Truyện Đỉnh

🏮 Truyện ma & truyền kỳ

Giấc mộng của A-ki-nô-xu-kê

của Lafcadio Hearn

⏱ 9 phút🎙️ Giọng Bảo Đức📖 9.962 chữ

Khoảnh khắc chính

  1. 0:05Ở huyện Tô-i-chi thuộc xứ Ya-ma-tô, ngày xưa có…
  2. 1:32Nghe những lời ấy, A-ki-nô-xu-kê muốn đáp lại cho…
  3. 3:10Nói xong, hai người cùng đứng dậy, đi tới…
  4. 4:18Sau đó, đôi vợ chồng được đưa tới một…
  5. 5:43A-ki-nô-xu-kê sống và cai trị ở Lai Châu thêm…
  6. 6:59Và A-ki-nô-xu-kê bỗng tỉnh dậy, dưới gốc cây tuyết…
  7. 7:27Một người nói:
  8. 8:25Hoá ra đất quanh gốc và dưới gốc cây…

Ở huyện Tô-i-chi thuộc xứ Ya-ma-tô, ngày xưa có một hương sĩ tên là Mi-ya-ta A-ki-nô-xu-kê. Thời phong kiến bên Nhật, hương sĩ là một tầng lớp riêng: họ vừa là lính vừa là nhà nông, có ruộng đất của mình, được hưởng ít nhiều đặc quyền.

Trong vườn nhà A-ki-nô-xu-kê có một cây tuyết tùng cổ thụ to lớn. Những ngày oi bức, anh hay ra ngồi nghỉ dưới gốc cây ấy. Một buổi chiều rất nóng, anh đang ngồi dưới gốc cây với hai người bạn cũng là hương sĩ, vừa uống rượu vừa chuyện trò, thì bỗng thấy buồn ngủ ríu cả mắt. Buồn ngủ tới mức anh phải xin lỗi bạn để chợp mắt một lát ngay trước mặt họ. Anh nằm xuống dưới gốc cây, và mơ một giấc mơ như sau.

Anh mơ thấy mình đang nằm trong vườn, bỗng thấy một đoàn rước, như đoàn tuỳ tùng của một vị lãnh chúa lớn, đang đi xuống từ ngọn đồi gần đó. Anh đứng dậy xem. Hoá ra đó là một đoàn rước vô cùng lộng lẫy, oai nghiêm hơn mọi đoàn rước anh từng thấy, và nó đang tiến về phía nhà anh. Đi đầu đoàn là một toán thanh niên ăn mặc sang trọng, kéo một cỗ xe cung đình sơn mài thật lớn, rủ rèm lụa xanh biếc.

Tới cách nhà một quãng ngắn, đoàn rước dừng lại. Một người ăn mặc rất sang trọng, hẳn là bậc có địa vị, từ trong đoàn bước ra, tới trước mặt A-ki-nô-xu-kê, cúi chào thật thấp, rồi nói:

"Thưa ông, người đứng trước mặt ông đây là bề tôi của Quốc vương nước Thường Thế. Chủ nhân tôi, đức Quốc vương, truyền cho tôi nhân danh ngài kính chào ông, và đặt mình hoàn toàn dưới sự sai bảo của ông. Ngài còn dặn tôi thưa với ông rằng ngài muốn mời ông vào cung. Vậy xin ông lên ngay cỗ xe này, cỗ xe ngài đã sai tới đón ông."

Nghe những lời ấy, A-ki-nô-xu-kê muốn đáp lại cho phải phép, nhưng anh kinh ngạc và bối rối quá, không nói nên lời. Cùng lúc ấy, ý chí của anh như tan biến đi đâu mất, anh chỉ còn biết làm theo lời người bề tôi kia. Anh bước lên xe. Người bề tôi ngồi xuống cạnh anh, ra hiệu. Những người kéo xe nắm lấy dây lụa, quay cỗ xe lớn về phía nam. Và cuộc hành trình bắt đầu.

Chỉ một lát sau, A-ki-nô-xu-kê sửng sốt thấy cỗ xe dừng trước một cổng lầu hai tầng đồ sộ, kiểu Trung Hoa, cái cổng mà anh chưa thấy bao giờ. Người bề tôi bước xuống, nói: "Tôi vào báo tin ông đã tới," rồi đi khuất.

Chờ một lúc, A-ki-nô-xu-kê thấy hai người dáng vẻ cao quý, mặc áo lụa tía, đội mũ cao kiểu mũ của bậc quyền cao chức trọng, từ trong cổng bước ra. Hai người kính cẩn chào anh, đỡ anh xuống xe, rồi dẫn anh qua cổng lớn, băng qua một khu vườn mênh mông, tới lối vào một cung điện mà mặt tiền như trải dài hàng dặm về cả phía tây lẫn phía đông.

A-ki-nô-xu-kê được đưa vào một gian tiếp khách rộng lớn, lộng lẫy lạ thường. Hai người dẫn đường mời anh ngồi vào chỗ danh dự, rồi kính cẩn lui ra ngồi một bên. Các thị nữ trong lễ phục mang trà bánh tới. Khi A-ki-nô-xu-kê dùng xong, hai người áo tía cúi rạp trước anh, rồi lần lượt người này nói một câu, người kia nói một câu, đúng theo lễ nghi chốn triều đình:

"Giờ chúng tôi có bổn phận vinh dự được thưa với ông... lý do vì sao ông được mời tới đây... Chủ nhân chúng tôi, đức Quốc vương, mong muốn ông trở thành phò mã của ngài... và ý muốn cũng như mệnh lệnh của ngài là ông sẽ thành hôn ngay hôm nay... với đức Công chúa, con gái còn khuê các của ngài... Chúng tôi sẽ sớm đưa ông tới điện chầu... nơi đức Quốc vương đang chờ tiếp ông... Nhưng trước hết, chúng tôi cần phải mặc cho ông... bộ lễ phục cho phải phép."

Nói xong, hai người cùng đứng dậy, đi tới một hốc tường có đặt chiếc rương lớn sơn son thếp vàng. Họ mở rương, lấy ra nhiều bộ áo, nhiều dải thắt lưng bằng gấm vóc quý giá, cùng một chiếc mũ miện. Họ mặc cho A-ki-nô-xu-kê đúng như một chàng rể nhà vua.

Rồi anh được đưa tới điện chầu. Ở đó anh thấy Quốc vương nước Thường Thế ngồi trên ngai, đội mũ cao màu đen, mặc hoàng bào bằng lụa vàng. Trước ngai, hai bên tả hữu, các đại thần ngồi thành hàng lớp, im phăng phắc, lộng lẫy như tượng trong chùa. A-ki-nô-xu-kê bước vào giữa họ, lạy vua ba lạy theo đúng lễ. Vua ân cần chào hỏi, rồi phán:

"Ngươi đã được báo vì sao được mời tới trước mặt Trẫm. Trẫm đã quyết định cho ngươi làm phò mã, chồng của người con gái duy nhất của Trẫm. Lễ cưới sẽ cử hành ngay bây giờ."

Vua vừa dứt lời thì nhạc vui nổi lên. Một đoàn dài cung nữ xinh đẹp từ sau tấm rèm bước ra, đưa A-ki-nô-xu-kê tới căn phòng nơi cô dâu đang chờ.

Căn phòng rộng mênh mông, vậy mà vẫn chật vì khách khứa kéo tới dự lễ cưới quá đông. Ai nấy đều cúi rạp chào A-ki-nô-xu-kê khi anh ngồi vào tấm nệm đã soạn sẵn, đối diện với công chúa. Cô dâu đẹp như một tiên nữ trên trời, áo xiêm đẹp như bầu trời mùa hạ. Và lễ cưới được cử hành giữa muôn vàn vui mừng.

Sau đó, đôi vợ chồng được đưa tới một dãy phòng đã sửa soạn sẵn ở một khu khác trong cung. Tại đây họ nhận lời chúc mừng của rất nhiều bậc quyền quý, và quà cưới nhiều không đếm xuể.

Mấy hôm sau, A-ki-nô-xu-kê lại được triệu vào điện. Lần này anh được tiếp đón còn ân cần hơn trước. Vua phán:

"Ở phía tây nam lãnh thổ của Trẫm có một hòn đảo tên là Lai Châu. Nay Trẫm phong ngươi làm Thái thú đảo ấy. Ngươi sẽ thấy dân ở đó trung thành, hiền lành. Nhưng luật lệ của họ chưa được sửa cho hợp với luật lệ nước Thường Thế, phong tục của họ cũng chưa được chỉnh đốn cho đúng. Trẫm giao cho ngươi việc cải thiện đời sống của họ, được tới đâu hay tới đó. Trẫm muốn ngươi cai trị họ bằng lòng nhân và trí sáng. Mọi việc cần thiết cho chuyến đi Lai Châu của ngươi đều đã sắp đặt xong cả."

Thế là A-ki-nô-xu-kê cùng vợ rời cung điện nước Thường Thế. Cả một đoàn đông đảo quan lại quý tộc tiễn họ ra tận bờ biển. Họ xuống một chiếc thuyền rồng do vua ban, xuôi gió êm đềm tới Lai Châu bình yên. Dân lành trên đảo đã tề tựu ở bãi biển chờ đón họ.

A-ki-nô-xu-kê bắt tay ngay vào nhiệm vụ mới, và công việc hoá ra chẳng khó khăn gì. Ba năm đầu làm Thái thú, anh bận rộn chủ yếu với việc soạn thảo và ban hành luật lệ. Nhưng anh có những quan cố vấn khôn ngoan giúp sức, nên chẳng bao giờ thấy công việc nặng nhọc. Khi mọi việc đã xong xuôi, anh chẳng còn việc gì phải làm, ngoài dự các lễ nghi theo tục lệ xưa. Đất nước trong lành, phì nhiêu tới mức không ai biết ốm đau hay đói khổ là gì. Dân chúng hiền lương tới mức chẳng bao giờ có ai phạm luật.

A-ki-nô-xu-kê sống và cai trị ở Lai Châu thêm hai mươi năm nữa, tính ra tất cả là hai mươi ba năm, chưa từng có một bóng sầu muộn nào thoáng qua đời anh.

Nhưng tới năm thứ hai mươi tư làm Thái thú, một tai hoạ lớn ập xuống đầu anh. Vợ anh, người đã sinh cho anh bảy đứa con, năm trai hai gái, lâm bệnh rồi qua đời. Nàng được an táng hết sức trọng thể trên đỉnh một ngọn đồi đẹp ở vùng Bàn Long, trên mộ dựng một tấm bia vô cùng lộng lẫy. Nhưng A-ki-nô-xu-kê đau buồn vì nàng mất tới mức anh chẳng còn thiết sống nữa.

Hết hạn tang theo phép nước, một sứ giả từ cung điện nước Thường Thế tới Lai Châu. Sứ giả trao cho A-ki-nô-xu-kê lời phân ưu của nhà vua, rồi nói:

"Đây là những lời mà chủ nhân tôn quý của chúng ta, đức Quốc vương nước Thường Thế, truyền cho tôi nói lại với ông: Nay Trẫm sẽ cho ngươi trở về với đồng bào, với quê hương của ngươi. Còn bảy đứa trẻ, chúng là cháu nội cháu ngoại của Trẫm, sẽ được chăm lo chu đáo. Vậy ngươi chớ để lòng mình bận tâm về chúng."

Nhận lệnh, A-ki-nô-xu-kê ngoan ngoãn sửa soạn lên đường. Khi mọi việc đã thu xếp xong, lễ từ biệt các quan cố vấn và những người thân tín cũng đã làm xong, anh được hộ tống rất trọng thể ra cảng. Anh xuống chiếc thuyền được sai tới đón. Thuyền giương buồm ra biển xanh, dưới bầu trời xanh. Rồi hình bóng hòn đảo Lai Châu cũng ngả sang màu xanh, rồi ngả sang màu xám, rồi biến mất mãi mãi.

Và A-ki-nô-xu-kê bỗng tỉnh dậy, dưới gốc cây tuyết tùng trong vườn nhà mình!

Trong một thoáng, anh ngẩn ngơ, choáng váng. Nhưng anh thấy hai người bạn vẫn ngồi gần đó, vui vẻ uống rượu chuyện trò. Anh ngơ ngác nhìn họ, rồi kêu lên:

"Lạ quá!"

"A-ki-nô-xu-kê nằm mơ rồi," một người cười bảo. "Anh thấy chuyện gì lạ thế, A-ki-nô-xu-kê?"

A-ki-nô-xu-kê bèn kể lại giấc mơ, giấc mơ hai mươi ba năm sống ở nước Thường Thế, trên đảo Lai Châu. Hai người bạn kinh ngạc, vì thật ra anh chỉ ngủ có vài phút.

Một người nói:

"Quả là anh thấy chuyện lạ thật. Chúng tôi cũng thấy một chuyện lạ trong lúc anh chợp mắt. Có một con bướm vàng nhỏ bay chập chờn trên mặt anh một lúc, chúng tôi cứ nhìn theo nó. Rồi nó đậu xuống đất bên cạnh anh, sát gốc cây. Nó vừa đậu xuống thì gần như ngay lập tức có một con kiến to, to lắm, chui ra từ một cái lỗ, tha nó lôi xuống lỗ. Ngay trước lúc anh tỉnh dậy, chúng tôi thấy chính con bướm ấy lại chui ra khỏi lỗ, bay chập chờn trên mặt anh như lúc trước. Rồi nó bỗng biến mất, chúng tôi không biết nó bay đi đâu."

"Có khi đó là hồn của A-ki-nô-xu-kê," người kia nói. "Tôi chắc là có thấy nó bay vào miệng anh ấy. Nhưng dù con bướm ấy là hồn A-ki-nô-xu-kê đi nữa, thì cũng chẳng giải thích được giấc mơ của anh ấy."

"Lũ kiến có thể giải thích được đấy," người thứ nhất đáp. "Kiến là giống kỳ lạ lắm, biết đâu lại là yêu tinh. Dù sao thì dưới gốc cây tuyết tùng kia cũng có một tổ kiến lớn."

"Ta đào lên xem nào!" A-ki-nô-xu-kê kêu lên, hết sức xúc động trước ý ấy. Rồi anh đi lấy thuổng.

Hoá ra đất quanh gốc và dưới gốc cây tuyết tùng đã bị một đàn kiến đông vô kể đục khoét thật đáng kinh ngạc. Lũ kiến lại còn xây dựng bên trong những đường hầm ấy, và những công trình tí hon bằng rơm, bằng đất sét, bằng cọng cỏ của chúng trông giống lạ lùng những thành phố thu nhỏ. Ở giữa một công trình lớn hơn hẳn những công trình khác, vô số kiến nhỏ đang bu kín quanh mình một con kiến rất to, cánh vàng vàng, đầu đen và dài.

"Ơ kìa, đức vua trong giấc mơ của tôi đây rồi!" A-ki-nô-xu-kê kêu lên. "Còn đây là cung điện nước Thường Thế! Lạ lùng quá! Lai Châu hẳn phải nằm đâu đó ở phía tây nam, bên trái cái rễ to kia. Phải rồi! Đây rồi! Lạ lùng thật! Giờ thì tôi chắc là mình sẽ tìm được ngọn đồi Bàn Long, và ngôi mộ của công chúa."

Anh tìm mãi, tìm mãi trong cái tổ kiến đổ nát, cuối cùng phát hiện ra một gò đất nhỏ xíu. Trên đỉnh gò có cắm một viên sỏi nhẵn vì nước mài, hình dáng giống một ngôi tháp mộ nhà Phật. Bên dưới viên sỏi, vùi trong đất sét, anh tìm thấy xác một con kiến cái.

— Hết —

Thông tin bản quyền

Tác giả · năm mất · tình trạng bản quyền
Tác giảLafcadio Hearn (1850 – 1904)
Năm mất1904
Xuất bản lần đầu1904
Bản dịchTruyện Đỉnh biên dịch
Tình trạngNguyên tác thuộc phạm vi công cộng; bản tiếng Việt do Truyện Đỉnh dịch / kể lại
Nguồn văn bảnNguyên tác: The Dream of Akinosuké, Lafcadio Hearn, trong tập Kwaidan: Stories and Studies of Strange Things, 1904
Giọng đọcBảo Đức — giọng AI của AI Giọng Nói

Vì sao Truyện Đỉnh được phép đăng truyện này?

Nghe tiếp cùng thể loại

Tất cả →