Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Phần một. Bí mật ba quân bài

Con đầm pích · Chương 1/3 · của Aleksandr Pushkin

⏱ 17 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 18.195 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Con đầm pích báo hiệu một ác ý ngấm…
  2. 1:42Không! Thật tình chẳng biết gì!
  3. 4:48Chuyện bịa! Ghéc-man nhận xét.
  4. 6:58Cứ đưa thẳng nó đến buổi dạ vũ, rồi…
  5. 8:09Công binh à?
  6. 9:16Làm sao thế, con! Điếc à! Bà bá tước…
  7. 10:22Sao gọi mãi không thấy ai thế? Bà bá…
  8. 14:09Từ đó, chẳng ngày nào chàng trai không xuất…

Chương 1: Phần một. Bí mật ba quân bài

Con đầm pích báo hiệu một ác ý ngấm ngầm. Trích Sách bói bài mới nhất.

Những ngày mưa gió, Họ lại tụ nhau Luôn luôn. Đặt cược, Chúa tha cho, Từ năm chục Lên trăm. Rồi thắng to, Rồi ghi sổ Bằng phấn. Thế đấy, những ngày mưa gió, Họ lo làm Việc lớn.

Một lần, người ta đánh bài ở nhà Na-ru-mốp, sĩ quan đội kỵ binh cận vệ. Đêm đông dài trôi qua lúc nào không biết. Gần năm giờ sáng mới ngồi vào ăn tối. Những người thắng bạc ăn rất ngon miệng. Những người khác ngồi thẫn thờ trước bộ đồ ăn trống trơn của mình. Nhưng sâm-banh được mang ra, câu chuyện rôm rả hẳn lên, ai nấy đều góp lời.

– Thế nào, Xu-rin? Chủ nhà hỏi.

– Thua, như mọi khi. Phải thú nhận là tôi đen đủi thật. Tôi đánh dè dặt, chẳng bao giờ nóng máu, chẳng gì làm tôi rối trí được, thế mà cứ thua hoài!

– Thế mà cậu chưa một lần nào bị cám dỗ à? Chưa một lần nào dồn hết tiền vào một quân bài à? Sự cứng rắn của cậu làm tôi phục quá.

– Còn anh chàng Ghéc-man thì sao! Một vị khách nói, chỉ một sĩ quan công binh trẻ. Từ thuở sinh ra chưa từng cầm đến quân bài, chưa từng gấp góc quân bài nào để gấp đôi tiền cược, thế mà ngồi với chúng ta đến tận năm giờ sáng xem chúng ta đánh!

– Đánh bài làm tôi say mê lắm, Ghéc-man nói, nhưng tôi không thể đem cái cần thiết ra đánh liều với hy vọng kiếm được cái thừa thãi.

– Ghéc-man là người Đức: cậu ta tính toán, thế thôi! Tôm-xki nhận xét. Còn nếu có ai tôi không hiểu nổi, thì đó là bà tôi, bà bá tước An-na Phê-đô-tốp-na.

– Sao? Thế nào? Khách khứa kêu lên.

– Tôi không sao hiểu nổi, Tôm-xki nói tiếp, tại sao bà tôi lại không đánh bạc!

– Thì có gì lạ đâu, Na-ru-mốp nói, một bà già tám mươi tuổi không đánh bạc?

– Thế ra các anh chẳng biết gì về bà tôi cả à?

– Không! Thật tình chẳng biết gì!

– Ồ, thế thì nghe đây.

– Phải biết rằng bà tôi, chừng sáu mươi năm trước, sang Pa-ri và nổi đình nổi đám ở đó. Người ta chạy theo bà để được ngắm "nàng Vệ nữ thành Mát-xcơ-va". Công tước Ri-sơ-li-ơ theo đuổi bà, và bà tôi quả quyết rằng ông ta suýt nữa tự bắn vì bà tàn nhẫn với ông.

– Hồi ấy các bà các cô hay đánh bài pha-ra-ông. Một lần trong cung, bà thua quận công Oóc-lê-ăng một món rất lớn, nợ miệng. Về đến nhà, bà tôi vừa bóc những nốt ruồi giả trên mặt, vừa tháo váy phồng, vừa báo cho ông tôi biết mình thua bạc, và ra lệnh cho ông trả tiền.

– Ông tôi quá cố, theo tôi nhớ, là một kiểu quản gia của bà tôi. Ông sợ bà như sợ lửa. Thế mà nghe nói đến món thua khủng khiếp như thế, ông nổi khùng, mang bàn tính ra, chứng minh cho bà thấy rằng trong nửa năm họ đã tiêu hết nửa triệu, rằng ở quanh Pa-ri này họ chẳng có điền trang nào ở ngoại ô Mát-xcơ-va hay ở Xa-ra-tốp cả, rồi từ chối thẳng thừng không trả. Bà tôi tát ông một cái, rồi đi ngủ một mình để tỏ ý thất sủng.

– Hôm sau bà cho gọi chồng đến, mong hình phạt trong nhà đã có tác dụng, nhưng thấy ông vẫn không lay chuyển. Lần đầu tiên trong đời, bà phải hạ mình bàn bạc, giải thích với ông. Bà định làm ông xấu hổ, độ lượng chứng minh rằng nợ với nợ cũng khác nhau, rằng một ông hoàng với một anh đánh xe là khác nhau. Nhưng đâu được! Ông tôi nổi loạn. Không là không! Bà tôi chẳng biết làm sao.

– Bà quen thân với một người rất đáng chú ý. Các anh có nghe nói về bá tước Xanh Giéc-manh, người mà người ta kể bao nhiêu chuyện kỳ diệu chưa? Các anh biết ông ta tự xưng là Người Do Thái lang thang muôn đời, là người tìm ra thuốc trường sinh và hòn đá phù thuỷ, vân vân. Người ta cười ông ta như cười một gã lang băm, còn Ca-xa-nô-va trong hồi ký của mình thì bảo ông ta là gián điệp. Nhưng dù bí ẩn như thế, Xanh Giéc-manh có dáng vẻ rất đáng kính, và ngoài xã hội là người rất dễ mến. Bà tôi đến giờ vẫn còn quý ông ta vô cùng, và hễ ai nói về ông ta thiếu tôn trọng là bà giận. Bà tôi biết Xanh Giéc-manh có thể có rất nhiều tiền. Bà quyết định cầu đến ông ta. Bà viết cho ông ta mấy dòng, xin ông ta đến ngay.

– Lão già lập dị đến ngay, thấy bà đang buồn khổ ghê gớm. Bà tả cho ông ta bằng những màu đen tối nhất sự man rợ của chồng mình, cuối cùng bảo rằng bà đặt hết hy vọng vào tình bạn và lòng tốt của ông ta.

– Xanh Giéc-manh trầm ngâm.

– "Tôi có thể giúp bà số tiền ấy," ông ta nói, "nhưng tôi biết bà sẽ không yên lòng chừng nào chưa trả xong cho tôi, mà tôi thì không muốn bà dính vào những phiền toái mới. Có một cách khác: bà có thể gỡ lại." "Nhưng bá tước thân mến," bà tôi đáp, "tôi đã nói với ông là chúng tôi chẳng còn đồng nào cả." "Chẳng cần tiền," Xanh Giéc-manh nói, "bà nghe tôi đây." Và ông ta tiết lộ cho bà một bí mật mà bất cứ ai trong chúng ta cũng sẵn sàng trả giá đắt để có được…

Những tay chơi trẻ càng chú ý gấp bội. Tôm-xki châm tẩu, rít một hơi, rồi kể tiếp.

– Ngay tối hôm ấy, bà tôi có mặt ở Véc-xây, tại bàn bài của Hoàng hậu. Quận công Oóc-lê-ăng làm cái. Bà tôi nhẹ nhàng xin lỗi vì chưa mang tiền trả nợ đến, bịa ra một câu chuyện nho nhỏ để thanh minh, rồi ngồi vào đặt cửa đánh với ông ta. Bà chọn ba quân bài, đặt lần lượt từng quân một. Cả ba quân đều thắng ngay từ lượt đầu, và bà tôi gỡ lại sạch sành sanh.

– Ăn may! Một vị khách nói.

– Chuyện bịa! Ghéc-man nhận xét.

– Hay là bài đánh dấu bột? Người thứ ba chen vào.

– Tôi không nghĩ thế, Tôm-xki đáp, vẻ quan trọng.

– Sao! Na-ru-mốp nói. Cậu có một bà nội đoán trúng liền ba quân bài, thế mà đến giờ cậu vẫn chưa học được phép màu của bà à?

– Phải, quỷ tha ma bắt! Tôm-xki đáp. Bà có bốn người con trai, trong đó có cha tôi. Cả bốn đều là những tay bạc liều mạng, thế mà bà chẳng tiết lộ bí mật cho người nào, dù điều đó chẳng phải là không có lợi cho họ, thậm chí cho cả tôi.

– Nhưng đây là chuyện chú tôi, bá tước I-van I-lích, kể cho tôi, và lấy danh dự mà cam đoan. Ông Cháp-lít-xki quá cố, chính cái ông chết trong nghèo khổ sau khi phá hết hàng triệu ấy, một lần hồi trẻ đã thua, tôi nhớ là thua Dô-rích, gần ba trăm nghìn. Ông ta tuyệt vọng. Bà tôi vốn bao giờ cũng nghiêm khắc với những trò dại dột của bọn trẻ, chẳng hiểu sao lại thương Cháp-lít-xki. Bà cho ông ta ba quân bài, bảo ông ta đặt lần lượt từng quân, và bắt ông ta hứa danh dự từ nay không bao giờ đánh bạc nữa. Cháp-lít-xki đến gặp kẻ đã thắng mình, họ ngồi vào đánh. Cháp-lít-xki đặt năm mươi nghìn vào quân bài đầu tiên, thắng ngay lượt đầu. Ông ta gấp góc gấp đôi, rồi gấp tiếp gấp bốn, gỡ lại hết mà còn thắng thêm…

– Nhưng thôi, đến giờ đi ngủ rồi: sáu giờ kém mười lăm rồi.

Quả thật trời đã rạng. Các chàng trai uống cạn ly rồi ra về.

Ra chiều ông chủ ưa các cô hầu gái hơn thì phải. Biết làm sao được, thưa bà? Các cô ấy tươi tắn hơn. Trích Một cuộc chuyện trò nơi phòng khách.

Bà bá tước già ngồi trong phòng trang điểm trước tấm gương. Ba cô hầu gái vây quanh bà. Một cô cầm hộp phấn hồng, một cô cầm hộp ghim cài tóc, cô thứ ba cầm chiếc mũ trùm đầu cao có dải ruy băng màu lửa. Bà bá tước chẳng còn chút ý định nào về nhan sắc đã tàn phai từ lâu, nhưng vẫn giữ mọi thói quen thời trẻ, theo đúng mốt những năm bảy mươi của thế kỷ trước, và trang điểm cũng lâu, cũng kỹ như sáu mươi năm về trước. Bên cửa sổ, một cô gái ngồi thêu khung. Đó là cô con nuôi của bà.

– Cháu chào bà, một sĩ quan trẻ bước vào, nói. Chào cô Li-da. Thưa bà, cháu đến có việc muốn xin bà.

– Việc gì thế, Pôn?

– Bà cho phép cháu giới thiệu với bà một người bạn của cháu, và đưa anh ấy đến dự buổi dạ vũ tối thứ sáu ở nhà bà.

– Cứ đưa thẳng nó đến buổi dạ vũ, rồi giới thiệu với bà ở đấy. Hôm qua cháu có đến nhà người ta dự tiệc không?

– Có chứ ạ! Vui lắm. Nhảy đến tận năm giờ sáng. Cô Ê-lét-xcai-a đẹp ơi là đẹp!

– Ôi, cháu ơi! Nó thì có gì mà đẹp? Nó sao bằng bà nội nó, công nương Đa-ri-a Pê-tơ-rốp-na?… Mà này, bà đoán công nương Đa-ri-a Pê-tơ-rốp-na giờ già lắm rồi nhỉ?

– Già gì ạ? Tôm-xki đãng trí đáp. Bà ấy mất cách đây bảy năm rồi.

Cô gái ngẩng đầu lên, ra hiệu cho chàng trai. Anh chợt nhớ ra người ta vẫn giấu bà bá tước già tin những người cùng tuổi bà qua đời, bèn cắn môi. Nhưng bà bá tước nghe cái tin mới với bà ấy với vẻ hết sức dửng dưng.

– Mất rồi à! Bà nói. Thế mà bà không biết! Hai bà cùng được phong làm thị nữ một ngày, và khi bọn bà vào chầu, thì Nữ hoàng…

Và bà bá tước kể cho cháu nghe giai thoại của mình lần thứ một trăm.

– Thôi nào, Pôn, rồi bà nói, giờ giúp bà đứng dậy. Li-dan-ca, hộp thuốc lá hít của ta đâu?

Rồi bà bá tước cùng các cô hầu đi ra sau tấm bình phong để trang điểm nốt. Tôm-xki ở lại với cô gái.

– Anh muốn giới thiệu ai thế? Li-da-vê-ta I-va-nốp-na khẽ hỏi.

– Na-ru-mốp. Cô biết anh ấy không?

– Không! Anh ấy là quân nhân hay quan văn?

– Quân nhân.

– Công binh à?

– Không! Kỵ binh. Mà sao cô lại nghĩ anh ấy là công binh?

Cô gái bật cười, không đáp một lời.

– Pôn! Bà bá tước gọi to sau tấm bình phong. Gửi cho bà cuốn tiểu thuyết nào mới mới nhé, có điều đừng là loại thời nay.

– Thế nghĩa là sao, thưa bà?

– Nghĩa là cuốn tiểu thuyết nào mà nhân vật chính không bóp cổ cha cũng chẳng bóp cổ mẹ, và không có xác chết đuối. Bà sợ người chết đuối lắm!

– Thời nay chẳng còn tiểu thuyết nào như thế đâu ạ. Hay bà đọc tiểu thuyết Nga nhé?

– Thế có tiểu thuyết Nga cơ à?… Gửi cho bà, cháu ơi, gửi giùm bà nhé!

– Xin lỗi bà, cháu phải đi vội… Chào cô Li-da-vê-ta I-va-nốp-na! Mà sao cô lại nghĩ Na-ru-mốp là công binh?

Rồi Tôm-xki ra khỏi phòng trang điểm.

Còn lại một mình, Li-da-vê-ta I-va-nốp-na bỏ khung thêu, nhìn ra cửa sổ. Chẳng bao lâu, ở một bên đường, từ sau góc một ngôi nhà, xuất hiện một sĩ quan trẻ. Má cô ửng đỏ. Cô lại cầm khung thêu lên, cúi đầu sát xuống mặt vải. Đúng lúc ấy bà bá tước đi vào, đã trang điểm xong.

– Li-dan-ca, bà nói, bảo thắng xe đi, ta đi dạo một vòng.

Li-dan-ca đứng dậy khỏi khung thêu, bắt đầu cất đồ.

– Làm sao thế, con! Điếc à! Bà bá tước quát. Bảo thắng xe ngay đi.

– Vâng ạ! Cô gái khẽ đáp, rồi chạy ra phòng ngoài.

Người hầu bước vào, đưa cho bà bá tước mấy cuốn sách của công tước Pa-ven A-léc-xan-đrô-vích gửi.

– Được! Cám ơn công tước giùm ta, bà bá tước nói. Li-dan-ca, Li-dan-ca! Mà con chạy đi đâu thế?

– Con đi thay áo ạ.

– Còn kịp chán, con ạ. Ngồi đây. Mở quyển thứ nhất ra, đọc to lên…

Cô gái cầm sách, đọc mấy dòng.

– To lên! Bà bá tước nói. Làm sao thế, con? Mất giọng rồi à?… Khoan đã: kéo cái ghế đẩu kê chân lại cho ta, gần nữa… được rồi!

Li-da-vê-ta I-va-nốp-na đọc thêm hai trang nữa. Bà bá tước ngáp.

– Vứt quyển ấy đi, bà nói. Vớ vẩn gì đâu! Gửi trả công tước Pa-ven, bảo cám ơn giùm… Thế xe đâu?

– Xe đã sẵn sàng rồi ạ, Li-da-vê-ta I-va-nốp-na nói, nhìn ra đường.

– Sao con chưa thay áo? Bà bá tước nói. Lúc nào cũng phải chờ con! Thế này thì không chịu nổi, con ạ.

Li-da chạy về phòng mình. Chưa đầy hai phút, bà bá tước đã bắt đầu giật chuông hết sức. Ba cô hầu gái chạy vào cửa này, người hầu phòng chạy vào cửa kia.

– Sao gọi mãi không thấy ai thế? Bà bá tước nói với họ. Bảo cô Li-da-vê-ta I-va-nốp-na là ta đang chờ cô ấy.

Li-da-vê-ta I-va-nốp-na bước vào, mặc áo khoác, đội mũ.

– Cuối cùng cũng xong, con! Bà bá tước nói. Diện gì thế này! Để làm gì?… Định quyến rũ ai?… Mà trời thế nào? Hình như có gió.

– Bẩm bà lớn, không có đâu ạ! Lặng gió lắm ạ! Người hầu phòng đáp.

– Các người lúc nào cũng nói bừa! Mở cửa sổ nhỏ ra xem. Đúng là có gió! Lại lạnh buốt nữa! Cho tháo xe ra! Li-dan-ca, ta không đi nữa, chẳng việc gì phải diện.

"Đời tôi là thế đấy!" Li-da-vê-ta I-va-nốp-na nghĩ.

Quả thật, Li-da-vê-ta I-va-nốp-na là một sinh linh hết sức bất hạnh. Bánh mì của người thì đắng, Đăng-tê nói vậy, và bậc thềm nhà người thì nặng. Mà ai hiểu nỗi đắng cay của kẻ ăn nhờ ở đậu hơn cô con nuôi nghèo của một bà già quyền quý? Bà bá tước tất nhiên chẳng phải người độc ác. Nhưng bà đỏng đảnh như một người đàn bà được xã hội thượng lưu nuông chiều, keo kiệt và chìm đắm trong thói ích kỷ lạnh lùng như mọi người già đã yêu đủ một đời và xa lạ với hiện tại.

Bà dự mọi trò phù phiếm của giới thượng lưu, lê đến các buổi dạ vũ, ngồi trong góc, đánh phấn hồng, ăn mặc theo mốt cũ, như một vật trang trí xấu xí mà không thể thiếu của phòng khiêu vũ. Khách đến đều cúi rạp chào bà, như theo một nghi lễ đã định sẵn, rồi sau đó chẳng ai buồn để ý đến bà nữa. Ở nhà, bà tiếp cả thành phố, giữ đúng lễ nghi nghiêm ngặt, mà chẳng nhận ra mặt ai. Đám gia nhân đông đúc của bà, béo ra và bạc tóc trong phòng ngoài và phòng các cô hầu của bà, muốn làm gì thì làm, thi nhau ăn cắp của bà già sắp chết.

Li-da-vê-ta I-va-nốp-na là kẻ tử vì đạo trong nhà. Cô rót trà, và bị mắng vì tốn đường. Cô đọc to tiểu thuyết, và phải chịu lỗi về mọi sai sót của tác giả. Cô theo bà bá tước đi dạo, và phải chịu trách nhiệm về thời tiết lẫn mặt đường. Người ta định cho cô một khoản lương mà chẳng bao giờ trả đủ, thế mà lại đòi cô phải ăn mặc như mọi người, tức là như rất ít người.

Ngoài xã hội, cô đóng một vai thảm hại nhất. Ai cũng biết cô, mà chẳng ai để ý đến cô. Ở dạ vũ, cô chỉ được nhảy khi người ta thiếu một người đứng cặp đối diện. Các bà các cô khoác tay cô mỗi khi họ cần vào phòng trang điểm sửa sang lại chút gì trên áo xống. Cô có lòng tự trọng, cảm nhận rõ thân phận mình, và nhìn quanh mình, nóng lòng chờ một người đến cứu. Nhưng những chàng trai trẻ, tính toán trong cái hư vinh nông nổi của họ, chẳng thèm để mắt đến cô, dù Li-da-vê-ta I-va-nốp-na dễ thương hơn gấp trăm lần những cô dâu tương lai trơ tráo, lạnh lùng mà họ vẫn vây quanh. Đã bao lần, lặng lẽ rời khỏi phòng khách lộng lẫy mà buồn tẻ, cô về khóc trong căn phòng nghèo nàn của mình, nơi có tấm bình phong dán giấy, cái tủ ngăn kéo, tấm gương con, chiếc giường sơn, và ngọn nến mỡ cháy leo lét trong cái chân nến bằng đồng!

Một lần, chuyện này xảy ra hai ngày sau buổi tối kể ở đầu truyện, và một tuần trước cảnh ta vừa dừng lại, một lần Li-da-vê-ta I-va-nốp-na ngồi thêu bên cửa sổ, tình cờ nhìn ra đường, thấy một sĩ quan công binh trẻ đứng bất động, mắt đăm đăm nhìn lên cửa sổ của cô. Cô cúi đầu, lại tiếp tục thêu. Năm phút sau cô nhìn lại, viên sĩ quan trẻ vẫn đứng ở chỗ cũ. Không quen làm duyên với những sĩ quan qua đường, cô thôi không nhìn ra đường nữa, cắm cúi khâu gần hai tiếng không ngẩng đầu lên. Bữa trưa dọn ra. Cô đứng dậy, bắt đầu cất khung thêu, tình cờ nhìn ra đường, lại thấy viên sĩ quan. Cô thấy chuyện ấy khá lạ. Ăn trưa xong, cô đến bên cửa sổ, lòng hơi bồn chồn, nhưng viên sĩ quan đã không còn đó, và cô quên anh ta đi…

Độ hai ngày sau, khi cùng bà bá tước ra lên xe, cô lại thấy anh ta. Anh ta đứng sát ngay lối vào, kéo cổ áo lông hải ly che mặt, đôi mắt đen rực lên dưới vành mũ. Li-da-vê-ta I-va-nốp-na sợ hãi, chẳng biết sợ gì, và lên xe với một nỗi run rẩy không sao tả xiết.

Về đến nhà, cô chạy đến bên cửa sổ. Viên sĩ quan vẫn đứng ở chỗ cũ, mắt đăm đăm nhìn cô. Cô lùi lại, day dứt vì tò mò, xao xuyến vì một cảm giác hoàn toàn mới mẻ với cô.

Từ đó, chẳng ngày nào chàng trai không xuất hiện dưới cửa sổ nhà họ vào một giờ nhất định. Giữa anh và cô hình thành một mối giao cảm không cần hẹn ước. Ngồi ở chỗ mình mà thêu, cô cảm thấy anh đến gần, ngẩng đầu lên, nhìn anh mỗi ngày một lâu hơn. Chàng trai hình như biết ơn cô vì điều đó. Bằng con mắt tinh tường của tuổi trẻ, cô thấy mỗi lần ánh mắt hai người gặp nhau, đôi má xanh xao của anh lại ửng hồng. Một tuần sau, cô mỉm cười với anh…

Khi Tôm-xki xin phép giới thiệu bạn mình với bà bá tước, tim cô gái tội nghiệp đập rộn lên. Nhưng biết được Na-ru-mốp không phải sĩ quan công binh mà là kỵ binh cận vệ, cô tiếc đã để lộ bí mật của mình cho anh chàng Tôm-xki nông nổi bằng một câu hỏi thiếu kín đáo.

Ghéc-man là con trai một người Đức đã Nga hoá, để lại cho anh một số vốn nhỏ. Tin chắc phải củng cố cho được sự độc lập của mình, Ghéc-man không đụng đến cả tiền lãi, chỉ sống bằng lương, không cho phép mình một ý thích nhỏ nhặt nào. Vả lại anh kín đáo và đầy tham vọng, nên bạn bè ít khi có dịp cười cái tính tằn tiện quá mức của anh. Anh có những đam mê mãnh liệt và một trí tưởng tượng rực lửa, nhưng lòng kiên định đã cứu anh khỏi những lầm lạc thường gặp của tuổi trẻ. Chẳng hạn, trong thâm tâm là một con bạc, anh chưa bao giờ cầm đến quân bài, vì đã tính rằng gia sản của mình không cho phép anh, như lời anh nói, đem cái cần thiết ra đánh liều với hy vọng kiếm được cái thừa thãi. Thế mà anh ngồi suốt đêm bên bàn bạc, run lên như lên cơn sốt dõi theo từng diễn biến của ván bài.

Giai thoại về ba quân bài tác động mạnh đến trí tưởng tượng của anh, suốt đêm không rời khỏi đầu anh.

"Nếu như," tối hôm sau anh nghĩ, khi đang lang thang khắp Pê-téc-bua, "nếu như bà bá tước già tiết lộ bí mật cho mình! Hoặc chỉ cho mình ba quân bài chắc thắng kia! Sao lại không thử vận may của mình nhỉ? Đến ra mắt bà ta, lấy lòng bà ta, có khi làm nhân tình của bà ta cũng được. Nhưng tất cả những thứ đó cần thời gian, mà bà ta đã tám mươi bảy tuổi rồi. Bà ta có thể chết trong một tuần, trong hai ngày!… Mà chính cái giai thoại ấy?… Có tin được không?… Không! Tính toán, chừng mực và cần cù: đó mới là ba quân bài chắc thắng của mình, đó mới là cái sẽ làm vốn liếng mình tăng gấp ba, gấp bảy, đem lại cho mình yên ổn và độc lập!"

Nghĩ như thế, anh thấy mình đã đứng trên một trong những con phố chính của Pê-téc-bua, trước một ngôi nhà kiến trúc cổ. Phố chật kín xe cộ, xe ngựa nối đuôi nhau lăn đến lối vào sáng đèn. Từ trong xe chốc chốc lại thò ra khi thì bàn chân thon thả của một người đẹp trẻ, khi thì chiếc ủng kỵ binh kêu lạch cạch, khi thì chiếc tất sọc với chiếc giày của nhà ngoại giao. Những áo lông, áo choàng loang loáng lướt qua người gác cổng oai vệ. Ghéc-man dừng lại.

– Nhà ai đây? Anh hỏi người lính gác ở góc phố.

– Nhà bà bá tước, người lính gác đáp.

Ghéc-man run lên. Câu chuyện kỳ lạ lại hiện ra trong trí tưởng tượng của anh. Anh bắt đầu đi đi lại lại quanh ngôi nhà, nghĩ về bà chủ của nó và cái tài kỳ diệu của bà ta. Khuya anh mới về đến góc nhà khiêm tốn của mình. Mãi anh mới ngủ được, và khi giấc ngủ đến, anh mơ thấy những quân bài, chiếc bàn phủ dạ xanh, những xấp giấy bạc và những đống tiền vàng. Anh đặt hết quân bài này đến quân bài khác, quả quyết gấp góc quân bài, thắng liên tục, vơ vàng về phía mình, nhét giấy bạc vào túi.

Thức dậy đã muộn, anh thở dài tiếc cái gia tài tưởng tượng đã mất, lại đi lang thang khắp thành phố, và lại thấy mình đứng trước ngôi nhà bà bá tước. Một sức mạnh vô hình dường như kéo anh đến đó. Anh dừng lại, bắt đầu nhìn lên các cửa sổ. Ở một ô cửa, anh thấy một mái đầu tóc đen đang cúi xuống, có lẽ trên một cuốn sách hay một khung thêu. Mái đầu ngẩng lên. Ghéc-man thấy một gương mặt tươi tắn với đôi mắt đen. Khoảnh khắc ấy quyết định số phận anh.

— Hết chương 1 —

Mục lục Con đầm pích

  1. 1Phần một. Bí mật ba quân bài17 phút
  2. 2Phần hai. Đêm trong phòng ngủ bà bá tướcĐang thu âm
  3. 3Phần ba. Ba, bảy, átĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAleksandr Pushkin (1799 – 1837)
Năm mất1837
Xuất bản lần đầu1834
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Пиковая дама, 1834
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →