Chương 1: Phần một. Những lá thư của hai con chó
Ngày 3 tháng Mười.
Hôm nay xảy ra một chuyện phi thường. Sáng tôi dậy khá muộn, và khi Ma-vra mang đôi ủng đã đánh sạch vào, tôi hỏi mấy giờ rồi. Nghe nói đồng hồ đã điểm mười giờ từ lâu, tôi vội mặc quần áo cho nhanh. Thú thật, tôi đã chẳng muốn tới bộ chút nào, vì biết trước ông trưởng phòng sẽ nhăn mặt chua chát thế nào. Ông ta bảo tôi từ lâu rồi: “Này anh bạn, sao trong đầu anh lúc nào cũng lộn xộn thế? Có khi anh cuống cuồng như người bị ngạt khói, công việc thì có khi làm rối tung tới mức quỷ Xa-tăng cũng chẳng gỡ ra nổi, tiêu đề thì viết chữ thường, ngày tháng số hiệu thì chẳng ghi.” Con cò khốn kiếp! Hẳn ông ta ghen tị vì tôi được ngồi trong phòng giám đốc chuốt bút lông ngỗng cho ngài. Tóm lại, tôi đã chẳng tới bộ, nếu không hy vọng gặp ông thủ quỹ, may ra xin ứng trước được chút lương của lão keo kiệt ấy. Lại thêm một sinh vật nữa! Lão ấy mà có bao giờ ứng tiền trước một tháng, thì lạy Chúa, Ngày Phán xét còn tới sớm hơn. Xin đi, có vỡ ngực ra mà xin, có túng thiếu tới đâu đi nữa, lão cũng chẳng ứng, con quỷ già tóc bạc. Thế mà ở nhà, chính bà nấu bếp của lão tát vào má lão. Cả thiên hạ biết chuyện ấy.
Tôi chẳng hiểu làm ở bộ thì có lợi lộc gì. Chẳng có chút bổng lộc nào sất. Còn ở toà hành chính tỉnh, ở các phòng dân sự, phòng ngân khố thì khác hẳn: ở đó, nhìn đi, có người ngồi thu lu trong góc mà viết lách. Cái áo đuôi tôm trên người thì tồi tàn, cái mặt thì khiến người ta muốn nhổ, mà nhìn xem ông ta thuê biệt thự thế nào! Đừng mang tới ông ta cái tách sứ thếp vàng: “Cái này, ông ta bảo, là quà của bác sĩ.” Mà phải đưa ông ta cặp ngựa phi nước kiệu, hay cỗ xe ngựa, hay tấm lông hải ly giá ba trăm rúp. Trông bề ngoài hiền khô, nói năng tế nhị lắm: “Cho tôi mượn con dao nhỏ chuốt cái bút”, rồi ở đó ông ta bóc lột tới mức người đi xin việc chỉ còn lại cái áo sơ mi. Đúng là chỗ chúng tôi bù lại, công việc cao quý, cái gì cũng sạch sẽ, sạch tới mức toà hành chính tỉnh muôn đời chẳng thấy được: bàn gỗ gụ, các ông chủ đều xưng hô kiểu cách. Phải, thú thật, giá không vì công việc cao quý, tôi đã bỏ bộ từ lâu rồi.
Tôi mặc cái áo khoác cũ, cầm ô, vì trời mưa như trút. Ngoài phố chẳng có ai. Chỉ thấy mấy bà trùm vạt áo lên đầu, mấy nhà buôn Nga che ô, mấy người đưa thư. Trong giới quý phái thì chỉ gặp mỗi một anh bạn viên chức như tôi. Tôi thấy anh ta ở ngã tư. Vừa thấy anh ta, tôi lập tức tự nhủ: “Ê, không đâu anh bạn, anh chẳng phải đang tới bộ đâu, anh đang vội theo cô kia đang đi phía trước mà nhìn đôi chân nhỏ của cô ấy.” Bọn viên chức chúng tôi đúng là cái giống ghê gớm! Thề có Chúa, chẳng kém sĩ quan nào: cô nào đội mũ đi qua là nhất định phải ghẹo.
Đang nghĩ thế thì tôi thấy một cỗ xe ngựa dừng trước cửa hàng tôi đang đi ngang qua. Tôi nhận ra ngay: đó là xe của ngài giám đốc của chúng tôi. “Nhưng ngài chẳng có việc gì ở cửa hàng”, tôi nghĩ, “chắc đây là cô con gái ngài.” Tôi nép sát vào tường. Người hầu mở cửa xe, và cô bước ra như một con chim nhỏ. Cô nhìn sang phải, sang trái thế nào, đôi lông mày đôi mắt cô loé lên thế nào… Lạy Chúa! Tôi tiêu rồi, tiêu hẳn rồi. Mà sao cô lại ra ngoài vào lúc mưa gió thế này. Giờ thì cứ khẳng định đi, rằng đàn bà chẳng mê lắm mấy thứ giẻ rách ấy. Cô không nhận ra tôi, mà chính tôi cũng cố tình trùm kín người hết mức, vì tôi mặc cái áo khoác rất bẩn, lại kiểu cũ. Bây giờ người ta mặc áo choàng cổ dài, còn áo tôi thì cổ ngắn, cái nọ chồng cái kia, mà dạ thì chưa hấp.
Con chó nhỏ của cô không kịp nhảy vào cửa hàng, ở lại ngoài phố. Tôi biết con chó ấy. Tên nó là Mét-gi. Tôi đứng chưa được một phút thì bỗng nghe một giọng the thé: “Chào Mét-gi!” Lạ chưa! Ai nói thế? Tôi nhìn quanh, thấy hai bà đi dưới ô: một bà già, một cô còn trẻ. Nhưng họ đã đi qua, thế mà bên cạnh tôi lại vang lên: “Mày có tội đấy, Mét-gi!” Quỷ thật! Tôi thấy Mét-gi đang khụt khịt ngửi một con chó nhỏ đi theo hai bà kia. “Ê!” tôi tự nhủ. “Thôi nào, có phải mình say không? Chỉ có điều chuyện ấy hình như ít khi xảy ra với mình.” “Không, Phi-đen, mày nghĩ sai rồi”, chính mắt tôi thấy Mét-gi nói, “tao đã, gâu! gâu! tao đã, gâu, gâu, gâu! ốm nặng lắm.” Chà, cái con chó nhỏ này! Thú thật, tôi ngạc nhiên lắm khi nghe nó nói tiếng người. Nhưng về sau, khi nghĩ kỹ mọi chuyện, tôi thôi ngạc nhiên ngay. Quả thật, trên đời đã có vô số trường hợp tương tự. Người ta bảo ở nước Anh có một con cá nổi lên nói hai chữ bằng một thứ tiếng lạ tới mức các nhà bác học đã ba năm nay cố xác định mà tới giờ vẫn chưa khám phá ra điều gì. Tôi cũng đọc trên báo chuyện hai con bò vào hiệu xin mua một cân chè. Nhưng thú thật, tôi còn ngạc nhiên hơn nhiều khi Mét-gi nói: “Tao đã viết thư cho mày, Phi-đen. Chắc thằng Pôn-can không mang thư của tao tới!” Cho tôi mất lương đi! Cả đời tôi chưa từng nghe chuyện chó biết viết. Viết cho đúng thì chỉ có người quý tộc. Tất nhiên có vài anh con buôn, anh thư ký văn phòng, thậm chí cả nông nô cũng có khi viết lách, nhưng viết của họ phần nhiều là máy móc: chẳng phẩy, chẳng chấm, chẳng văn phong gì.
Điều ấy làm tôi ngạc nhiên. Thú thật, dạo gần đây tôi bắt đầu đôi khi nghe thấy, nhìn thấy những điều chưa ai từng thấy, từng nghe. “Mình đi theo con chó nhỏ này”, tôi tự nhủ, “để biết nó là gì, nó nghĩ những gì.”
Tôi giương ô, đi theo hai bà. Họ đi qua phố Gô-rô-khô-va, rẽ sang phố Mê-ssan-xcai-a, từ đó sang phố Xtô-li-ar-nai-a, cuối cùng tới cầu Cô-cút-kin, dừng trước một toà nhà lớn. “Toà nhà này mình biết”, tôi tự nhủ. “Đây là nhà Dvéc-cốp.” Cái máy khổng lồ! Ai mà chẳng ở trong đó: bao nhiêu bà nấu bếp, bao nhiêu khách tới trọ! Còn bọn viên chức chúng tôi thì như chó, đứa nọ ngồi lên đứa kia. Ở đó tôi cũng có một ông bạn thổi kèn đồng giỏi. Hai bà leo lên tầng năm. “Được”, tôi nghĩ, “giờ thì không đi đã, nhưng nhớ chỗ này, có dịp đầu tiên là không bỏ lỡ.”
Ngày 4 tháng Mười.
Hôm nay thứ tư, nên tôi ngồi trong phòng làm việc của ngài giám đốc. Tôi cố tình tới sớm, ngồi chuốt lại toàn bộ bút. Ngài giám đốc của chúng tôi hẳn phải là người rất thông minh. Cả phòng làm việc của ngài kê đầy tủ sách. Tôi đọc tên vài cuốn: toàn học thức, học thức tới mức bọn như chúng tôi chẳng có cửa nào mà với tới: toàn tiếng Pháp hay tiếng Đức. Còn nhìn mặt ngài: phù, trong mắt sáng lên vẻ quan trọng biết bao! Tôi chưa bao giờ nghe ngài nói một lời thừa. Chỉ khi đưa giấy tờ, ngài mới hỏi: “Ngoài trời thế nào?” “Ẩm lắm, thưa ngài!” Phải, bọn như chúng tôi đâu sánh được! Một con người của nhà nước. Tuy vậy tôi để ý thấy ngài đặc biệt quý tôi. Giá mà cô con gái cũng… chà, quỷ thật!… Không sao, không sao, im lặng!
Tôi đọc tờ “Con Ong Nhỏ”. Cái giống người Pháp ngốc thật! Họ muốn gì chứ? Thề có Chúa, tôi mà được thì bắt hết bọn họ ra quất roi! Ở đó còn đọc một bài tả buổi khiêu vũ rất dễ thương, do một ông địa chủ ở Cuốc-xcơ viết. Địa chủ Cuốc-xcơ viết hay lắm. Sau đó tôi để ý đồng hồ đã điểm mười hai giờ rưỡi, mà ngài của chúng tôi vẫn chưa ra khỏi phòng ngủ. Nhưng khoảng một giờ rưỡi thì xảy ra một chuyện mà ngòi bút nào cũng không tả nổi. Cửa mở, tôi tưởng ngài giám đốc, liền cầm giấy tờ bật dậy khỏi ghế. Nhưng đó là cô, chính cô! Các thánh ơi, cô ăn mặc mới thế nào! Chiếc váy trắng như thiên nga: phù, lộng lẫy biết bao! Còn cô nhìn một cái: mặt trời, thề có Chúa, mặt trời! Cô cúi chào mà nói: “Bố tôi không ở đây à?” Ối, ối, ối! Giọng gì thế này! Chim hoàng yến, thật đấy, chim hoàng yến! “Thưa tiểu thư”, tôi đã định nói, “xin đừng ra lệnh xử tội con, mà nếu đã muốn xử tội, thì xin xử bằng chính bàn tay nhỏ bé nhà tướng của tiểu thư.” Nhưng quỷ thật, lưỡi chẳng chịu xoay, và tôi chỉ nói: “Thưa không ạ.”
Cô nhìn tôi, nhìn những cuốn sách, rồi đánh rơi chiếc khăn tay. Tôi lao tới hết sức, trượt chân trên cái sàn gỗ khốn kiếp, suýt nữa thì vỡ mũi, nhưng giữ được, nhặt được chiếc khăn. Các thánh ơi, chiếc khăn gì thế này! Mỏng nhất, vải lanh mịn nhất, hương long diên hương, đúng là long diên hương! Toả ra toàn hơi hướng nhà tướng. Cô cảm ơn, khẽ mỉm cười tới mức đôi môi ngọt như đường gần như không động đậy, rồi đi.
Tôi ngồi thêm một giờ nữa, thì bỗng người hầu tới bảo: “Ông Ác-xen-ti I-va-nô-vích về nhà đi, ông chủ đã ra khỏi nhà rồi.” Tôi không chịu nổi giới hầu hạ: lúc nào cũng nằm ườn ở gian ngoài, đến gật đầu cũng chẳng buồn. Chưa hết: có lần một trong mấy đứa ranh ấy còn ngồi nguyên chỗ mà mời tôi thuốc lá hít. Mày có biết không, thằng đầy tớ ngu, rằng ta là viên chức, ta có dòng dõi quý tộc. Tuy vậy tôi cầm mũ, tự khoác áo khoác lên người, vì các ông ấy chẳng bao giờ đưa cho, rồi đi ra.
Ở nhà tôi phần nhiều nằm trên giường. Rồi chép mấy câu thơ rất hay: “Chẳng thấy người yêu một giờ, Tưởng đã cả năm xa cách; Chán ghét cả đời mình, Sống sao nổi, tôi nói thế.” Chắc là thơ của Pu-skin. Tối đến, trùm áo khoác, tôi tới cổng nhà ngài, chờ mãi, xem cô có ra lên xe không, để nhìn thêm một lần nữa, nhưng không, cô chẳng ra.
Ngày 6 tháng Mười Một.
Ông trưởng phòng làm tôi điên tiết. Khi tôi tới bộ, ông ta gọi tôi lại mà nói thế này: “Nào, nói tôi nghe, anh đang làm gì thế?” “Làm gì là sao? Tôi chẳng làm gì cả”, tôi đáp. “Này, nghĩ cho kỹ đi! Anh đã ngoài bốn mươi rồi, đã đến lúc phải khôn ra. Anh tưởng tượng ra cái gì thế? Anh tưởng tôi không biết những trò của anh à? Anh đang tán tỉnh con gái ngài giám đốc! Nhìn lại mình đi, nghĩ xem anh là cái gì? Anh là con số không, chẳng hơn gì cả. Anh chẳng có lấy một xu dính túi. Nhìn vào gương mà xem mặt mình đi, sao lại dám nghĩ tới chuyện ấy!” Quỷ thật, mặt ông ta trông như cái lọ của hiệu thuốc, trên đầu có một túm tóc uốn thành chỏm, lại còn ngẩng nó lên, lại còn bôi một thứ sáp thơm gì đó, thế mà đã nghĩ chỉ mình ông ta mới được làm mọi thứ. Tôi hiểu, tôi hiểu sao ông ta giận tôi. Ông ta ghen. Có lẽ ông ta đã thấy những dấu hiệu ưu ái dành riêng cho tôi. Mà tôi nhổ vào ông ta! Quan trọng quá nhỉ, cái chức cố vấn triều đình! Treo sợi dây chuyền vàng vào đồng hồ, đặt đóng ủng ba chục rúp một đôi, quỷ bắt ông ta đi! Chẳng lẽ tôi là con nhà thường dân, con thợ may hay con hạ sĩ quan sao? Tôi là quý tộc. Thì tôi cũng có thể thăng tiến chứ. Tôi mới bốn mươi hai tuổi, cái tuổi mà nói cho đúng, sự nghiệp công vụ mới bắt đầu. Đợi đấy, anh bạn! Rồi chúng tôi cũng thành đại tá, mà có khi, nếu Chúa cho, còn hơn thế nữa. Rồi chúng tôi cũng gây được tiếng tăm, còn hơn cả anh. Sao anh lại nhét vào đầu rằng ngoài anh ra chẳng còn ai là người đứng đắn? Cho tôi một chiếc áo đuôi tôm may hợp thời trang ở hiệu Ru-sơ, cho tôi thắt một cái cà vạt như anh, thì anh chẳng đáng xách dép cho tôi. Không có của, thế mới khổ.
Ngày 8 tháng Mười Một.
Đi xem hát. Diễn vở anh khờ người Nga Phi-lát-ca. Cười nhiều lắm. Còn có một vở hài kịch ca vũ với mấy câu thơ buồn cười chế giễu bọn thầy kiện, nhất là một viên lục sự, viết bạo tới mức tôi lấy làm lạ sao kiểm duyệt lại cho qua, còn về con buôn thì người ta nói thẳng là chúng lừa dân, con trai chúng ăn chơi trác táng mà chen vào hàng quý tộc. Về nhà báo cũng có một đoạn hát rất buồn cười: rằng họ thích chửi mọi thứ, và tác giả xin công chúng bảo vệ. Bây giờ các nhà văn viết những vở rất buồn cười. Tôi thích đi xem hát. Hễ có một xu trong túi là chẳng nhịn được mà không đi. Thế mà trong bọn viên chức chúng tôi có những con lợn như thế: nhất định không đi xem hát, đồ nhà quê, trừ khi được cho vé không mất tiền. Có một nữ diễn viên hát rất hay. Tôi nhớ tới cô ấy… chà, quỷ thật!… không sao, không sao… im lặng.
Ngày 9 tháng Mười Một.
Tám giờ tôi tới bộ. Ông trưởng phòng làm như không để ý thấy tôi tới. Về phần mình, tôi cũng làm như giữa chúng tôi chẳng có chuyện gì. Xem lại, đối chiếu giấy tờ. Bốn giờ về. Đi ngang qua nhà ngài giám đốc, nhưng chẳng thấy ai. Sau bữa trưa phần nhiều nằm trên giường.
Ngày 11 tháng Mười Một.
Hôm nay ngồi trong phòng làm việc của ngài giám đốc, chuốt cho ngài hai mươi ba cây bút, và cho cô, ối! ối!… cho tiểu thư bốn cây bút. Ngài rất thích có thật nhiều bút cắm sẵn. Ồ! Hẳn phải là một bộ óc! Lúc nào cũng im lặng, mà trong đầu, tôi nghĩ, đang suy xét mọi thứ. Tôi muốn biết ngài nghĩ gì nhiều nhất, trong cái đầu ấy đang mưu tính điều gì. Tôi muốn xem gần hơn cuộc sống của những ông lớn ấy, những lời nói ỡm ờ và những mánh khoé cung đình, họ thế nào, họ làm gì trong giới của họ, đấy là điều tôi muốn biết! Mấy lần tôi định bắt chuyện với ngài, nhưng quỷ thật, lưỡi chẳng chịu nghe lời: chỉ nói được ngoài trời lạnh hay nóng, ngoài ra hoàn toàn chẳng nói được gì. Tôi muốn ngó vào phòng khách, nơi đôi khi chỉ thấy cánh cửa mở, sau phòng khách còn một phòng nữa. Chà, bày biện giàu sang làm sao! Gương với đồ sứ thế nào! Tôi muốn ngó vào đó, vào nửa nhà của tiểu thư, đấy là nơi tôi muốn tới! Vào phòng trang điểm: những cái lọ, cái chai đặt ở đó thế nào, những bông hoa mà thở vào cũng sợ, chiếc váy của cô nằm vương vãi ở đó, giống không khí hơn là váy. Tôi muốn ngó vào phòng ngủ… ở đó hẳn là kỳ diệu, ở đó hẳn là thiên đường, thứ thiên đường trên trời cũng không có. Muốn được nhìn cái ghế đẩu nhỏ mà cô đặt bàn chân lên khi rời giường, chiếc tất trắng như tuyết được mang vào bàn chân ấy thế nào… ối! ối! ối! không sao, không sao… im lặng.
Thế nhưng hôm nay tôi như được ánh sáng soi rọi: tôi nhớ ra cuộc trò chuyện của hai con chó nhỏ mà tôi đã nghe trên đại lộ Nép-xki. “Được”, tôi nghĩ bụng, “giờ thì mình sẽ biết hết. Phải chiếm lấy những lá thư mà hai con chó khốn kiếp ấy viết cho nhau. Trong đó hẳn mình sẽ biết được đôi điều.” Thú thật, có lần tôi đã gọi Mét-gi lại mà bảo: “Nghe này, Mét-gi, giờ chỉ có mày với tao. Mày muốn thì tao khoá cửa lại, để chẳng ai thấy. Mày kể hết cho tao những gì mày biết về cô tiểu thư đi, cô ấy là người thế nào, ra sao? Tao thề với mày là chẳng tiết lộ với ai.” Nhưng con chó ranh mãnh cụp đuôi, co người lại còn một nửa, lặng lẽ đi ra cửa như chẳng nghe thấy gì. Tôi đã ngờ từ lâu rằng chó khôn hơn người nhiều. Tôi thậm chí tin chắc rằng nó biết nói, chỉ có điều trong nó có một sự bướng bỉnh nào đó. Nó là một nhà chính trị phi thường: để ý mọi thứ, mọi bước đi của con người. Không, bằng mọi giá, ngay mai tôi sẽ tới nhà Dvéc-cốp, tra hỏi Phi-đen, và nếu được, chặn lấy hết những lá thư Mét-gi đã viết cho nó.
Ngày 12 tháng Mười Một.
Hai giờ chiều tôi đi với ý định nhất định phải gặp Phi-đen mà tra hỏi nó. Tôi không chịu nổi mùi bắp cải bốc ra từ mọi tiệm tạp hoá ở phố Mê-ssan-xcai-a. Lại thêm từ dưới cổng mỗi nhà xông ra một thứ địa ngục tới mức tôi phải bịt mũi chạy hết tốc lực. Mà bọn thợ thủ công hèn hạ lại còn thải từ xưởng của chúng ra bao nhiêu là bồ hóng với khói, tới mức người quý phái hoàn toàn không thể dạo chơi ở đây.
Khi tôi lên tới tầng sáu, bấm chuông, thì một cô gái ra mở cửa, không đến nỗi xấu, có mấy vết tàn nhang nhỏ. Tôi nhận ra cô. Chính cô gái đã đi cùng bà già. Cô hơi đỏ mặt, và tôi lập tức hiểu ngay: cô bé ơi, cô muốn có chồng đây. “Ông cần gì ạ?” cô nói. “Tôi cần nói chuyện với con chó nhỏ của cô.” Cô gái ngốc! Tôi biết ngay là ngốc! Con chó lúc ấy chạy ra sủa. Tôi định tóm lấy nó, nhưng cái đồ đáng ghét suýt nữa đớp vào mũi tôi. Tuy vậy, tôi thấy cái ổ của nó trong góc. Ê, đấy chính là thứ tôi cần! Tôi tới gần, lục tung rơm trong cái hộp gỗ, và trong niềm vui khôn tả, lôi ra được một bó nhỏ những tờ giấy nhỏ xíu. Con chó xấu xa thấy thế, đầu tiên cắn vào bắp chân tôi, rồi khi đánh hơi thấy tôi đã lấy giấy, nó bắt đầu rít lên và nịnh nọt, nhưng tôi nói: “Không, cưng ạ, chào nhé!” rồi bỏ chạy. Tôi nghĩ cô gái đã tưởng tôi là người điên, vì cô hoảng sợ ghê lắm.
Về tới nhà, tôi định bắt tay ngay vào việc giải mã những lá thư, vì dưới ánh nến mắt tôi nhìn hơi kém. Nhưng Ma-vra lại nghĩ ra trò lau sàn. Mấy chị người Phần ngốc nghếch ấy bao giờ cũng sạch sẽ không đúng lúc. Vì thế tôi đi dạo, suy ngẫm sự việc này. Giờ thì cuối cùng tôi sẽ biết hết mọi việc, mọi suy tính, mọi lò xo bên trong, và cuối cùng sẽ tìm ra tới tận cùng mọi chuyện. Những lá thư này sẽ mở ra cho tôi tất cả. Chó là giống khôn, chúng biết mọi quan hệ chính trị, vì thế trong đó hẳn sẽ có tất cả: chân dung và mọi việc của con người ấy. Trong đó sẽ có cả điều gì đó về người mà… không sao, im lặng! Tới tối tôi về nhà. Phần nhiều nằm trên giường.
Ngày 13 tháng Mười Một.
Nào, xem nào: lá thư khá rõ chữ. Tuy vậy trong nét chữ vẫn có cái gì như của chó. Đọc thử:
“Phi-đen thân mến, tớ vẫn chẳng sao quen được cái tên thị dân của cậu. Cứ như không đặt được cho cậu cái tên nào hay hơn ấy? Phi-đen, Rô-da, giọng mới tầm thường làm sao! Nhưng gác chuyện ấy sang bên. Tớ rất vui vì chúng mình nghĩ ra viết thư cho nhau.”
Thư viết rất đúng phép. Dấu câu, thậm chí cả những chữ cái khó, đâu đâu cũng đúng chỗ. Đến ông trưởng phòng của chúng tôi cũng chẳng viết được như thế, dẫu ông ta cứ khoe là từng học ở trường đại học nào đó. Xem tiếp:
“Tớ thấy hình như chia sẻ ý nghĩ, tình cảm và ấn tượng với người khác là một trong những hạnh phúc đầu tiên trên đời.”
Hừm! Ý này lấy từ một tác phẩm dịch từ tiếng Đức. Tên thì tôi chẳng nhớ.
“Tớ nói thế là theo kinh nghiệm, dù tớ chưa từng chạy khắp thế gian xa hơn cổng nhà mình. Đời tớ chẳng trôi trong sung sướng hay sao? Cô tiểu thư của tớ, người mà bố gọi là Xô-phi, yêu tớ quên cả trời đất.”
Ối, ối!… không sao, không sao. Im lặng!
“Bố cũng hay vuốt ve tớ lắm. Tớ uống trà và cà phê với kem. Ôi bạn thân mến, tớ phải nói với cậu là tớ chẳng thấy chút thú vị nào trong những khúc xương to bị gặm trơ mà thằng Pôn-can nhà tớ ngốn ở bếp. Xương chỉ ngon khi là xương chim thú săn, mà phải lúc chưa ai hút tuỷ. Trộn vài thứ nước sốt với nhau thì rất ngon, nhưng đừng có nụ bạch hoa và rau thơm. Còn tớ chẳng biết có gì tệ hơn cái thói cho chó ăn những viên bánh mì vo tròn. Một ông nào đó ngồi bên bàn, tay đã cầm đủ thứ bẩn thỉu, bắt đầu lấy chính bàn tay ấy vo bánh mì, gọi cậu lại rồi dúi viên bánh vào răng cậu. Từ chối thì có vẻ bất lịch sự, thế là cứ ăn, ghê tởm mà vẫn ăn…”
Quỷ biết là cái gì thế này! Toàn chuyện nhảm! Cứ như chẳng có đề tài nào hay hơn để viết. Xem trang khác. Có gì đáng kể hơn không.
“Tớ rất sẵn lòng báo cho cậu biết mọi chuyện xảy ra ở nhà tớ. Tớ đã kể với cậu chút ít về ông chủ chính mà Xô-phi gọi là bố. Đó là một người rất lạ.”
A! Cuối cùng cũng tới! Phải, tôi biết mà: chúng có cái nhìn chính trị về mọi vấn đề. Xem bố thế nào:
“…một người rất lạ. Ông phần nhiều im lặng. Rất ít khi nói. Nhưng một tuần trước ông cứ nói một mình không ngớt: ‘Có được hay không được?’ Ông cầm tờ giấy trong một tay, tay kia nắm lại trống rỗng mà nói: ‘Có được hay không được?’ Có lần ông còn quay sang hỏi cả tớ: ‘Mày nghĩ sao, Mét-gi, có được hay không được?’ Tớ chẳng hiểu gì cả, ngửi ngửi chiếc ủng của ông rồi bỏ đi. Rồi bạn thân mến ạ, một tuần sau bố về nhà vui mừng lắm. Suốt buổi sáng các ông mặc quân phục tới chỗ bố, chúc mừng cái gì đó. Lúc ăn, bố vui chưa từng thấy, kể chuyện cười, còn sau bữa ăn thì nhấc tớ lên cổ mà bảo: ‘Này, nhìn xem Mét-gi, cái gì đây.’ Tớ thấy một dải ruy băng nhỏ. Tớ ngửi, nhưng hoàn toàn chẳng thấy mùi thơm gì. Cuối cùng tớ khẽ liếm: hơi mằn mặn.”
Hừm! Con chó nhỏ này, tôi thấy, đã quá lắm rồi… phải quất cho nó một trận! A! Vậy ra ông ấy là người háo danh! Phải ghi nhận điều này.
“Chào nhé bạn thân mến, tớ chạy đây, vân vân… vân vân… Mai tớ viết nốt. Chào cậu! Tớ lại ở với cậu đây. Hôm nay cô tiểu thư Xô-phi của tớ…”
A! Nào, xem Xô-phi thế nào. Chà, quỷ thật!… Không sao, không sao… đọc tiếp.
“…cô tiểu thư Xô-phi của tớ hết sức nhốn nháo. Cô sửa soạn đi dự dạ hội, còn tớ thì mừng là cô vắng nhà thì tớ được viết cho cậu. Xô-phi của tớ lúc nào cũng vui sướng vô cùng khi đi dạ hội, dẫu lúc mặc quần áo gần như lúc nào cũng cáu. Tớ chẳng sao hiểu nổi, bạn thân mến, đi dạ hội có gì mà thích. Xô-phi đi dạ hội về nhà lúc sáu giờ sáng, và nhìn vẻ mặt tái nhợt gầy gò của cô, tớ gần như lúc nào cũng đoán được ở đó người ta chẳng cho cô tội nghiệp ăn gì. Thú thật, tớ chẳng bao giờ sống được như thế. Nếu người ta không cho tớ nước sốt gà gô hay món cánh gà quay, thì… tớ chẳng biết sẽ ra sao. Nước sốt với cháo cũng ngon. Còn cà rốt, củ cải hay a-ti-sô thì chẳng bao giờ ngon được…”
Văn phong thất thường vô cùng. Thấy ngay chẳng phải người viết. Bắt đầu đúng như phải thế, rồi kết thúc bằng giọng chó. Xem thêm một lá thư nữa. Hơi dài thì phải. Hừm! Lại chẳng ghi ngày.
“Ôi bạn thân mến! Sự tới gần của mùa xuân mới rõ rệt làm sao. Tim tớ đập, như đang chờ điều gì đó. Tai tớ lúc nào cũng ù ù, đến nỗi tớ hay giơ một chân lên, đứng mấy phút liền nghe ngóng ở cửa. Tớ thổ lộ với cậu là tớ có nhiều chàng theo đuổi lắm. Tớ hay ngồi trên bậu cửa sổ mà ngắm họ. Ôi, giá cậu biết trong số họ có những đứa xấu xí thế nào. Có đứa vụng về hết sức, giống chó ta, ngốc khủng khiếp, sự ngốc nghếch viết rõ trên mặt, vênh vang đi ngoài phố mà tưởng mình là nhân vật danh giá lắm, nghĩ ai cũng phải ngắm hắn. Chẳng hề. Tớ còn chẳng thèm để ý, như chẳng thấy hắn. Còn có một con chó ngao đáng sợ cứ dừng trước cửa sổ nhà tớ! Giá nó đứng lên hai chân sau, mà chắc cái đồ thô lỗ ấy chẳng biết đứng, thì nó cao hơn cả cái đầu bố của Xô-phi của tớ, mà bố cũng khá cao lớn, lại béo. Thằng ngốc ấy hẳn phải trơ tráo khủng khiếp. Tớ gầm gừ với nó, nhưng nó chẳng thèm bận tâm. Đến nhăn mặt cũng không! Thè lưỡi ra, rủ đôi tai to tướng mà nhìn vào cửa sổ, đúng là đồ nhà quê! Nhưng chẳng lẽ cậu nghĩ, bạn thân mến, rằng tim tớ dửng dưng trước mọi lời tán tỉnh, ôi không… Giá cậu thấy một chàng kỵ sĩ đang trèo qua hàng rào nhà bên cạnh, tên là Trê-do. Ôi bạn thân mến, cái mõm của chàng mới đáng yêu làm sao!”
Phì, quỷ tha ma bắt!… Rác rưởi gì thế này!… Sao lại có thể nhồi vào thư những chuyện ngớ ngẩn ấy. Cho tôi con người! Tôi muốn thấy con người. Tôi đòi thứ thức ăn có thể nuôi dưỡng và làm vui tâm hồn tôi, thế mà thay vào đó là những chuyện vớ vẩn này… lật qua một trang xem có khá hơn không:
“…Xô-phi ngồi bên chiếc bàn nhỏ khâu cái gì đó. Tớ nhìn ra cửa sổ, vì tớ thích ngắm người qua đường. Bỗng người hầu vào nói: ‘Ông Tê-plốp.’ ‘Mời vào!’ Xô-phi kêu lên, rồi lao tới ôm tớ… ‘Ôi Mét-gi, Mét-gi! Giá mày biết người ấy là ai: tóc nâu, thị thần, mà đôi mắt thế nào! Đen và sáng như lửa!’ Rồi Xô-phi chạy về phòng mình. Một phút sau, một chàng thị thần trẻ có bộ tóc mai đen bước vào, tới bên gương sửa tóc, rồi nhìn quanh phòng. Tớ gầm gừ rồi ngồi vào chỗ mình. Xô-phi chẳng mấy chốc đi ra, vui vẻ cúi chào đáp lại cái kéo chân chào của anh ta. Còn tớ thì cứ như chẳng để ý gì, tiếp tục nhìn ra cửa sổ, nhưng hơi nghiêng đầu sang một bên, cố nghe xem họ nói gì. Ôi bạn thân mến, họ nói những chuyện vớ vẩn làm sao. Họ nói chuyện một bà nào đó khi khiêu vũ đã làm một động tác này thay cho động tác khác. Chuyện một ông Bô-bốp nào đó với cái cổ áo xếp nếp trông giống con cò, suýt ngã. Chuyện một cô Li-đi-na nào đó tưởng mình có mắt xanh trong khi mắt cô ta màu lục, đại loại thế. ‘Sao mà so được’, tớ nghĩ bụng, ‘chàng thị thần với chàng Trê-do!’ Trời ơi! Khác nhau biết bao! Trước hết, chàng thị thần có khuôn mặt rộng phẳng lì, xung quanh là tóc mai như buộc khăn đen. Còn Trê-do thì có cái mõm thon, ngay giữa trán có một vết trắng. Vóc dáng Trê-do thì chẳng thể so với vóc dáng chàng thị thần. Còn đôi mắt, cử chỉ, phong thái thì hoàn toàn khác. Ôi, khác nhau biết bao! Tớ chẳng biết, bạn thân mến, cô ấy thấy gì ở cái anh Tê-plốp của cô ấy. Sao cô ấy lại mê anh ta đến thế?…”
Chính tôi cũng thấy hình như ở đây có điều gì không ổn. Không thể nào một chàng thị thần lại làm cô mê mẩn đến thế. Xem tiếp:
“Tớ thấy hình như nếu cô ấy thích chàng thị thần này, thì chẳng mấy chốc cô ấy cũng sẽ thích cả cái ông viên chức ngồi trong phòng làm việc của bố. Ôi bạn thân mến, giá cậu biết ông ta xấu xí thế nào. Đúng là con rùa trong bao tải…”
Viên chức nào thế nhỉ?…
“Họ của ông ta lạ lắm. Ông ta lúc nào cũng ngồi chuốt bút. Tóc trên đầu ông ta giống cỏ khô lắm. Bố lúc nào cũng sai ông ta đi thay cho người hầu.”
Tôi thấy hình như con chó nhỏ khốn kiếp này nhắm vào tôi. Tóc tôi chỗ nào mà như cỏ khô?
“Xô-phi chẳng sao nhịn được cười mỗi khi nhìn ông ta.”
Mày nói láo, con chó khốn kiếp! Cái lưỡi độc địa! Cứ như tôi không biết đây là chuyện ghen tị. Cứ như tôi không biết đây là trò của ai. Đây là trò của ông trưởng phòng. Con người ấy đã thề căm ghét không đội trời chung, thế là cứ hại, cứ hại, mỗi bước đi đều hại. Tuy vậy, xem thêm một lá thư nữa. Có khi trong đó mọi chuyện sẽ tự sáng tỏ.
“Phi-đen thân mến, cậu bỏ qua cho tớ đã lâu không viết nhé. Tớ đã hoàn toàn mê say. Thật đúng như nhà văn nào đó đã nói, tình yêu là cuộc đời thứ hai. Vả lại ở nhà tớ giờ đang có những thay đổi lớn. Chàng thị thần giờ ngày nào cũng tới. Xô-phi yêu anh ta tới phát điên. Bố rất vui. Tớ còn nghe thằng Gri-gô-ri nhà tớ, đứa quét sàn và gần như lúc nào cũng nói chuyện một mình, bảo rằng sắp có đám cưới, vì bố nhất định muốn thấy Xô-phi lấy hoặc một ông tướng, hoặc một chàng thị thần, hoặc một ông đại tá…”
Quỷ thật! Tôi không đọc tiếp được nữa… Lúc nào cũng thị thần với tướng. Mọi thứ tốt đẹp nhất trên đời đều rơi vào tay thị thần hay tướng. Tìm được cho mình chút của báu nghèo nàn, tưởng đã với tay tới được, thì thị thần hay tướng giật mất của mình. Quỷ tha ma bắt! Tôi muốn chính mình thành tướng: không phải để được cưới cô ấy hay gì khác, không, tôi muốn làm tướng chỉ để được thấy họ uốn éo trước mình, giở đủ mọi trò cung đình, nói ỡm ờ thế nào, rồi sau đó bảo họ rằng tôi nhổ vào cả hai người. Quỷ tha ma bắt. Tức thật! Tôi xé vụn những lá thư của con chó ngốc.
— Hết chương 1 —
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn
✍️ Truyện ngắn