Truyện Đỉnh

✍️ Truyện ngắn

Đêm bão tuyết ở nhà công vụ

Đi công cán · Chương 1/2 · của Anton Chekhov

⏱ 23 phút🎙️ Giọng Bảo Tín📖 22.168 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Viên quyền dự thẩm và ông bác sĩ huyện…
  2. 2:45Viên dự thẩm vừa ngáp vừa nói:
  3. 5:08Ông bác sĩ quấn chặt áo lông rồi đi…
  4. 8:55Lư-giơn hỏi:
  5. 13:18Lư-giơn nghe và nghĩ rằng đấy, anh, Lư-giơn, sớm…
  6. 16:54Và anh bỗng nhớ ra có lần ở hội…
  7. 18:21Bác sĩ Xtác-tsen-cô hỏi dồn dập và bực bội,…
  8. 20:40Lại chuyện gì nữa thế?

Chương 1: Đêm bão tuyết ở nhà công vụ

Viên quyền dự thẩm và ông bác sĩ huyện đi đến làng Xư-rơ-nhi-a để khám nghiệm tử thi. Dọc đường họ gặp bão tuyết, cứ vòng vo mãi, và đến nơi không phải vào buổi trưa như họ định, mà mãi đến chiều, khi trời đã tối. Họ dừng lại ngủ trọ ở nhà công vụ của hội đồng địa phương. Tình cờ, cũng ngay trong nhà công vụ ấy, có cái xác, xác của Lết-nhít-xki, nhân viên bảo hiểm của hội đồng địa phương. Ba ngày trước, anh ta đến Xư-rơ-nhi-a, ở lại nhà công vụ, gọi một ấm xa-mô-va, rồi tự bắn mình, hoàn toàn bất ngờ đối với mọi người. Và việc anh ta kết liễu đời mình một cách kỳ lạ như thế, bên ấm xa-mô-va, với đồ nhắm bày trên bàn, khiến nhiều người ngờ rằng đây là một vụ giết người. Cần phải khám nghiệm tử thi.

Ông bác sĩ và viên dự thẩm đứng ở gian ngoài giũ tuyết, giậm chân thình thịch. Bên cạnh, ông già tuần đinh I-li-a Lô-sa-đin cầm một ngọn đèn sắt tây nhỏ soi cho họ. Mùi dầu hoả nồng nặc.

Ông bác sĩ hỏi:

— Ông là ai?

Ông tuần đinh đáp:

— Tuồn đinh ạ…

Ở bưu điện ông ta cũng ký tên như thế: tuồn đinh.

— Thế những người làm chứng đâu?

— Chắc là đi uống trà rồi, bẩm quan lớn.

Bên phải là căn phòng sạch sẽ, gọi là "phòng khách trọ" hay phòng dành cho các ông lớn, bên trái là gian bếp đen ám khói, có lò sưởi lớn và sàn gác ngủ. Ông bác sĩ và viên dự thẩm, theo sau là ông tuần đinh giơ cao ngọn đèn trên đầu, bước vào gian sạch. Ở đây, trên sàn, sát chân bàn, có một cái thân hình dài nằm bất động, phủ tấm vải trắng. Dưới ánh đèn yếu ớt, ngoài tấm vải phủ trắng, còn thấy rõ một đôi giày cao su mới, và mọi thứ ở đây đều chẳng lành, rờn rợn: cả những bức tường tối, cả sự lặng im, cả đôi giày cao su kia, cả sự bất động của cái xác. Trên bàn có ấm xa-mô-va đã nguội từ lâu, xung quanh là những gói giấy, có lẽ đựng đồ nhắm.

Ông bác sĩ nói:

— Tự bắn mình trong nhà công vụ, thật là thiếu tế nhị! Đã muốn bắn một viên đạn vào trán, thì cứ về nhà mà bắn, trong nhà kho nào đấy.

Ông cứ thế, đội mũ, mặc áo lông, đi ủng dạ, ngồi xuống ghế dài. Người đồng hành của ông, viên dự thẩm, ngồi đối diện.

Ông bác sĩ nói tiếp, giọng cay đắng:

— Những kẻ hay lên cơn kích động và suy nhược thần kinh này là những kẻ ích kỷ ghê gớm. Khi một kẻ suy nhược thần kinh ngủ cùng phòng với anh, thì hắn sột soạt tờ báo. Khi hắn ăn trưa với anh, thì hắn làm ầm lên với vợ, chẳng ngại có anh ở đó. Và khi hắn muốn tự bắn mình, thì đấy, hắn bắn ở làng quê, trong nhà công vụ, để gây cho mọi người càng nhiều phiền phức càng tốt. Những vị này trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời chỉ nghĩ đến mình. Chỉ nghĩ đến mình! Chính vì thế mà những người già mới không ưa cái "thời đại thần kinh" này của chúng ta.

Viên dự thẩm vừa ngáp vừa nói:

— Những người già chẳng ưa bao nhiêu thứ. Ông thử chỉ cho họ thấy sự khác nhau giữa những vụ tự sát ngày xưa và bây giờ xem. Người gọi là tử tế ngày xưa tự bắn mình vì tiêu lạm tiền công quỹ, còn người bây giờ thì vì chán sống, vì buồn… Cái nào hơn?

— Chán sống, buồn, nhưng ông phải đồng ý là có thể tự bắn mình ở nơi khác chứ không phải nhà công vụ.

Ông tuần đinh lên tiếng:

— Khổ quá, khổ quá, đúng là cực hình. Dân làng lo lắm, bẩm quan lớn, đã ba đêm nay không ngủ. Trẻ con khóc. Phải vắt sữa bò, mà đàn bà không dám vào chuồng, sợ… Sợ trong bóng tối lại thấy ông lớn hiện về. Ai cũng biết, đàn bà thì ngốc, nhưng mà cả đàn ông cũng sợ. Cứ chiều xuống là không ai dám đi qua nhà một mình, mà cứ phải đi cả đàn. Cả những người làm chứng cũng thế…

Bác sĩ Xtác-tsen-cô, một người đứng tuổi, râu sẫm, đeo kính, và viên dự thẩm Lư-giơn, tóc vàng, còn trẻ, mới tốt nghiệp được hai năm, trông giống sinh viên hơn là viên chức, ngồi im lặng, đăm chiêu. Họ bực mình vì đã đến muộn. Giờ phải chờ đến sáng, ngủ lại đây, mà mới hơn năm giờ chiều. Họ hình dung ra một buổi tối dài, rồi một đêm dài tối tăm, sự buồn chán, chỗ nằm khó chịu, lũ gián, cái lạnh buổi sáng. Và lắng nghe cơn bão tuyết đang rú lên trong ống khói và trên gác mái, cả hai cùng nghĩ rằng tất cả những thứ này chẳng giống chút nào với cuộc sống mà họ muốn có cho mình và đã từng mơ ước, và họ ở xa biết bao những người bạn cùng lứa, những người giờ đây đang đi dạo trên những con phố sáng đèn ở thành phố, chẳng để ý đến thời tiết xấu, hay đang sửa soạn đi xem hát, hay đang ngồi đọc sách trong phòng làm việc. Ôi, giờ đây họ sẽ trả bao nhiêu để chỉ được đi dạo một vòng trên đại lộ Nép-xki, hay trên phố Pê-tơ-rốp-ca ở Mát-xcơ-va, nghe một giọng hát tử tế, ngồi một hai giờ trong nhà hàng…

Bão tuyết hát trên gác mái:

— U-u-u-u!

Và bên ngoài có cái gì đó đập ầm ầm giận dữ, có lẽ là tấm biển của nhà công vụ.

— U-u-u-u!

Xtác-tsen-cô đứng dậy, nói:

— Tuỳ ông, còn tôi thì không muốn ở lại đây. Mới hơn năm giờ, ngủ thì còn sớm, tôi sẽ đi đâu đó. Ở gần đây có ông phôn Tau-nít, cách Xư-rơ-nhi-a chỉ ba dặm. Tôi sẽ đến nhà ông ấy, ngồi chơi buổi tối ở đó. Ông tuần đinh, đi bảo bác xà ích đừng tháo ngựa.

Ông hỏi Lư-giơn:

— Còn ông thì sao?

— Tôi không biết. Có lẽ tôi đi ngủ.

Ông bác sĩ quấn chặt áo lông rồi đi ra. Nghe thấy ông nói chuyện với bác xà ích, nghe tiếng nhạc ngựa rung lên trên những con ngựa rét cóng. Ông đi rồi.

Ông tuần đinh nói:

— Ông ngủ ở đây không được đâu, thưa ông. Ông sang nửa nhà bên kia. Bên ấy không sạch, nhưng một đêm thì chẳng sao. Tôi đi mượn ngay cái ấm xa-mô-va của một bác nông dân, đun lên, rồi chất cho ông ít cỏ khô, ông cứ ngủ, bẩm quan lớn, cầu Chúa phù hộ.

Một lát sau, viên dự thẩm ngồi bên bàn ở gian bếp đen uống trà, còn ông tuần đinh Lô-sa-đin đứng ở cửa mà nói chuyện. Đó là một ông già ngoài sáu mươi, nhỏ thó, rất gầy, lưng còng, tóc bạc trắng, mặt có nụ cười ngây thơ, mắt ướt nhèm, và cứ chép chép miệng như đang mút kẹo. Ông mặc chiếc áo lông cừu ngắn, đi ủng dạ, và không rời cây gậy khỏi tay. Tuổi trẻ của viên dự thẩm hẳn đã khiến ông thương hại, và có lẽ vì thế mà ông xưng hô với anh ta như với con cháu.

Ông nói:

— Ông xã trưởng Phi-ô-đo Ma-ca-rư-tsơ có dặn, hễ ông cảnh sát trưởng hay ông dự thẩm đến thì phải báo cho ông ấy. Vậy là, việc thế này, giờ phải đi… Đến xã bốn dặm, bão tuyết, tuyết dồn đống kinh khủng, có khi đến nửa đêm mới tới nơi. Nghe gió rú kìa.

Lư-giơn nói:

— Tôi không cần ông xã trưởng. Ở đây ông ấy chẳng có việc gì.

Anh tò mò nhìn ông già, rồi hỏi:

— Này ông, ông làm tuần đinh bao nhiêu năm rồi?

— Bao nhiêu à? Chắc đã ba chục năm rồi. Sau giải phóng nông nô năm năm thì tôi bắt đầu đi, ông cứ tính đi. Từ dạo ấy ngày nào tôi cũng đi. Người ta có ngày lễ, còn tôi thì cứ đi. Ngoài trời đang Tuần Thánh, chuông nhà thờ ngân vang, Chúa sống lại, mà tôi thì vẫn đeo túi. Đến kho bạc, đến bưu điện, đến nhà ông cảnh sát trưởng, đến ông thẩm phán địa phương, đến ông thu thuế, đến hội đồng, đến các ông lớn, đến nông dân, đến khắp mọi người con chính đạo. Tôi mang phong bì, giấy triệu tập, giấy báo thuế, thư từ, đủ thứ mẫu giấy, bảng kê, và, vậy là, thưa ông, bẩm quan lớn, bây giờ có những mẫu giấy để ghi con số, vàng, trắng, đỏ, mà ông lớn nào, cha xứ nào, hay nông dân giàu nào cũng nhất định phải ghi mỗi năm đến chục lần, xem mình đã gieo bao nhiêu, gặt bao nhiêu, có bao nhiêu thùng hay bao nhiêu pút lúa mạch đen, bao nhiêu yến mạch, cỏ khô, rồi thời tiết thế nào, vậy là, rồi đủ thứ sâu bọ. Dĩ nhiên, muốn viết gì thì viết, chỉ là cho đủ thủ tục, còn mình thì cứ đi, phát giấy, rồi lại đi thu về. Chẳng hạn như ông lớn kia, mổ xẻ làm gì, ông cũng biết đấy, việc vô ích, chỉ làm bẩn tay, thế mà ông vẫn phải nhọc công, bẩm quan lớn, đến tận đây, vì thủ tục. Chẳng làm gì được. Ba chục năm tôi đi theo thủ tục. Mùa hè thì không sao, ấm áp, khô ráo, chứ mùa đông hay mùa thu thì vất vả. Có lần chết đuối hụt, có lần rét cóng, đủ cả. Có lần trong rừng bọn người xấu cướp mất túi, đánh vào gáy, rồi còn bị đưa ra toà…

— Ra toà vì tội gì?

— Vì tội lừa đảo.

— Lừa đảo là thế nào?

— Thì thế này, vậy là, ông thư ký Khri-xan-phơ Gri-gô-ri-ép bán ván của người khác cho một tay thầu, lừa đảo, vậy là. Tôi có mặt trong vụ ấy, người ta sai tôi ra quán mua rượu. Thì ông thư ký chẳng chia cho tôi đồng nào, đến một ly cũng chẳng mời. Nhưng vì chúng tôi nghèo, nên bề ngoài, vậy là, là người không đáng tin, chẳng ra gì, nên người ta xử cả hai. Ông ta thì vào tù, còn tôi, nhờ Chúa, được tha bổng theo đúng mọi luật lệ. Ở toà người ta đọc một tờ giấy như thế. Ai cũng mặc đồng phục. Ở toà ấy. Tôi nói với ông thế này, bẩm quan lớn, công việc của chúng tôi, với người không quen thì, Chúa đừng bắt ai phải chịu, đúng là chết dở, chứ với chúng tôi thì chẳng sao. Không đi thì còn thấy đau chân. Mà ở nhà lại còn khổ hơn. Ở nhà, trên xã, phải đốt lò cho ông thư ký, xách nước cho ông thư ký, đánh giày cho ông thư ký.

Lư-giơn hỏi:

— Thế ông được lương bao nhiêu?

— Tám mươi tư rúp một năm.

— Chắc cũng có thêm chút đỉnh chứ. Không thể không có chứ?

— Chúng tôi thì có chút đỉnh gì! Các ông lớn bây giờ ít khi cho tiền trà nước lắm. Các ông lớn bây giờ khắt khe, cứ hay phật ý. Mình mang giấy đến, ông ấy phật ý; mình bỏ mũ chào, ông ấy cũng phật ý. Ông ấy bảo: mày vào nhầm cửa rồi, mày là đồ bợm rượu, người mày hôi mùi hành, đồ ngu, đồ chó đẻ. Dĩ nhiên cũng có người tốt, nhưng được gì ở họ đâu, chỉ chế giễu với đặt đủ thứ biệt danh. Chẳng hạn như ông lớn An-tu-khin, vừa tốt bụng, lại tỉnh táo, đầu óc minh mẫn, thế mà hễ thấy tôi là hét lên, chính ông ấy cũng chẳng hiểu mình hét gì. Ông ấy đặt cho tôi một biệt danh. Ông ấy bảo: mày là…

Ông tuần đinh nói một từ gì đó, nhưng khẽ quá, không nghe rõ.

Lư-giơn hỏi:

— Gì cơ? Ông nói lại xem.

Ông tuần đinh nói to:

— Ban hành chính! Ông ấy gọi thế lâu rồi, sáu năm nay. Chào Ban hành chính! Nhưng tôi chẳng sao, mặc, cầu Chúa phù hộ ông ấy. Thỉnh thoảng có bà lớn nào đó cho người mang ra một ly vốt-ca và một miếng bánh nướng, thì mình uống chúc sức khoẻ bà ấy. Nhưng cho nhiều hơn là nông dân. Nông dân thì có tình hơn, biết kính sợ Chúa: người cho mẩu bánh mì, người cho húp bát xúp bắp cải, người thì mời một ly. Các ông trưởng thôn thì mời trà ở quán. Đấy, bây giờ mấy người làm chứng đi uống trà. Họ bảo: "Lô-sa-đin này, ông ở đây thay bọn tôi, canh hộ", rồi mỗi người cho một xu. Họ không quen nên sợ. Hôm qua họ cho mười lăm xu, lại mời một ly.

— Thế ông không sợ à?

— Sợ chứ, thưa ông, nhưng việc của mình là thế, là công vụ, chẳng tránh đi đâu được. Mùa hè năm ngoái tôi giải một tên tù lên tỉnh, thế mà hắn đánh tôi vào gáy, vào gáy, vào gáy! Mà xung quanh toàn đồng với rừng, trốn hắn đi đâu được? Ở đây cũng thế. Ông lớn Lết-nhít-xki này, tôi nhớ từ hồi ông ấy còn bé tí thế này, tôi biết cả bố ông ấy, cả mẹ ông ấy. Tôi ở làng Nhê-đô-sô-tô-va, còn nhà Lết-nhít-xki thì cách làng chúng tôi chẳng quá một dặm, mà còn gần hơn nữa, ruộng giáp ruộng. Ông Lết-nhít-xki có một cô em gái chưa chồng, kính sợ Chúa và hay thương người. Lạy Chúa, xin nhớ đến linh hồn tôi tớ Chúa là Giu-li-a, muôn đời vĩnh cửu. Bà ấy không lấy chồng, và khi sắp mất thì chia hết của cải của mình: để cho tu viện một trăm đê-xi-a-tin, và cho chúng tôi, dân làng Nhê-đô-sô-tô-va, hai trăm, để cầu siêu cho linh hồn bà. Thế mà ông anh của bà ấy, ông lớn ấy, giấu tờ giấy đi, nghe nói đem đốt trong lò, rồi chiếm hết đất làm của mình. Ông ấy nghĩ, vậy là, được lợi cho mình, nhưng không đâu, đợi đấy, trên đời này sống bằng gian dối không được đâu, ông ạ. Sau đó hai mươi năm ông lớn không đi xưng tội, nhà thờ như đẩy ông ấy ra, vậy là, rồi ông ấy chết không được làm lễ xám hối, nổ tung ra. Ông ấy béo lắm. Thế là nổ toác ra theo chiều dọc. Rồi sau đó cậu chủ trẻ, cậu Xéc-gây ấy, bị người ta tịch thu hết vì nợ nần, hết sạch sành sanh. Thì cậu ấy học hành cũng chẳng đến đâu, chẳng làm được gì, thế là ông chủ tịch hội đồng địa phương, chú của cậu ấy, nghĩ: "Hay mình nhận thằng Xéc-gây làm nhân viên, cho nó đi bảo hiểm, việc chẳng có gì khó." Mà cậu chủ trẻ thì kiêu hãnh, cũng muốn sống rộng rãi, có địa vị, thong dong, thế là thấy nhục, vậy là, phải ngồi chiếc xe ngựa tồi tàn lăn lóc khắp huyện, nói chuyện với nông dân. Cậu ấy đi mà cứ nhìn xuống đất, nhìn mãi mà chẳng nói gì. Gọi ngay sát tai: "Ông Xéc-gây Xéc-gây-ích!", thì cậu ấy ngoảnh lại thế này: "Hả?", rồi lại nhìn xuống đất. Thế mà bây giờ, ông thấy đấy, tự tử rồi. Chẳng ra làm sao, bẩm quan lớn, chẳng đúng đắn gì, chẳng hiểu trên đời này là cái gì nữa, lạy Chúa nhân từ. Cứ cho là bố thì giàu, mà mình thì nghèo, thấy nhục, dĩ nhiên là thế, nhưng biết làm sao, phải quen dần chứ. Tôi cũng từng sống sung túc, bẩm quan lớn, tôi có hai con ngựa, ba con bò, nuôi đến chừng hai chục con cừu, thế mà đến lúc thì còn lại mỗi cái túi, mà cái túi ấy cũng chẳng phải của mình, mà của nhà nước, và bây giờ ở làng Nhê-đô-sô-tô-va chúng tôi, nói thật, nhà tôi tồi tệ nhất. Mô-kây xưa có bốn đầy tớ, nay Mô-kây phải đi làm đầy tớ. Pê-trắc xưa có bốn người làm thuê, nay Pê-trắc phải đi làm thuê.

Viên dự thẩm hỏi:

— Sao ông lại nghèo đi?

— Mấy thằng con tôi uống rượu dữ quá. Uống đến mức nói không ra lời, ông không tin nổi đâu.

Lư-giơn nghe và nghĩ rằng đấy, anh, Lư-giơn, sớm muộn gì rồi cũng sẽ về lại Mát-xcơ-va, còn ông già này thì sẽ ở lại đây mãi mãi, và sẽ cứ đi, đi mãi. Và trong đời còn sẽ phải gặp bao nhiêu ông già tàn tạ, đầu tóc lâu ngày không chải, "chẳng ra gì" như thế, những người mà trong lòng, bằng cách nào đó, đã gắn chặt với nhau đồng mười lăm xu, ly rượu nhỏ và niềm tin sâu sắc rằng trên đời này sống bằng gian dối không được. Rồi anh chán nghe, và bảo mang cỏ khô đến để nằm. Trong phòng khách trọ có một chiếc giường sắt với gối và chăn, có thể mang từ đó sang, nhưng cạnh nó cái xác đã nằm gần ba ngày nay, có khi người chết đã ngồi lên đó trước khi chết, và giờ nằm trên đó thì thật khó chịu…

Lư-giơn nhìn đồng hồ, nghĩ: "Mới bảy giờ rưỡi. Thật khủng khiếp!"

Anh không buồn ngủ, nhưng vì chẳng có việc gì làm, để giết thời gian cho xong, anh nằm xuống, đắp tấm chăn len. Lô-sa-đin dọn bát đĩa, ra vào mấy lần, chép chép miệng và thở dài, cứ giẫm chân quanh bàn mãi, cuối cùng cầm ngọn đèn nhỏ của mình đi ra. Và nhìn từ phía sau mái tóc bạc dài và tấm thân còng gập của ông, Lư-giơn nghĩ:

"Hệt như một lão phù thuỷ trong vở nhạc kịch."

Trời tối hẳn. Có lẽ sau những đám mây có trăng, vì vẫn thấy rõ những ô cửa sổ và tuyết bám trên khung cửa.

Bão tuyết hát:

— U-u-u-u! U-u-u-u!

Một người đàn bà trên gác mái rú lên, hay chỉ là nghe như thế:

— Ới gia-a-a ơi! Ới gia-a-a ơi là trời!

Cái gì đó bên ngoài đập vào tường:

— Bùm! Rầm!

Viên dự thẩm lắng nghe: chẳng có người đàn bà nào cả, chỉ là gió rú. Trời lạnh, và anh đắp thêm chiếc áo lông lên trên tấm chăn. Trong lúc sưởi ấm, anh nghĩ rằng tất cả những thứ này, cả bão tuyết, cả túp nhà, cả ông già, cả cái xác nằm ở phòng bên, tất cả xa biết bao cái cuộc sống mà anh muốn có cho mình, và tất cả xa lạ với anh, nhỏ nhặt, chẳng có gì thú vị biết bao. Giá như người kia tự sát ở Mát-xcơ-va hay đâu đó gần Mát-xcơ-va, và anh phải điều tra, thì ở đó chuyện ấy sẽ thú vị, quan trọng, và có khi còn thấy sợ khi phải ngủ cạnh một cái xác. Còn ở đây, cách Mát-xcơ-va cả nghìn dặm, mọi thứ như được soi dưới một thứ ánh sáng khác, tất cả không phải là cuộc sống, không phải là con người, mà là một cái gì đó chỉ tồn tại "cho đủ thủ tục", như Lô-sa-đin nói. Tất cả sẽ chẳng để lại trong trí nhớ một dấu vết nhỏ nhất nào, và sẽ bị quên ngay khi anh, Lư-giơn, rời khỏi Xư-rơ-nhi-a. Tổ quốc, nước Nga thật sự, là Mát-xcơ-va, là Pê-téc-bua, còn ở đây là tỉnh lẻ, là thuộc địa. Khi mơ được đóng một vai trò, được nổi tiếng, chẳng hạn được làm dự thẩm những vụ án đặc biệt quan trọng, hay làm công tố viên toà án khu vực, được làm một con sư tử của giới thượng lưu, thì nhất định người ta nghĩ đến Mát-xcơ-va. Muốn sống thì phải ở Mát-xcơ-va, chứ ở đây thì chẳng muốn gì cả, dễ dàng chấp nhận vai trò mờ nhạt của mình, và chỉ chờ đợi ở cuộc đời một điều: đi cho nhanh, đi cho nhanh. Và Lư-giơn trong ý nghĩ lang thang khắp các phố phường Mát-xcơ-va, ghé vào những ngôi nhà quen, gặp gỡ người thân, bạn bè, và tim anh thắt lại ngọt ngào khi nghĩ rằng giờ anh mới hai mươi sáu tuổi, và nếu năm hay mười năm nữa anh thoát khỏi đây mà về được Mát-xcơ-va, thì khi ấy cũng chưa muộn, phía trước vẫn còn cả một cuộc đời. Và khi chìm dần vào cơn mơ màng, khi ý nghĩ đã bắt đầu lẫn lộn, anh hình dung ra những hành lang dài của toà án Mát-xcơ-va, chính mình đang đọc bài diễn văn, các chị em gái của mình, một dàn nhạc chẳng hiểu sao cứ rền rĩ mãi:

— U-u-u! U-u-u!

Lại vang lên:

— Bùm! Rầm! Bùm!

Và anh bỗng nhớ ra có lần ở hội đồng địa phương, khi anh đang nói chuyện với ông kế toán, có một người đến bên bàn giấy, mắt sẫm, tóc đen, gầy, xanh xao. Ánh mắt anh ta có một vẻ khó chịu, như ở những người ngủ trưa quá lâu, và nó làm hỏng cái dáng nhìn nghiêng thanh tú, thông minh của anh ta. Đôi ủng cao cổ anh ta đi cũng không hợp với anh ta, trông thô kệch. Ông kế toán giới thiệu: "Đây là nhân viên của hội đồng chúng tôi."

Lư-giơn giờ mới nghĩ ra: "Vậy ra đó là Lết-nhít-xki… chính người này…"

Anh nhớ lại giọng nói khe khẽ của Lết-nhít-xki, hình dung dáng đi của anh ta, và anh có cảm giác như có ai đó đang đi lại gần mình, đi y hệt như Lết-nhít-xki.

Bỗng anh thấy sợ, đầu lạnh toát.

Anh lo lắng hỏi:

— Ai đấy?

— Tuồn đinh.

— Ông cần gì ở đây?

— Bẩm quan lớn, tôi đến xin phép. Lúc nãy ông bảo không cần ông xã trưởng, nhưng tôi sợ ông ấy giận. Ông ấy dặn phải đến. Hay tôi đi nhé?

Lư-giơn bực bội nói rồi lại trùm chăn:

— Mặc kệ ông! Chán quá…

— Sợ ông ấy giận… Tôi đi đây, bẩm quan lớn, chúc ông ở lại bình an.

Rồi Lô-sa-đin đi ra. Ở gian ngoài có tiếng ho và tiếng nói chuyện khe khẽ. Có lẽ những người làm chứng đã về.

Viên dự thẩm nghĩ: "Mai sẽ cho những người khốn khổ này về sớm… Trời vừa rạng là bắt đầu khám nghiệm."

Anh bắt đầu thiu thiu ngủ, thì bỗng lại có tiếng chân ai đó, nhưng không rụt rè, mà nhanh, ồn ào. Cửa đập mạnh, tiếng người, tiếng quẹt diêm…

Bác sĩ Xtác-tsen-cô hỏi dồn dập và bực bội, quẹt hết que diêm này đến que diêm khác. Ông phủ đầy tuyết, và từ người ông toả ra hơi lạnh:

— Ông ngủ đấy à? Ông ngủ đấy à? Dậy đi, ta đến nhà phôn Tau-nít. Ông ấy cho ngựa của mình đến đón ông. Ta đi thôi, ở đó ít ra ông cũng được ăn tối, ngủ cho ra ngủ. Ông thấy đấy, chính tôi đến đón ông. Ngựa tuyệt lắm, hai mươi phút là ta tới nơi.

— Bây giờ mấy giờ rồi?

— Mười giờ mười lăm.

Lư-giơn ngái ngủ, bực bội, đi ủng dạ, mặc áo lông, đội mũ, quàng mũ trùm đầu, rồi cùng ông bác sĩ đi ra ngoài. Trời không rét lắm, nhưng gió thổi mạnh, buốt thấu xương, cuốn dọc con phố những đám tuyết như đang chạy trốn trong kinh hoàng. Dưới chân những hàng rào và bên những bậc thềm, tuyết đã dồn thành những đống cao. Ông bác sĩ và viên dự thẩm ngồi lên xe trượt tuyết, và bác xà ích trắng xoá tuyết cúi người xuống cài tấm chăn phủ chân cho họ. Cả hai đều thấy nóng.

— Đi!

Họ đi qua làng. Viên dự thẩm uể oải nghĩ đến câu thơ "Xới tung những luống tuyết mềm…", nhìn con ngựa bên cạnh làm việc bằng những cẳng chân. Ở tất cả các túp lều đều sáng đèn, như đêm trước một ngày lễ lớn: đó là nông dân không ngủ, sợ người chết. Bác xà ích im lặng u sầu. Có lẽ bác đã chán khi phải đứng chờ ở nhà công vụ, và giờ cũng đang nghĩ về người chết.

Xtác-tsen-cô nói:

— Ở nhà Tau-nít, khi người ta biết ông ở lại ngủ trong nhà công vụ, ai cũng xúm vào trách tôi sao không đưa ông đi cùng.

Ra khỏi làng, ở chỗ rẽ, bác xà ích bỗng hét lên hết cỡ:

— Tránh đường!

Một người thoáng hiện ra. Ông ta đứng tuyết ngập đến đầu gối, đã bước ra khỏi đường, và nhìn cỗ xe ba ngựa. Viên dự thẩm thấy cây gậy đầu cong, bộ râu và cái túi đeo bên hông, và anh có cảm giác đó là Lô-sa-đin, thậm chí có cảm giác ông ta đang mỉm cười. Thoáng hiện rồi biến mất.

Con đường thoạt tiên chạy men bìa rừng, rồi theo một lối phát quang rộng trong rừng. Thấp thoáng những cây thông già, những rặng bạch dương non, những cây sồi non cao, cong queo, đứng lẻ loi trên những khoảng trống nơi rừng vừa bị đốn. Nhưng chẳng mấy chốc mọi thứ lẫn hết vào trong không khí, trong những đám mây tuyết. Bác xà ích bảo bác thấy rừng, còn viên dự thẩm thì chẳng thấy gì cả, ngoài con ngựa bên cạnh. Gió thổi sau lưng.

Bỗng lũ ngựa dừng lại.

Xtác-tsen-cô bực bội hỏi:

— Lại chuyện gì nữa thế?

Bác xà ích lặng lẽ xuống khỏi ghế, bắt đầu chạy quanh chiếc xe, giẫm lên gót chân mình. Bác chạy những vòng mỗi lúc một rộng, mỗi lúc một xa xe hơn, và trông như đang nhảy múa. Cuối cùng bác quay lại và bắt đầu rẽ sang phải.

Xtác-tsen-cô hỏi:

— Lạc đường rồi à?

— Không sao-o-o…

Đây là một xóm nhỏ nào đó, không một ánh đèn. Lại rừng, lại đồng, lại lạc đường, và bác xà ích lại xuống khỏi ghế mà nhảy múa. Cỗ xe ba ngựa lao vào một con đường rợp cây tối om, lao nhanh, và con ngựa bên cạnh nóng hổi cứ đá vào đầu xe. Ở đây cây cối gào lên ầm ầm, đáng sợ, và tối đến nỗi đưa tay không thấy ngón, như đang lao xuống vực thẳm nào đó. Và bỗng một ánh sáng rực rỡ của cổng chính và những ô cửa sổ đập vào mắt, vang lên tiếng chó sủa hiền lành, ngân nga, tiếng người… Đến nơi rồi.

Trong lúc ở phòng ngoài dưới nhà người ta cởi áo lông và ủng dạ, thì trên gác có tiếng dương cầm đang chơi bài "Một ly Cli-cô nhỏ", và nghe thấy tiếng lũ trẻ giậm chân. Hơi ấm lập tức phả vào những người mới đến, cùng với mùi của những căn phòng quý tộc cũ, nơi mà dù ngoài trời thời tiết thế nào, người ta vẫn sống ấm áp, sạch sẽ, tiện nghi đến thế.

Phôn Tau-nít, một người béo phị, cổ to không tưởng, để tóc mai, vừa bắt tay viên dự thẩm vừa nói:

— Thế là tuyệt rồi. Thế là tuyệt rồi. Xin mời, rất hân hạnh được làm quen. Ông với tôi cũng có thể coi là đồng nghiệp đôi chút đấy. Ngày xưa tôi cũng từng làm phó công tố viên, nhưng không lâu, chỉ hai năm thôi. Rồi về đây làm ăn, già đi ở đây. Nói tóm lại là một lão già khọm.

Ông nói tiếp, rõ ràng đang cố kìm giọng cho khỏi to. Ông và khách đang lên gác:

— Xin mời. Vợ tôi không còn, mất rồi, còn đây, xin giới thiệu, là các con gái tôi.

Rồi ông quay lại, gọi xuống dưới nhà bằng giọng sấm sét:

— Bảo thằng I-gơ-nát mai đánh xe ra lúc tám giờ!

Trong phòng lớn có bốn cô con gái của ông, những cô gái trẻ, xinh xắn, cô nào cũng mặc váy xám và chải tóc giống nhau, và cô em họ của họ cùng mấy đứa con, cũng trẻ và hấp dẫn. Xtác-tsen-cô, vốn quen họ, lập tức xin họ hát một bài gì đó, và hai cô tiểu thư cứ quả quyết mãi rằng họ không biết hát và không có bản nhạc. Rồi cô em họ ngồi vào đàn, và họ hát bằng giọng run run một bản song ca trong vở "Con đầm pích". Rồi lại chơi bài "Một ly Cli-cô nhỏ", và lũ trẻ nhảy nhót, giậm chân theo nhịp. Cả Xtác-tsen-cô cũng nhảy. Mọi người cười ồ.

— Hết chương 1 —

Mục lục Đi công cán

  1. 1Đêm bão tuyết ở nhà công vụ23 phút
  2. 2Ta đi, ta đi, ta điĐang thu âm

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảAnton Chekhov (1860 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1899
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: По делам службы, 1899
Giọng đọcBảo Tín — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →