là cả một kỷ nguyên trong lịch sử loài người. Khi nó gọi cha là Ba-ba, gọi mẹ là Ma-ma, và gọi Rai-cha-ran là Chan-na, thì niềm sung sướng của anh không còn bờ bến nào. Anh chạy đi khoe với cả thiên hạ.
Ít lâu sau, Rai-cha-ran phải trổ tài theo những cách khác. Chẳng hạn anh phải làm ngựa, ngậm dây cương trong miệng, hai chân nhảy tưng tưng. Anh còn phải vật nhau với cậu chủ nhỏ, và nếu cuối cùng không biết dùng mẹo đô vật mà ngã ngửa ra chịu thua, thì thế nào cũng có một trận khóc ầm trời.
Khoảng thời gian ấy, ông A-nu-cun được đổi về một huyện bên bờ sông Pát-ma. Trên đường đi qua Can-cút-ta, ông mua cho con trai một chiếc xe đẩy nhỏ. Ông còn mua cho cậu một chiếc áo gi-lê sa-tanh màu vàng, một chiếc mũ viền kim tuyến, cùng mấy chiếc vòng tay vòng chân bằng vàng. Mỗi lần đưa cậu đi dạo, Rai-cha-ran lại lấy những thứ ấy ra, trịnh trọng mặc cho cậu chủ nhỏ, lòng đầy kiêu hãnh.
Rồi mùa mưa đến, ngày này qua ngày khác mưa như trút. Dòng sông đói khát như một con trăn khổng lồ, nuốt chửng ruộng bậc thang, làng mạc, đồng lúa, và nhấn chìm những bụi cỏ cao cùng hàng phi lao dại trên các bãi cát. Thỉnh thoảng lại có một tiếng ùm trầm đục khi bờ sông sụt lở. Từ xa đã nghe tiếng nước lũ gầm không ngớt. Những mảng bọt trôi vùn vụt qua cho mắt thấy dòng nước chảy xiết đến nhường nào.
Một buổi chiều, mưa tạnh. Trời nhiều mây nhưng mát và sáng. Ông chủ nhỏ chuyên quyền của Rai-cha-ran không chịu ở trong nhà vào một buổi chiều đẹp như thế. Ngài leo lên xe đẩy. Rai-cha-ran đứng vào giữa hai càng, thong thả kéo ngài đi, cho tới khi ra đến những thửa ruộng lúa bên bờ sông. Ngoài đồng không một bóng người, trên sông không một con thuyền. Bên kia sông, phía tây, mây đã rách ra. Nghi lễ lặng lẽ của mặt trời lặn hiện ra trong tất cả vẻ huy hoàng rực rỡ. Giữa sự tĩnh lặng ấy, đứa bé bỗng giơ ngón tay chỉ về phía trước, kêu lên:
– Chan-na! Hoa xinh xinh!
Gần đó, trên một bãi bùn, có một cây ca-đam-ba lớn đang nở đầy hoa. Ông chủ nhỏ nhìn cây hoa bằng đôi mắt thèm thuồng, và Rai-cha-ran hiểu ý cậu. Mới đây thôi, anh đã lấy chính những chùm hoa tròn tròn ấy kết thành một chiếc xe đẩy nhỏ. Đứa bé thích chí kéo nó đi khắp nơi bằng một sợi dây, đến nỗi suốt cả ngày hôm ấy Rai-cha-ran không phải đeo cương lần nào. Anh được thăng chức từ ngựa lên người giữ ngựa.
Nhưng chiều hôm ấy Rai-cha-ran chẳng muốn lội bùn ngập đầu gối để hái hoa. Nên anh vội chỉ tay về hướng ngược lại, kêu lên:
– Ô kìa, cậu nhìn kìa, nhìn kìa! Nhìn con chim kìa!
Rồi anh vừa phát ra đủ thứ tiếng kỳ quặc vừa đẩy nhanh chiếc xe ra xa cái cây.
Nhưng một đứa bé số phải làm quan toà thì đâu dễ lừa như thế. Vả lại lúc ấy chẳng có gì khác thu hút được mắt cậu. Mà con chim tưởng tượng thì đâu thể giả vờ mãi được.
Cậu chủ nhỏ đã quyết rồi, Rai-cha-ran hết đường xoay xở. Cuối cùng anh nói:
– Thôi được, cậu ngồi yên trên xe nhé, để Chan-na đi hái hoa đẹp cho cậu. Nhớ là đừng lại gần chỗ nước đấy.
Nói rồi, anh xắn quần lên tận gối, lội qua bãi bùn nhão nhoét về phía cái cây.
Rai-cha-ran vừa đi khỏi, cậu chủ nhỏ liền phóng nhanh hết cỡ về phía dòng nước bị cấm. Đứa bé thấy dòng sông chảy xiết, vừa chảy vừa lóc bóc ọc ạch. Hình như chính những gợn sóng bướng bỉnh kia đang chạy trốn một Rai-cha-ran nào đó to lớn hơn, với tiếng cười của cả nghìn đứa trẻ. Thấy trò nghịch của chúng, trái tim đứa trẻ con người đâm háo hức, nôn nao. Cậu lén tụt xuống khỏi xe, lẫm chẫm đi về phía bờ sông. Dọc đường, cậu nhặt một que nhỏ, rồi chồm người ra mép bờ, làm như đang câu cá. Những nàng tiên tinh nghịch của dòng sông như đang dùng những giọng nói bí ẩn mời cậu vào ngôi nhà chơi của mình.
Rai-cha-ran đã hái được một nắm hoa, gói trong vạt áo mang về, mặt rạng rỡ nụ cười. Nhưng đến chỗ chiếc xe đẩy thì chẳng có ai. Anh nhìn khắp bốn phía, chẳng có ai. Anh nhìn lại chiếc xe, chẳng có ai.
Trong khoảnh khắc khủng khiếp đầu tiên ấy, máu trong người anh đông cứng lại. Trước mắt anh, cả vũ trụ quay cuồng như một làn sương đen. Từ đáy trái tim tan nát, anh thét lên một tiếng xé lòng:
– Cậu ơi! Cậu ơi! Cậu chủ nhỏ ơi!
Nhưng chẳng có tiếng nào đáp lại "Chan-na". Không có tiếng trẻ con cười tinh nghịch, không có tiếng ré lên sung sướng đón anh trở về. Chỉ có dòng sông vẫn chảy, vẫn lóc bóc ọc ạch như trước, như thể nó chẳng biết gì, chẳng có thời giờ để ý đến một sự việc nhỏ nhoi của loài người như cái chết của một đứa trẻ.
Chiều dần tàn, bà chủ của Rai-cha-ran lo cuống lên. Bà sai người đi tìm khắp nơi. Họ cầm đèn lồng đi, cuối cùng ra tới bờ sông Pát-ma. Ở đó họ thấy Rai-cha-ran chạy ngược chạy xuôi khắp cánh đồng như một cơn gió bão, gào lên tuyệt vọng:
– Cậu ơi! Cậu ơi! Cậu chủ nhỏ ơi!
Khi cuối cùng người ta đưa được Rai-cha-ran về nhà, anh ngã sụp dưới chân bà chủ. Người ta lay anh, tra hỏi anh, hỏi đi hỏi lại anh đã để đứa bé ở đâu. Nhưng anh chỉ nói được một câu là anh không biết gì cả.
Tuy ai cũng cho rằng sông Pát-ma đã nuốt mất đứa bé, nhưng trong lòng người ta vẫn còn lấp ló một mối ngờ. Vì chiều hôm ấy có người thấy một toán dân du mục ở ngoài làng, và người ta ngờ cho họ. Trong cơn đau đớn điên cuồng, người mẹ còn nghĩ có khi chính Rai-cha-ran đã bắt cóc đứa bé. Bà gọi anh ra một chỗ, khẩn khoản van nài thảm thiết:
– Rai-cha-ran, trả con lại cho tôi. Ôi, trả con lại cho tôi. Anh muốn bao nhiêu tiền tôi cũng đưa, chỉ xin anh trả con lại cho tôi!
Rai-cha-ran chỉ đập đầu thay cho câu trả lời. Bà chủ đuổi anh ra khỏi nhà.
Ông A-nu-cun cố giảng giải cho vợ bỏ mối nghi hoàn toàn oan uổng ấy:
– Cớ làm sao anh ấy lại phạm một tội như thế chứ?
Người mẹ chỉ đáp:
– Trên người con có đeo đồ vàng. Ai mà biết được?
Từ đó không cách nào nói phải trái được với bà nữa.
Rai-cha-ran về lại làng mình. Đến lúc ấy anh vẫn chưa có con trai, và cũng chẳng còn hy vọng gì có con nữa. Nhưng chưa hết năm, vợ anh sinh được một đứa con trai, rồi chết.
Thoạt đầu, nhìn đứa bé mới sinh, lòng Rai-cha-ran trào lên một nỗi oán giận ngập ngụa. Sâu trong lòng anh có một mối ngờ đầy hờn giận rằng nó đến để cướp chỗ của cậu chủ nhỏ. Anh còn nghĩ, sau những gì đã xảy ra với đứa con bé bỏng của chủ, mà mình lại vui sướng với con trai của chính mình thì thật là một tội nặng. Thật ra, nếu không có người chị goá chồng của anh đứng ra làm mẹ đứa bé, hẳn nó đã chẳng sống được bao lâu.
Nhưng dần dần lòng Rai-cha-ran đổi khác. Một điều kỳ diệu đã xảy ra. Đến lượt đứa bé mới này bắt đầu bò khắp nơi, bò qua cả ngưỡng cửa, mặt mũi đầy vẻ tinh nghịch. Nó cũng khôn ngoan buồn cười lắm mỗi khi bò trốn tìm chỗ an toàn. Giọng nó, tiếng nó cười, tiếng nó khóc, điệu bộ của nó, đều là của cậu chủ nhỏ. Có những hôm nghe nó khóc, tim Rai-cha-ran bỗng đập thình thịch dữ dội vào lồng ngực, và anh tưởng như cậu chủ nhỏ ngày xưa đang khóc đâu đó nơi cõi chết xa lạ, vì đã mất Chan-na của mình.
Phai-na, cái tên chị của Rai-cha-ran đặt cho đứa bé mới, chẳng bao lâu đã bắt đầu biết nói. Nó học nói Ba-ba, Ma-ma bằng giọng ngọng nghịu trẻ con. Khi nghe những tiếng quen thuộc ấy, bí ẩn bỗng sáng tỏ với Rai-cha-ran. Cậu chủ nhỏ không dứt được bùa mê của Chan-na, nên cậu đã đầu thai vào chính nhà anh.
Với Rai-cha-ran, những lý lẽ ủng hộ điều ấy là hoàn toàn không thể chối cãi.
Thứ nhất, đứa bé mới ra đời ít lâu sau cái chết của cậu chủ nhỏ.
Thứ hai, vợ anh không đời nào tích được ngần ấy phúc đức mà đến tuổi trung niên còn sinh được con trai.
Thứ ba, đứa bé mới đi lẫm chẫm và gọi Ba-ba, Ma-ma. Chẳng thiếu một dấu hiệu nào của vị quan toà tương lai.
Rồi bỗng Rai-cha-ran nhớ lại lời buộc tội khủng khiếp của người mẹ. Anh sửng sốt tự nhủ: "À, lòng mẹ không lầm. Bà ấy biết là ta đã cướp con bà ấy."
Đã đi đến kết luận ấy rồi, anh day dứt hối hận vì sự lơ là trước kia. Giờ anh hiến dâng cả thể xác lẫn linh hồn cho đứa bé mới, thành kẻ hầu hạ tận tuỵ của nó. Anh bắt đầu nuôi nó như con nhà giàu. Anh mua một chiếc xe đẩy, một chiếc áo gi-lê sa-tanh màu vàng, một chiếc mũ thêu kim tuyến. Anh nấu chảy đồ nữ trang của người vợ quá cố, đánh thành vòng tay vòng chân bằng vàng. Anh không cho đứa bé chơi với ai trong xóm, mà tự mình làm bạn duy nhất của nó cả ngày lẫn đêm.
Đứa bé lớn dần thành cậu thiếu niên, được cưng chiều, nuông chiều, ăn mặc diêm dúa đến nỗi lũ trẻ trong làng gọi nó là "Quan lớn" mà chế giễu. Còn người lớn thì cho rằng Rai-cha-ran mê thằng bé đến mức điên rồ khó hiểu.
Cuối cùng đến lúc thằng bé phải đi học. Rai-cha-ran bán mảnh đất nhỏ của mình, lên Can-cút-ta. Ở đó, vất vả lắm anh mới kiếm được chân đầy tớ, rồi cho Phai-na đi học. Anh chẳng tiếc công sức nào để cho nó được học hành tốt nhất, ăn mặc đẹp nhất, ăn uống ngon nhất. Trong khi ấy, anh chỉ sống bằng một nắm cơm, và lén thì thầm: "Ôi, cậu chủ nhỏ của tôi, cậu chủ nhỏ thân yêu của tôi, cậu thương tôi đến thế nên mới về nhà tôi. Cậu sẽ không bao giờ phải chịu thiệt thòi vì tôi lơ là nữa."
Mười hai năm trôi qua như thế. Thằng bé đọc thông viết thạo. Nó sáng sủa, khoẻ mạnh, đẹp trai. Nó rất chăm chút vẻ ngoài, đặc biệt kỹ lưỡng khi rẽ đường ngôi. Nó thích hoang phí, ưa đồ đẹp, tiêu tiền rộng tay. Nó chẳng bao giờ coi Rai-cha-ran hẳn là cha, vì tuy thương nó như cha, nhưng Rai-cha-ran lại có điệu bộ của một người đầy tớ. Lại thêm một lỗi nữa, ấy là Rai-cha-ran giấu kín với mọi người rằng chính anh là cha đứa bé.
Đám học trò ở cùng ký túc xá với Phai-na rất lấy làm thích thú cái lề lối nhà quê của Rai-cha-ran. Và tôi phải thú thật là sau lưng cha, Phai-na cũng hùa theo chúng mà cười. Nhưng tận đáy lòng, đám học trò đều thương ông già hồn nhiên, hiền lành ấy, và Phai-na cũng rất quý ông. Có điều, như tôi đã nói, nó thương ông theo kiểu kẻ trên ban ơn cho kẻ dưới.
Rai-cha-ran mỗi ngày một già, chủ lại liên tục bắt lỗi anh làm việc kém cỏi. Anh đã nhịn đói vì thằng bé, nên người ngày càng yếu, không còn kham nổi công việc. Anh hay quên, đầu óc lú lẫn chậm chạp. Nhưng chủ vẫn bắt anh làm đủ phần việc của một người đầy tớ, chẳng chịu nghe lời nào thanh minh. Số tiền bán đất Rai-cha-ran mang theo đã cạn. Thằng bé thì cứ cằn nhằn mãi chuyện quần áo, đòi thêm tiền.
Rai-cha-ran quyết định. Anh bỏ chỗ làm đầy tớ, để lại cho Phai-na ít tiền, rồi nói:
– Cha có chút việc phải về làng, ít bữa nữa cha lên.
Rồi anh đi ngay đến Ba-ra-xét, nơi ông A-nu-cun đang làm quan toà. Vợ ông A-nu-cun vẫn còn suy sụp vì đau buồn. Bà không có thêm đứa con nào.
Một hôm, ông A-nu-cun đang nghỉ ngơi sau một ngày dài mệt mỏi ở toà. Vợ ông đang mua với giá cắt cổ của một gã lang băm ăn mày một thứ lá thuốc, nghe đâu uống vào chắc chắn sinh con. Ngoài sân có tiếng ai chào. Ông A-nu-cun ra xem ai. Thì ra là Rai-cha-ran. Thấy người đầy tớ cũ, lòng ông A-nu-cun mềm lại. Ông hỏi han anh đủ điều, ngỏ ý nhận anh trở lại làm.
Rai-cha-ran mỉm cười yếu ớt, đáp:
– Con muốn vào lạy chào bà chủ.
Ông A-nu-cun dẫn Rai-cha-ran vào nhà. Bà chủ đón anh không nồng hậu bằng ông chủ cũ. Rai-cha-ran chẳng để ý điều ấy, chỉ chắp tay nói:
– Không phải sông Pát-ma cướp mất cậu nhà đâu ạ. Chính con đấy.
Ông A-nu-cun kêu lên:
– Trời đất ơi! Hả! Cái gì! Nó đâu?
Rai-cha-ran đáp:
– Cậu đang ở với con. Ngày kia con sẽ đưa cậu về.
Hôm ấy là chủ nhật. Toà không xử. Từ sáng sớm, cả hai vợ chồng đã ngóng ra đường, chờ Rai-cha-ran xuất hiện. Mười giờ thì anh đến, tay dắt Phai-na.
Vợ ông A-nu-cun chẳng hỏi một câu, ôm ngay thằng bé vào lòng, cuống quýt như điên, lúc cười lúc khóc, sờ nắn nó, hôn lên tóc lên trán nó, nhìn vào mặt nó bằng đôi mắt khao khát, háo hức. Thằng bé rất đẹp trai, ăn mặc như con nhà quyền quý. Lòng ông A-nu-cun trào dâng một niềm thương mến bất ngờ.
Dù vậy, cái ông quan toà trong ông vẫn hỏi:
– Anh có bằng chứng gì không?
Rai-cha-ran nói:
– Việc như thế thì làm sao có bằng chứng được ạ? Chỉ có Trời biết con đã cướp cậu nhà, ngoài ra chẳng ai trên đời biết cả.
Thấy vợ bám riết lấy thằng bé như thế, ông A-nu-cun hiểu đòi bằng chứng là vô ích. Tin thì khôn ngoan hơn. Mà một ông già như Rai-cha-ran thì lấy đâu ra một đứa con trai như thế này? Và cớ gì người đầy tớ trung thành của ông lại lừa ông mà chẳng được gì?
– Nhưng mà, ông nói thêm, giọng nghiêm khắc, Rai-cha-ran, anh không được ở lại đây.
Rai-cha-ran chắp tay, nghẹn ngào:
– Con biết đi đâu bây giờ, ông chủ? Con già rồi. Ai còn nhận một ông già vào làm đầy tớ?
Bà chủ nói:
– Cứ để anh ấy ở lại. Con tôi sẽ vui. Tôi tha thứ cho anh ấy.
Nhưng lương tâm quan toà của ông A-nu-cun không cho phép. Ông nói:
– Không, việc anh ta làm thì không thể tha thứ được.
Rai-cha-ran cúi rạp xuống đất, ôm lấy chân ông A-nu-cun, kêu lên:
– Ông chủ ơi, cho con ở lại. Không phải con làm đâu. Là Trời làm đấy.
Thấy Rai-cha-ran định đổ tội lên vai Trời, lương tâm ông A-nu-cun càng bị xúc phạm nặng nề hơn bao giờ hết.
– Không, ông nói, tôi không thể cho phép. Tôi không thể tin anh được nữa. Anh đã phản bội.
Rai-cha-ran đứng dậy, nói:
– Không phải con làm.
– Vậy thì ai? Ông A-nu-cun hỏi.
Rai-cha-ran đáp:
– Là số phận con.
Nhưng chẳng người có học nào lại chấp nhận đó là lời bào chữa. Ông A-nu-cun vẫn khăng khăng không đổi ý.
Khi Phai-na thấy mình là con trai ông quan toà giàu có chứ không phải con Rai-cha-ran, thoạt đầu nó tức giận, nghĩ rằng bấy lâu nay mình bị lừa mất phần dòng dõi của mình. Nhưng thấy Rai-cha-ran khổ sở, nó rộng lượng nói với cha:
– Cha ơi, cha tha cho ông ấy. Dù cha không cho ông ấy ở với nhà mình, thì cũng cho ông ấy chút tiền trợ cấp hằng tháng.
Nghe vậy, Rai-cha-ran không nói thêm một lời nào nữa. Ông nhìn mặt con trai mình lần cuối. Ông cúi lạy ông chủ, bà chủ cũ. Rồi ông đi ra, và lẫn vào đám người vô số của thế gian.
Cuối tháng, ông A-nu-cun gửi ít tiền về làng cho ông. Nhưng tiền bị gửi trả lại. Ở đó không có ai tên là Rai-cha-ran.
— Hết —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn