Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đêm trăng

của Guy de Maupassant

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Thiện📖 10.336 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:04Cha xứ Ma-ri-nhăng mang tên một trận đánh lừng…
  2. 2:05Theo ông, Chúa tạo ra đàn bà chỉ để…
  3. 3:35Ông thường nói với cô về Chúa, về Chúa…
  4. 4:21Không đúng, bà nói dối, Mê-la-ni!
  5. 5:38Ông mở cửa định đi, nhưng dừng lại ngay…
  6. 6:57Đằng kia, men theo những khúc lượn của con…
  7. 8:07Vì sao lại phô bày ngần ấy quyến rũ…
  8. 9:18Ông lùi dần trước đôi tình nhân đang ôm…

Cha xứ Ma-ri-nhăng mang tên một trận đánh lừng danh, và cái tên ấy thật hợp với ông. Ông là một linh mục cao lớn, gầy gò, cuồng tín, tâm hồn lúc nào cũng sục sôi, nhưng ngay thẳng. Mọi niềm tin của ông đều cố định, chưa bao giờ lung lay. Ông thành thật tưởng rằng mình biết rõ Chúa của mình, thấu được những dự định, ý muốn, chủ ý của Người.

Khi ông sải những bước dài trên lối đi trong khu vườn nhỏ của nhà xứ nơi thôn quê, đôi khi một câu hỏi bỗng dựng lên trong đầu ông: "Vì sao Chúa lại làm ra điều ấy?" Rồi ông bền bỉ tìm lời giải, trong ý nghĩ tự đặt mình vào chỗ của Chúa, và hầu như bao giờ ông cũng tìm ra câu trả lời. Ông không phải là người sẽ thì thầm, trong một phút khiêm nhường sùng mộ: "Lạy Chúa, ý Người thật khôn dò!" Ông tự nhủ: "Ta là tôi tớ của Chúa, ta phải biết những lý do khiến Người hành động, và nếu chưa biết thì phải đoán ra."

Với ông, mọi vật trong thiên nhiên đều được tạo ra theo một lẽ tuyệt đối và tuyệt diệu. Những câu "Vì sao" và những câu "Bởi vì" lúc nào cũng cân xứng với nhau. Bình minh có ra là để người ta thức dậy vui tươi, ngày có ra để lúa chín, mưa để tưới cho lúa, chiều để chuẩn bị cho giấc ngủ, còn đêm tối là để ngủ.

Bốn mùa khớp hoàn toàn với mọi nhu cầu của nghề nông. Và chẳng bao giờ vị linh mục có thể ngờ rằng thiên nhiên không hề có chủ ý gì, mà trái lại, mọi sinh vật trên đời đều đã phải uốn mình theo những đòi hỏi khắc nghiệt của thời gian, khí hậu và vật chất.

Nhưng ông ghét đàn bà. Ông ghét một cách vô thức, và khinh họ theo bản năng. Ông hay nhắc lại lời Chúa Ki-tô: "Hỡi người đàn bà, giữa bà và tôi có gì chung đâu?" và ông nói thêm: "Cứ như chính Chúa cũng không hài lòng với công trình ấy của mình." Với ông, đàn bà đúng là cái đứa trẻ mười hai lần ô uế mà nhà thơ đã nói tới. Đàn bà là kẻ cám dỗ đã lôi kéo người đàn ông đầu tiên, và vẫn còn tiếp tục công việc đưa con người xuống địa ngục, là sinh vật yếu đuối, nguy hiểm, làm người ta xao xuyến một cách bí ẩn. Và hơn cả thân xác dẫn tới tội lỗi của họ, ông ghét tâm hồn giàu yêu thương của họ.

Nhiều lần ông đã cảm thấy lòng trìu mến của họ bám lấy mình, và tuy biết chắc mình không thể bị lay chuyển, ông vẫn bực bội trước cái nhu cầu yêu thương lúc nào cũng rung rinh trong họ.

Theo ông, Chúa tạo ra đàn bà chỉ để cám dỗ và thử thách đàn ông. Chỉ nên đến gần họ với đủ thế phòng bị, với nỗi lo như người ta lo trước cạm bẫy. Mà quả thật, đàn bà giống hệt một cái bẫy, với đôi tay giang ra và đôi môi hé mở hướng về người đàn ông.

Ông chỉ khoan dung với các bà xơ, những người mà lời khấn nguyện đã khiến trở nên vô hại. Thế nhưng ông vẫn đối xử với họ khắt khe, vì ông cảm thấy cái lòng trìu mến muôn đời ấy vẫn còn sống ở đáy trái tim bị xiềng xích, bị hạ mình của họ, và vẫn tìm đến ông, dù ông là một linh mục.

Ông cảm thấy nó trong ánh mắt của họ, ướt đẫm lòng mộ đạo hơn ánh mắt các thầy tu, trong những phút ngây ngất của họ, trong những lần họ hướng lòng yêu về Chúa Ki-tô. Những điều ấy làm ông phẫn nộ, vì đó là tình yêu của đàn bà, tình yêu xác thịt. Ông cảm thấy cái lòng trìu mến đáng nguyền rủa ấy ngay cả trong sự ngoan ngoãn của họ, trong giọng nói dịu dàng khi họ thưa chuyện với ông, trong đôi mắt cụp xuống, và trong những giọt nước mắt cam chịu khi ông nặng lời quở trách.

Và mỗi lần bước ra khỏi cổng tu viện, ông lại giũ giũ tà áo chùng, rồi sải chân đi thật nhanh, như thể đang chạy trốn một mối hiểm nguy.

Ông có một cô cháu gái sống với mẹ trong một ngôi nhà nhỏ gần đấy. Ông quyết tâm bằng được biến cô thành một nữ tu dòng Bác ái.

Cô xinh xắn, nhẹ dạ và hay giễu cợt. Khi cha xứ giảng giải, cô cười. Khi ông nổi giận với cô, cô ôm hôn ông thật mạnh, ghì ông vào ngực, trong lúc ông bất giác tìm cách gỡ ra khỏi vòng tay ấy, vòng tay dù sao cũng cho ông nếm một niềm vui êm dịu, đánh thức tận đáy lòng ông cái cảm giác làm cha vẫn ngủ yên trong mọi người đàn ông.

Ông thường nói với cô về Chúa, về Chúa của ông, khi đi bên cô trên những con đường giữa đồng. Cô chẳng nghe mấy, chỉ ngắm trời, ngắm cỏ, ngắm hoa, với một niềm vui sống lộ rõ trong đôi mắt. Đôi lúc cô vụt chạy tới chộp một con vật đang bay, rồi mang về reo lên:

— Chú nhìn xem, nó xinh quá. Cháu muốn hôn nó ghê.

Và cái nhu cầu "hôn ruồi" hay hôn những chùm tử đinh hương ấy làm vị linh mục lo âu, bực bội, phẫn uất, vì ở đó ông lại gặp cái lòng trìu mến không sao nhổ tận gốc được, cái lòng lúc nào cũng nảy mầm trong tim đàn bà.

Rồi một hôm, vợ ông từ nhà thờ, người lo việc nhà cho cha xứ Ma-ri-nhăng, dè dặt báo cho ông biết rằng cháu gái ông đã có người yêu.

Ông xúc động khủng khiếp, đứng sững, ngột thở, mặt còn đầy bọt xà phòng, vì ông đang cạo râu.

Khi đã định thần lại để nghĩ và nói được, ông kêu lên:

— Không đúng, bà nói dối, Mê-la-ni!

Nhưng người đàn bà nhà quê đặt tay lên ngực:

— Xin Chúa phán xét con nếu con nói dối, thưa cha. Con nói cha hay, tối nào cô ấy cũng đi, hễ bà chị cha vừa đi ngủ là đi. Hai người gặp nhau dọc bờ sông. Cha cứ ra đó mà xem, chừng mười giờ đến nửa đêm.

Ông thôi xoa cằm và bắt đầu đi đi lại lại dữ dội, như ông vẫn làm mỗi lần phải suy nghĩ điều gì hệ trọng. Lúc ông định cạo râu tiếp, ông cứa vào mặt ba nhát, từ mũi tới tận mang tai.

Suốt ngày hôm ấy ông lặng câm, lòng sôi sục phẫn nộ và giận dữ. Cơn thịnh nộ của một linh mục trước tình yêu không gì khuất phục nổi, giờ còn cộng thêm nỗi tức tối của một người cha tinh thần, một người đỡ đầu, một người có trách nhiệm với linh hồn kẻ khác, bị một đứa trẻ con lừa dối, đánh cắp, xỏ mũi. Đó là cái cảm giác nghẹn thở ích kỷ của những bậc cha mẹ khi con gái báo tin rằng nó đã chọn chồng, không cần họ và bất chấp họ.

Ăn tối xong, ông cố đọc sách một lúc, nhưng không đọc nổi, và càng lúc càng bực bội. Khi chuông điểm mười giờ, ông cầm lấy cây gậy, một cây gậy gỗ sồi ghê gớm mà ông vẫn dùng trong những chuyến đi đêm tới thăm người ốm. Ông mỉm cười nhìn cây gậy to tướng, xoay nó tít trong nắm tay rắn chắc của người nhà quê thành những vòng tròn đầy đe doạ. Rồi đột nhiên ông giơ nó lên, nghiến răng, giáng xuống một chiếc ghế, lưng ghế nứt toác, đổ xuống sàn.

Ông mở cửa định đi, nhưng dừng lại ngay ngưỡng cửa, sững sờ trước một ánh trăng huy hoàng hiếm thấy.

Và vì ông có một tâm hồn dễ bốc cao, thứ tâm hồn hẳn các vị Giáo phụ ngày xưa cũng có, những nhà thơ mơ mộng ấy, ông bỗng thấy mình xao lãng, bồi hồi trước vẻ đẹp hùng vĩ và thanh thản của đêm trăng.

Trong khu vườn nhỏ của ông, tắm đẫm trong thứ ánh sáng dịu dàng, những cây ăn quả đứng thẳng hàng, in xuống lối đi bóng những cành mảnh khảnh mới lơ thơ vài chiếc lá xanh, trong khi giàn kim ngân khổng lồ leo kín bức tường nhà toả ra những làn hương ngọt lịm, khiến trong đêm ấm áp và trong trẻo như lửng lơ một thứ linh hồn thơm ngát.

Ông bắt đầu hít thở thật sâu, uống không khí như kẻ say uống rượu, rồi chậm rãi bước đi, mê mẩn, ngây ngất, gần như quên hẳn cô cháu gái.

Vừa ra tới cánh đồng, ông dừng lại ngắm cả vùng đồng bằng ngập trong thứ ánh sáng mơn trớn ấy, chìm trong vẻ quyến rũ dịu dàng và uể oải của những đêm thanh vắng. Lũ cóc chốc chốc lại tung vào không gian tiếng kêu ngắn ngủi, ngân như kim loại, và những con hoạ mi xa xa hoà vào đó điệu nhạc lảnh lót từng chuỗi của chúng, thứ nhạc làm người ta mơ màng mà không bắt người ta suy nghĩ, thứ nhạc nhẹ nhàng và rung động, sinh ra cho những nụ hôn, cho sức quyến rũ của ánh trăng.

Cha xứ lại bước đi, lòng chùng xuống mà không hiểu vì sao. Ông thấy mình như yếu đi, bỗng dưng kiệt sức. Ông muốn ngồi xuống, ở lại đó, ngắm nhìn, chiêm ngưỡng Chúa trong công trình của Người.

Đằng kia, men theo những khúc lượn của con sông nhỏ, một hàng dương dài uốn khúc. Một làn sương mỏng, một làn hơi trắng mà ánh trăng xuyên qua, nhuộm bạc, làm cho lóng lánh, lơ lửng quanh và trên hai bờ sông, bọc cả dòng nước quanh co trong một lớp bông nhẹ tênh và trong suốt.

Vị linh mục lại dừng bước lần nữa, thấm tới tận đáy hồn một niềm xúc động mỗi lúc một lớn, không sao cưỡng nổi.

Rồi một mối ngờ vực, một nỗi bất an mơ hồ xâm chiếm lấy ông. Ông cảm thấy nảy ra trong mình một trong những câu hỏi mà thỉnh thoảng ông vẫn tự đặt ra.

Vì sao Chúa lại làm ra điều này? Đêm đã sinh ra cho giấc ngủ, cho sự mê man, cho nghỉ ngơi, cho quên hết mọi sự, vậy cớ sao lại làm cho đêm đẹp hơn ngày, êm dịu hơn bình minh và hoàng hôn? Và cớ sao vầng trăng chậm rãi và quyến rũ này, nên thơ hơn mặt trời, kín đáo đến mức như sinh ra để soi sáng những điều quá mong manh và bí ẩn, không chịu nổi ánh sáng chói chang, lại tới làm cho bóng tối trong suốt đến thế?

Vì sao con chim hót hay nhất trong mọi loài chim lại không nghỉ ngơi như những con khác, mà cất tiếng luyến láy trong bóng tối xao xuyến?

Vì sao lại có tấm voan mỏng này phủ lên thế gian? Vì sao lại có những rung động của trái tim, những xúc động của tâm hồn, những rã rời của thân thể?

Vì sao lại phô bày ngần ấy quyến rũ mà con người không hề thấy, vì họ đang nằm trên giường? Cảnh tượng tuyệt vời này, sự dồi dào thi vị mà trời đổ xuống mặt đất này, là dành cho ai?

Và cha xứ không hiểu nổi.

Nhưng kìa, đằng kia, ở rìa đồng cỏ, dưới vòm cây đẫm sương lóng lánh, hai bóng người hiện ra, sóng bước bên nhau.

Người đàn ông cao hơn, choàng tay qua cổ người yêu, và thỉnh thoảng lại hôn lên trán nàng. Bỗng chốc họ làm sống dậy cả khung cảnh bất động đang bao quanh họ như một khung tranh thần thánh sinh ra dành riêng cho họ. Cả hai như hoà làm một, và đêm êm ả, lặng lẽ này như sinh ra chỉ để dành cho họ. Và họ tiến về phía vị linh mục như một câu trả lời sống động, câu trả lời mà Đấng Chủ tể của ông ném xuống cho câu hỏi của ông.

Ông đứng sững, tim đập thình thịch, lòng đảo lộn, và ông tưởng như đang thấy một điều gì đó trong Kinh Thánh, như mối tình của nàng Rút và chàng Bô-át, như ý Chúa đang thành tựu giữa một trong những khung cảnh lớn lao mà sách thánh vẫn kể. Trong đầu ông bắt đầu vang vang những câu trong sách Diễm Ca, những tiếng kêu nồng nàn, những tiếng gọi nhau, tất cả chất thơ nồng ấm của bài ca rực cháy yêu thương ấy.

Và ông tự nhủ: "Có lẽ Chúa làm ra những đêm như thế này là để phủ lên tình yêu của con người một tấm màn lý tưởng."

Ông lùi dần trước đôi tình nhân đang ôm nhau vẫn bước tới. Đó chính là cháu gái ông, thế nhưng giờ đây ông tự hỏi phải chăng mình sắp làm trái ý Chúa. Mà Chúa há chẳng cho phép tình yêu đó sao, khi Người đã bao bọc nó trong một vẻ huy hoàng đến thế?

Rồi ông bỏ chạy, rối bời, gần như xấu hổ, như thể vừa lạc bước vào một ngôi đền mà ông không có quyền bước vào.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảGuy de Maupassant (1850 – 1893)
Năm mất1893
Xuất bản lần đầu1882
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: Clair de lune, in trên báo Gil Blas năm 1882, tập Clair de lune, Monnier 1884
Giọng đọcBảo Thiện — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →