Chương 1: Phần một. Con chó dưới gầm giường
— Nhưng nếu thừa nhận khả năng của cái siêu nhiên, khả năng nó can thiệp vào đời sống thực, thì cho phép tôi hỏi, sau đấy lý trí lành mạnh còn đóng vai trò gì? An-tôn Xtê-pa-nứt tuyên bố, rồi khoanh tay trên bụng.
An-tôn Xtê-pa-nứt mang hàm cố vấn dân sự, làm việc ở một bộ khó hiểu nào đó, nói năng chậm rãi, nặng nề, giọng trầm, và được mọi người kính nể. Không lâu trước đó, theo lời những kẻ ghen tị với ông, ông vừa “được dán cho cái huân chương Xta-nít-xláp”.
— Điều ấy hoàn toàn đúng, Xcvô-rê-vích nhận xét.
— Về chuyện này thì chẳng ai cãi, Ki-na-rê-vích thêm vào.
— Tôi cũng đồng ý, chủ nhà, ông Phi-nô-plen-tốp, phụ hoạ bằng giọng the thé từ trong góc.
— Còn tôi, thú thật, không đồng ý được, vì chính tôi đã gặp một chuyện siêu nhiên, một người đàn ông tầm thước, trung niên, bụng phệ, đầu hói, nãy giờ ngồi im lặng sau lò sưởi, cất lời.
Ánh mắt của mọi người trong phòng tò mò và ngơ ngác hướng cả về ông, và sự im lặng ngự trị.
Người đàn ông này là một địa chủ không giàu ở Ca-lu-ga, mới lên Pê-téc-bua. Ông từng phục vụ trong kỵ binh nhẹ, thua bạc hết, xin giải ngũ về sống ở quê. Những thay đổi mới đây về điền sản đã làm thu nhập của ông giảm đi, và ông lên kinh đô tìm một chỗ làm thuận tiện. Ông chẳng có tài cán gì, cũng chẳng có quan hệ gì, nhưng ông tin chắc vào tình bạn của một người bạn đồng ngũ cũ, người bỗng dưng chẳng biết từ đâu mà thành người có địa vị, và ông từng giúp người ấy đánh cho một tay bịp bạc một trận. Ngoài ra ông còn trông vào vận may của mình, và vận may không phụ ông: mấy ngày sau ông được làm giám sát các kho hàng nhà nước, một chỗ có lợi, thậm chí còn danh giá, mà chẳng đòi tài năng gì xuất chúng. Bản thân những cái kho chỉ tồn tại trong dự định, thậm chí cũng chẳng ai biết chắc người ta sẽ chứa gì trong đó, chúng được nghĩ ra vì mục đích tiết kiệm cho nhà nước.
An-tôn Xtê-pa-nứt là người đầu tiên phá tan sự sững sờ chung.
— Sao, thưa ngài! Ông bắt đầu. Ngài nói thật là ngài đã gặp một chuyện siêu nhiên ư, tôi muốn nói: một chuyện không phù hợp với các quy luật của tự nhiên?
— Tôi khẳng định thế, “thưa ngài” đáp, mà tên thật của ông là Póoc-phi-ri Ca-pi-tô-nứt.
— Không phù hợp với các quy luật của tự nhiên! An-tôn Xtê-pa-nứt nhắc lại, giọng bực bội, có vẻ ông thích câu ấy.
— Đúng thế… phải, đúng như ngài nói.
— Lạ lùng thật! Các vị nghĩ sao?
An-tôn Xtê-pa-nứt cố tạo cho nét mặt mình một vẻ mỉa mai, nhưng chẳng được, hay nói cho đúng hơn, chỉ được mỗi cái vẻ như ngài cố vấn dân sự vừa ngửi thấy mùi khó chịu.
— Ngài có vui lòng, thưa ngài, ông nói tiếp, quay sang ông địa chủ Ca-lu-ga, kể cho chúng tôi nghe chi tiết một sự việc đáng tò mò như thế không?
— Sao lại không? Được chứ! Ông địa chủ đáp, rồi thoải mái nhích ra giữa phòng mà kể thế này:
— Thưa các vị, như các vị có lẽ đã biết, mà có lẽ chưa biết, tôi có một điền trang nhỏ ở huyện Cô-den-xcơ. Trước kia tôi còn thu được chút lợi lộc từ đó, nhưng bây giờ, dĩ nhiên, chẳng có gì để trông chờ ngoài những phiền phức. Nhưng thôi, gác chuyện chính trị sang bên! Thì đấy, trong chính điền trang ấy tôi có một cái trang trại “bé tí”: vườn rau như thường lệ, cái ao nhỏ có mấy con cá diếc, vài gian nhà, và một gian phụ cho cái thân tội lỗi của tôi… Đời độc thân mà. Thế đấy, có một lần, chừng sáu năm trước, tôi về nhà khá muộn: tôi chơi mấy ván bài ở nhà ông hàng xóm, nhưng xin các vị lưu ý, tôi chẳng hề say chút nào, như người ta nói. Tôi cởi đồ, nằm xuống, thổi tắt nến. Và các vị hãy hình dung: vừa thổi tắt nến thì dưới gầm giường có tiếng sột soạt! Tôi nghĩ: chuột à? Không, chẳng phải chuột: cào, sột soạt, gãi… Cuối cùng là tiếng tai đập phành phạch!
Hiểu ngay: chó. Nhưng chó ở đâu ra? Chính tôi đâu có nuôi. Hay là, tôi nghĩ, có con chó lạc nào chạy vào? Tôi gọi người hầu, nó tên là Phin-ca. Người hầu cầm nến bước vào. “Thế là thế nào”, tôi nói, “này Phin-ca, mày để lộn xộn thế này à! Có con chó chui vào gầm giường tao kìa.” “Chó nào ạ?” nó nói. “Tao biết đâu được?” tôi bảo. “Đó là việc của mày, không được để chủ bị quấy rầy.” Phin-ca của tôi cúi xuống, cầm nến soi dưới gầm giường. “Ở đây chẳng có con chó nào cả ạ”, nó nói. Tôi cũng cúi xuống: đúng thật, chẳng có chó. Chuyện quái gì thế! Tôi ngước nhìn Phin-ca, nó đang cười. “Đồ ngốc”, tôi bảo nó, “mày nhe răng ra làm gì? Chắc lúc mày mở cửa con chó đã lẻn ra gian ngoài rồi. Còn mày, đồ há mồm, chẳng để ý gì, vì mày lúc nào cũng ngủ. Hay mày tưởng tao say?” Nó định cãi, nhưng tôi đuổi nó ra, cuộn tròn lại, và đêm ấy chẳng nghe thấy gì nữa.
Nhưng đêm hôm sau, các vị tưởng tượng xem! Lại y như thế. Vừa thổi tắt nến là lại cào, lại đập tai phành phạch. Tôi lại gọi Phin-ca, nó lại soi dưới gầm giường, lại chẳng có gì! Tôi đuổi nó ra, thổi tắt nến, phì, quỷ thật! Con chó lại ở ngay đấy. Mà đúng là chó: nghe rõ nó thở thế nào, lấy răng sục lông tìm bọ chét thế nào… Rõ mồn một! “Phin-ca!” tôi nói. “Vào đây, đừng cầm nến!” Nó vào. “Sao”, tôi nói, “mày có nghe thấy không?” “Có nghe ạ”, nó nói. Tôi chẳng nhìn thấy nó, nhưng cảm thấy thằng nhỏ đã sợ. “Thế mày hiểu chuyện này thế nào?” tôi hỏi. “Ông bảo con hiểu thế nào, thưa ông Póoc-phi-ri Ca-pi-tô-nứt? Ma ám đấy ạ!” “Mày là đồ vô tích sự”, tôi nói, “im đi với cái ma ám của mày…” Mà giọng cả hai thầy trò như giọng chim, run như sốt rét, trong bóng tối ấy. Tôi thắp nến: chẳng có chó, chẳng có tiếng động gì cả, chỉ có tôi với Phin-ca trắng bệch như đất sét. Thế là nến cháy tới sáng. Và tôi xin thưa với các vị, tin tôi hay không thì tuỳ, nhưng từ chính đêm ấy, suốt sáu tuần liền, chuyện ấy cứ lặp lại với tôi. Về sau tôi thậm chí quen dần, lại thổi tắt nến, vì có ánh sáng tôi không ngủ được. Cứ để nó sột soạt! Nó có làm hại gì tôi đâu.
— Tuy vậy tôi thấy ngài không thuộc loại nhát gan, An-tôn Xtê-pa-nứt ngắt lời, cười nửa khinh khỉnh, nửa kẻ cả. Thấy ngay là dân kỵ binh!
— Ngài thì tôi chẳng đời nào sợ, Póoc-phi-ri Ca-pi-tô-nứt nói, và trong khoảnh khắc trông ông đúng là dân kỵ binh thật. Nhưng các vị nghe tiếp đã. Có một ông hàng xóm tới chơi nhà tôi, chính cái ông tôi hay chơi bài cùng. Ông ấy ăn tối ở nhà tôi, có gì ăn nấy, thua tôi chừng năm chục rúp cho chuyến thăm, ngoài trời đã tối, đến lúc phải về. Còn tôi thì có tính toán riêng. “Ở lại ngủ đêm đi”, tôi bảo, “ông Va-xi-li Va-xi-lích, mai lại gỡ, có Chúa phù hộ.” Va-xi-li Va-xi-lích của tôi nghĩ mãi, nghĩ mãi, rồi ở lại. Tôi sai kê cho ông một cái giường ngay trong phòng ngủ của tôi… Thế là chúng tôi nằm, hút thuốc, tán gẫu, phần nhiều về chuyện phái đẹp, như hợp với một hội độc thân, dĩ nhiên cũng cười đùa. Tôi nhìn: Va-xi-li Va-xi-lích tắt nến, quay lưng về phía tôi, nghĩa là: “chúc ngủ ngon”. Tôi chờ một chút, rồi cũng tắt nến. Và các vị hình dung xem: tôi chưa kịp nghĩ xem sắp có trò gì xảy ra, thì con chó cưng của tôi đã sột soạt. Mà đâu chỉ sột soạt: nó chui ra khỏi gầm giường, đi ngang qua phòng, móng gõ cộp cộp trên sàn, lắc tai, rồi bỗng đẩy mạnh cái ghế cạnh giường ông Va-xi-li Va-xi-lích!
“Ông Póoc-phi-ri Ca-pi-tô-nứt”, ông ấy nói, bằng một giọng, các vị biết đấy, rất dửng dưng, “tôi chẳng biết là ông đã kiếm được con chó. Giống gì thế, chó săn chim à?” “Tôi chẳng có con chó nào”, tôi nói, “mà cũng chưa bao giờ có!” “Không có là sao? Thế cái gì đây?” “Cái gì à?” tôi nói. “Ông thắp nến lên thì tự khắc biết.” “Không phải chó à?” “Không.” Va-xi-li Va-xi-lích trở mình trên giường. “Ông đùa à, đồ quỷ?” “Không, tôi chẳng đùa.” Tôi nghe ông ấy quẹt, quẹt que diêm, còn nó thì vẫn chẳng chịu yên, cứ gãi sườn. Ngọn lửa bùng lên… thế là hết! Chẳng còn dấu vết! Va-xi-li Va-xi-lích nhìn tôi, tôi cũng nhìn ông ấy. “Trò ảo thuật gì thế này?” ông nói. “Đây là cái trò ảo thuật mà”, tôi nói, “ông đặt một bên là chính ông Xô-crát, bên kia là Phri-đrích Đại đế, thì đến họ cũng chẳng hiểu nổi.” Rồi ngay lúc ấy tôi kể cho ông ấy nghe tường tận. Va-xi-li Va-xi-lích của tôi bật dậy! Như bị bỏng! Xỏ mãi chân không vào ủng. “Thắng ngựa!” ông hét. “Thắng ngựa!” Tôi khuyên can, chẳng ăn thua! Ông ta cứ kêu ầm lên. “Tôi không ở thêm phút nào nữa! Sau chuyện này thì ông là người bị nguyền rủa rồi! Thắng ngựa!…” Tuy vậy tôi cũng thuyết phục được. Có điều phải khiêng giường ông ấy sang phòng khác, thắp đèn ngủ khắp nơi.
Sáng ra uống trà, ông ấy đã bình tĩnh lại, bắt đầu khuyên tôi. “Ông Póoc-phi-ri Ca-pi-tô-nứt ạ”, ông nói, “ông nên thử rời nhà vài ngày: có khi cái thứ tởm lợm ấy sẽ bỏ ông.” Mà phải nói với các vị, ông hàng xóm của tôi là người trí tuệ uyên bác! Ông ta xử lý bà mẹ vợ của mình tuyệt lắm: dúi cho bà ký một tờ hối phiếu, chọn đúng lúc bà mềm lòng nhất! Bà thành ngoan như lụa, uỷ quyền cho ông quản lý toàn bộ điền trang. Còn gì hơn? Mà chuyện đó đâu dễ, bắt được bà mẹ vợ vào khuôn, hả? Các vị cứ tự xét. Tuy vậy ông ấy rời nhà tôi với chút không vui: tôi lại phạt ông ấy thêm cả trăm rúp nữa. Ông ấy còn chửi tôi, bảo tôi là đồ vô ơn, chẳng biết điều. Nhưng tôi có lỗi gì đâu? Thôi, chuyện ấy cũng thường thôi.
Còn lời khuyên của ông thì tôi ghi nhớ: ngay hôm ấy tôi lên thành phố, ở trọ trong nhà trọ của một ông lão quen theo đạo Cổ Nghi. Một ông lão đáng kính, tuy hơi khắc khổ vì cô độc: cả nhà ông chết hết. Có điều ông rất ghét thuốc lá, mà với chó thì ghê tởm vô cùng. Hình như bảo ông đồng ý cho một con chó vào phòng, thì ông thà tự xé mình làm đôi còn hơn! “Vì sao lại có thể được!” ông nói. “Ở đây, trong phòng khách nhà tôi, Đức Mẹ ngự trên tường, thế mà con chó bẩn thỉu lại chĩa cái mõm phạm thánh của nó vào.” Đã biết rồi, kém học! Mà tôi thì có ý thế này: ai được ban cho thứ khôn ngoan nào, người ấy cứ giữ lấy thứ ấy!
— Tôi thấy ngài là một triết gia lớn, An-tôn Xtê-pa-nứt lại ngắt lời lần nữa, vẫn với nụ cười khẩy ấy.
Lần này Póoc-phi-ri Ca-pi-tô-nứt thậm chí cau mày.
— Tôi là triết gia thế nào thì còn chưa biết, ông nói, vê bộ ria một cách u ám, nhưng ngài thì tôi sẵn lòng nhận làm học trò.
Tất cả chúng tôi đều dán mắt vào An-tôn Xtê-pa-nứt. Ai cũng chờ một câu đáp lại kiêu ngạo, hay ít ra một cái nhìn như chớp. Nhưng ngài cố vấn dân sự chuyển nụ cười khẩy từ khinh khỉnh sang thờ ơ, rồi ngáp một cái, đung đưa chân, thế thôi!
— Hết chương 1 —
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ
🏮 Truyện ma & truyền kỳ