Chương 1: Ba món đồ lạ
Ngày xưa có một ông vua xứ Ấn Độ có ba người con trai và một cô cháu gái. Hoàng tử cả tên là Hút-xanh, hoàng tử thứ hai tên là A-li, hoàng tử út tên là A-mét, còn công chúa, cháu gái nhà vua, tên là Nu-rôn-ni-ha.
Công chúa Nu-rôn-ni-ha là con gái người em trai nhà vua. Người em ấy mất sớm, để lại công chúa khi nàng còn rất nhỏ. Nhà vua tự nhận việc dạy dỗ cháu gái, nuôi nàng trong cung cùng ba hoàng tử. Ngài định khi nàng tới tuổi sẽ gả nàng cho một hoàng tử nước láng giềng nào đó để kết tình liên minh.
Nhưng khi thấy cả ba hoàng tử con mình đều yêu nàng say đắm, ngài phải nghĩ tới chuyện ấy nghiêm túc hơn. Ngài lo lắm. Cái khó ngài thấy trước là làm sao cho ba anh em đồng lòng, làm sao để hai người em chịu nhường nàng cho anh cả. Thấy họ một mực cố chấp, ngài cho gọi cả ba tới, bảo:
— Các con ạ, vì yên ổn cho các con, ta đã không thuyết phục được các con thôi mơ tưởng tới công chúa em họ. Vậy ta nghĩ cũng chẳng phải là không hay nếu mỗi đứa đi riêng tới một xứ khác nhau, để khỏi chạm mặt nhau. Các con biết ta tò mò lắm, thích mọi thứ khác thường, nên ta hứa gả cháu gái ta cho đứa nào mang về cho ta món đồ lạ lùng nhất. Để mua món đồ lạ các con đi tìm và làm lộ phí, ta sẽ cho mỗi đứa một món tiền.
Ba hoàng tử xưa nay vẫn ngoan ngoãn vâng ý vua cha, lại ai cũng tự nhủ biết đâu số phận sẽ mỉm cười với mình, nên đều đồng ý. Nhà vua trao cho họ số tiền đã hứa. Ngay hôm ấy họ ra lệnh sửa soạn cho chuyến đi, rồi từ biệt vua cha để sáng mai lên đường cho sớm.
Thế là cả ba cùng ra một cổng thành, ai cũng ăn mặc như nhà buôn, có một viên quan thân tín mặc như nô lệ đi theo hầu, ngựa tốt, đồ đạc đầy đủ. Ngày đầu họ đi cùng nhau, tối nghỉ chung ở một quán trọ, nơi con đường rẽ làm ba ngả. Tối ấy, đang ăn cơm với nhau, họ giao hẹn sẽ đi một năm, rồi gặp lại nhau ở quán trọ này. Ai về trước thì chờ những người kia, để đã cùng nhau từ biệt vua cha thì cùng nhau trở về. Sáng hôm sau, trời vừa hửng, họ ôm nhau chúc nhau may mắn, rồi lên ngựa, mỗi người một ngả.
Hoàng tử Hút-xanh, người anh cả, tới Bít-na-ga, kinh đô vương quốc cùng tên, nơi nhà vua xứ ấy ngự. Chàng vào ở một quán trọ dành cho nhà buôn nước ngoài. Biết trong thành có bốn khu chính, nơi nhà buôn đủ loại bán hàng, mở cửa hiệu, giữa bốn khu là lâu đài, hay đúng hơn là cung điện nhà vua, hôm sau chàng tới một trong bốn khu ấy.
Hoàng tử Hút-xanh nhìn khu chợ mà không khỏi thán phục. Nó rộng lớn, chia thành nhiều con phố, phố nào cũng có mái vòm che nắng mà vẫn sáng sủa. Cửa hiệu nào cũng to bằng nhau. Người bán cùng một thứ hàng ở chung một phố, thợ thủ công thì mở hiệu ở những phố nhỏ hơn.
Vô số cửa hiệu đầy ắp đủ loại hàng hoá: những tấm vải lanh mịn nhất từ nhiều miền Ấn Độ, có tấm vẽ màu tươi thắm hình muông thú, cây cối, hoa lá; lụa và gấm từ Ba Tư, Trung Hoa và nhiều nơi khác; đồ sứ Nhật Bản, Trung Hoa; thảm dệt. Chàng ngạc nhiên tới mức không dám tin vào mắt mình. Nhưng tới dãy hàng vàng bạc, đá quý, chàng như ngây ngất trước những đống vàng bạc chạm trổ nhiều vô kể, loá mắt trước ánh lấp lánh của ngọc trai, kim cương, hồng ngọc, ngọc lục bảo và các thứ ngọc khác bày bán.
Một điều nữa khiến hoàng tử Hút-xanh đặc biệt thích là vô số người bán hoa hồng chen chúc khắp phố. Người Ấn Độ mê hoa hồng tới mức chẳng ai ra đường mà không cầm một bó hoa trong tay hay đội một vòng hoa trên đầu. Nhà buôn thì trồng hoa trong chậu bày khắp cửa hiệu, khiến không khí thơm ngát.
Đi hết khu chợ ấy, hết phố này sang phố khác, đầu óc đầy những của cải vừa thấy, hoàng tử Hút-xanh mệt lắm. Một nhà buôn thấy vậy, lịch sự mời chàng ngồi nghỉ trong cửa hiệu, chàng nhận lời. Chàng chưa ngồi được bao lâu thì thấy một người rao hàng đi qua, vắt trên tay một tấm thảm, mỗi bề chừng sáu bộ, rao giá ba mươi túi tiền.
Hoàng tử gọi người rao hàng lại, xin xem tấm thảm. Chàng thấy giá ấy cắt cổ quá, không chỉ vì tấm thảm nhỏ mà vì chất liệu tầm thường. Xem kỹ xong, chàng bảo người rao hàng chàng không hiểu sao một tấm thảm nhỏ như thế, trông xoàng xĩnh như thế mà giá lại cao thế.
Người rao hàng tưởng chàng là nhà buôn, đáp:
— Nếu ông thấy giá ấy quá đáng, ông sẽ còn kinh ngạc hơn khi tôi nói tôi được lệnh nâng giá lên bốn mươi túi, dưới giá ấy không bán.
— Chắc hẳn nó phải có điều gì phi thường mà tôi không biết, hoàng tử Hút-xanh đáp.
— Ông đoán đúng rồi đấy, người rao hàng nói, và ông sẽ công nhận khi biết rằng ai ngồi lên tấm thảm này sẽ được đưa tới bất cứ nơi đâu mình muốn chỉ trong nháy mắt, không gì cản được.
Nghe vậy, vị hoàng tử xứ Ấn Độ nghĩ rằng mục đích chính chuyến đi của mình là mang về cho vua cha một món đồ lạ hiếm, chàng chẳng thể tìm được món nào làm vua cha vừa lòng hơn.
— Nếu tấm thảm có phép như ông nói, chàng bảo người rao hàng, tôi sẽ không thấy bốn mươi túi là đắt, mà còn tặng ông thêm một món quà nữa.
— Thưa ông, người rao hàng đáp, tôi đã nói thật với ông. Muốn chứng minh cho ông thấy cũng dễ thôi, ngay khi ông đã thoả thuận mua bốn mươi túi với điều kiện tôi cho ông xem thử. Nhưng tôi đoán ông không mang sẵn chừng ấy tiền trong người, mà muốn nhận tiền tôi phải theo ông về quán trọ ông đang ở. Vậy, nếu chủ hiệu cho phép, ta vào gian trong cửa hiệu, tôi sẽ trải tấm thảm ra. Hai ta ngồi lên, ông ước được đưa về phòng mình ở quán trọ. Nếu không đi được thì coi như không mua bán gì, ông hoàn toàn tự do. Còn món quà của ông, tuy người bán đã trả công cho tôi rồi, tôi xin nhận như một ân huệ, và rất biết ơn ông.
Tin lời người rao hàng, hoàng tử chấp nhận điều kiện, thoả thuận mua bán xong. Được chủ hiệu cho phép, họ vào gian trong, cùng ngồi lên tấm thảm. Hoàng tử vừa ước được đưa về phòng mình ở quán trọ thì lập tức thấy mình và người rao hàng đã ở đó. Chàng chẳng cần chứng cớ nào rõ hơn về phép lạ của tấm thảm, đếm cho người rao hàng bốn mươi túi tiền vàng, lại tặng ông hai mươi đồng tiền vàng.
Thế là hoàng tử Hút-xanh thành chủ tấm thảm. Chàng mừng khôn xiết vì vừa tới Bít-na-ga đã tìm được một món quý hiếm như vậy, chẳng chút nghi ngờ nó sẽ giúp mình cưới được Nu-rôn-ni-ha. Tóm lại, chàng coi như hai em mình không thể nào tìm được thứ gì sánh với nó.
Chỉ cần ngồi lên tấm thảm, ngay hôm ấy chàng đã có thể tới chỗ hẹn. Nhưng vì phải chờ các em như đã giao hẹn, lại tò mò muốn gặp vua xứ Bít-na-ga và triều đình của ngài, muốn tìm hiểu binh lực, luật lệ, phong tục, tôn giáo của vương quốc ấy, chàng quyết ở lại lâu hơn, dành mấy tháng cho thoả trí tò mò.
Hoàng tử Hút-xanh lẽ ra còn ở lâu hơn nữa ở vương quốc và triều đình Bít-na-ga, nhưng chàng nóng lòng muốn được ở gần công chúa, nên trải tấm thảm ra, cùng viên quan theo hầu ngồi lên. Vừa ước xong, họ đã được đưa tới quán trọ nơi ba anh em hẹn gặp. Ở đó chàng làm như một nhà buôn, chờ các em về.
Hoàng tử A-li, em thứ hai của hoàng tử Hút-xanh, định đi sang Ba Tư. Ba ngày sau khi chia tay các anh em, chàng nhập vào một đoàn lữ hành, đi bốn ngày thì tới Si-ra, kinh đô vương quốc Ba Tư. Ở đây chàng làm như một người buôn đá quý.
Sáng hôm sau, hoàng tử A-li, vốn đi chỉ để du ngoạn, chẳng mang theo gì ngoài những thứ thật cần, mặc áo xong thì đi dạo ở khu chợ mà người Si-ra gọi là chợ trùm mái.
Giữa bao nhiêu người rao hàng qua lại mời bán đủ thứ hàng, chàng ngạc nhiên không ít khi thấy một người cầm trong tay một cái ống nhòm bằng ngà, dài chừng một gang tay, to bằng ngón tay cái, rao giá ba mươi túi tiền. Thoạt đầu chàng tưởng người ấy điên. Muốn biết rõ, chàng tới một cửa hiệu, hỏi người chủ đang đứng ở cửa:
— Ông ơi, có phải người kia điên không? Chàng chỉ người đang rao cái ống nhòm ngà giá ba mươi túi. Nếu không phải thì tôi lầm to rồi.
— Thưa ông, người chủ hiệu đáp, hôm qua ông ta vẫn còn tỉnh táo lắm. Tôi xin cam đoan ông ta là một trong những người rao hàng giỏi nhất ở đây, hễ có món gì quý cần bán là người ta nhờ ông ta nhiều nhất. Nếu ông ta rao cái ống nhòm ngà ba mươi túi thì hẳn nó đáng giá chừng ấy hoặc hơn, vì lẽ nào đó. Lát nữa ông ta đi qua, ta gọi lại, ông sẽ rõ. Trong lúc chờ, mời ông ngồi lên tràng kỷ của tôi mà nghỉ.
Hoàng tử A-li nhận lời mời ân cần của người chủ hiệu. Lát sau người rao hàng đi qua. Người chủ hiệu gọi tên ông ta, chỉ hoàng tử, nói:
— Ông nói cho vị này nghe đi, vị này vừa hỏi tôi ông có tỉnh không đấy. Sao ông lại rao cái ống nhòm ngà trông chẳng đáng bao nhiêu này những ba mươi túi? Nếu không biết ông thì chính tôi cũng kinh ngạc lắm.
Người rao hàng quay sang hoàng tử A-li:
— Thưa ông, ông không phải người duy nhất tưởng tôi điên vì cái ống nhòm này đâu. Khi tôi nói cho ông biết nó có phép gì, ông sẽ tự xét xem tôi có điên không. Tôi mong ông cũng sẽ định giá nó cao như những người tôi đã cho xem, những người lúc đầu cũng nghĩ xấu về tôi như ông. Trước hết, thưa ông, ông hãy để ý ống này có lắp kính ở hai đầu. Nhìn qua một đầu, ông muốn thấy vật gì sẽ thấy ngay vật ấy.
Ông vừa nói vừa đưa cái ống ngà cho hoàng tử.
— Nếu ông chứng minh được điều ông nói là thật, hoàng tử nói, tôi sẵn sàng tạ lỗi với ông bằng mọi cách vì đã nói xấu ông.
Cầm cái ống ngà trong tay, nhìn hai mặt kính xong, chàng nói:
— Ông chỉ cho tôi phải nhìn vào đầu nào để tôi được rõ.
Người rao hàng chỉ ngay. Chàng nhìn qua ống, ước được thấy vua cha. Lập tức chàng thấy ngài khoẻ mạnh, đang ngồi trên ngai giữa hội đồng triều chính. Rồi vì trên đời ngoài vua cha chẳng có gì quý với chàng bằng công chúa Nu-rôn-ni-ha, chàng ước được thấy nàng. Chàng thấy nàng đang ngồi trang điểm, cười đùa vui vẻ giữa các thị nữ.
Hoàng tử A-li chẳng cần chứng cớ nào khác để tin rằng cái ống nhòm này là vật quý nhất trên đời. Chàng tin rằng nếu không mua, chàng sẽ chẳng bao giờ gặp lại được món đồ lạ nào như thế. Chàng bèn dẫn người rao hàng về quán trọ, đếm tiền trả, nhận lấy cái ống nhòm.
Hoàng tử A-li mừng rỡ vì món hời, tự nhủ rằng hai anh em mình sẽ không thể tìm được thứ gì hiếm có, đáng phục như vậy, và công chúa Nu-rôn-ni-ha sẽ là phần thưởng cho bao mệt nhọc của mình. Giờ chàng chẳng nghĩ gì khác ngoài việc lén xem triều đình Ba Tư, xem hết những gì lạ ở Si-ra và quanh vùng, cho tới khi đoàn lữ hành chàng theo tới quay về Ấn Độ. Đoàn lữ hành vừa sẵn sàng lên đường, hoàng tử nhập đoàn, về tới chỗ hẹn bình yên, chẳng gặp tai nạn gì ngoài đường xa mỏi mệt. Chàng gặp hoàng tử Hút-xanh ở đó, cả hai cùng chờ hoàng tử A-mét.
Hoàng tử A-mét đi về phía Xa-mác-can. Tới nơi, hôm sau chàng cũng như các anh, đi vào khu chợ trùm mái. Đi chưa được bao lâu, chàng đã nghe một người rao hàng cầm trong tay một quả táo giả, rao giá ba mươi lăm túi tiền. Chàng giữ người rao hàng lại, bảo:
— Cho tôi xem quả táo ấy, nói cho tôi biết nó có phép lạ gì mà định giá cao thế.
— Thưa ông, người rao hàng đưa quả táo vào tay chàng, nói, nhìn bề ngoài thì quả táo này chẳng đáng gì. Nhưng nếu xét phép màu của nó, xét nó đem lại ích lợi lớn lao thế nào cho loài người, ông sẽ bảo chẳng giá nào xứng, ai có nó là làm chủ một kho báu lớn. Tóm lại, nó chữa khỏi cho mọi người bệnh dù mắc bệnh hiểm nghèo tới đâu. Người bệnh dù đang hấp hối, nó cũng làm cho tỉnh lại ngay, khoẻ mạnh hoàn toàn. Mà cách dùng lại dễ nhất trên đời, chỉ cần cho người bệnh ngửi quả táo.
— Nếu tin được lời ông, hoàng tử A-mét đáp, thì phép của quả táo này thật kỳ diệu, nó quý vô giá. Nhưng ông nói vậy, tôi lấy gì làm bằng để tin là thật?
— Thưa ông, người rao hàng đáp, chuyện này cả thành Xa-mác-can đều biết, đều xác nhận. Nhưng chẳng cần đi đâu xa, ông cứ hỏi tất cả những nhà buôn ông thấy quanh đây, nghe họ nói. Ông sẽ thấy nhiều người bảo nếu không nhờ phương thuốc tuyệt diệu này thì họ chẳng còn sống tới hôm nay. Để ông hiểu rõ hơn, tôi phải nói rằng đây là thành quả nghiên cứu, thử nghiệm của một nhà hiền triết nổi tiếng trong thành. Ông dành cả đời học hỏi về công dụng của cây cỏ, khoáng vật, cuối cùng chế ra được thứ này, nhờ nó ông đã chữa khỏi những ca bệnh lạ lùng mà thành này mãi mãi không quên. Nhưng chính ông lại đột ngột qua đời, chưa kịp dùng phương thuốc thần cho mình, để lại vợ và một đàn con nhỏ trong cảnh túng thiếu. Bà vợ muốn nuôi gia đình, lo cho các con, nên quyết bán nó đi.
Trong lúc người rao hàng kể cho hoàng tử A-mét nghe về phép lạ của quả táo giả, rất nhiều người kéo tới vây quanh, xác nhận lời ông nói. Một người trong bọn nói anh có một người bạn đang ốm nặng, người ta đã hết hy vọng cứu sống, đây là dịp tốt để hoàng tử A-mét xem thử. Hoàng tử A-mét bèn bảo người rao hàng chàng sẽ trả bốn mươi túi nếu chữa khỏi người bệnh.
Người rao hàng vốn được lệnh bán giá ấy, bảo hoàng tử A-mét:
— Nào, thưa ông, ta đi thử đi, rồi quả táo sẽ là của ông. Tôi xin cam đoan nó lúc nào cũng hiệu nghiệm như ý.
Tóm lại, cuộc thử thành công. Hoàng tử đếm cho người rao hàng bốn mươi túi, nhận quả táo, rồi kiên nhẫn chờ đoàn lữ hành đầu tiên quay về Ấn Độ. Chàng về tới quán trọ nơi hai hoàng tử Hút-xanh và A-li đang chờ, khoẻ mạnh bình an.
— Hết chương 1 —
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích
🏰 Cổ tích